Trưởng thành và trách nhiệm
05/12/2014
Học sinh tới trường để được giáo dục. Điều đó có nghĩa là họ phải nhận vai trò tích cực của mình bằng việc hiểu rằng họ chịu trách nhiệm cho thành công của họ. Họ phải chọn lựa và có hành động thích hợp giúp cho họ đạt tới các mục đích giáo dục của họ. Tuy nhiên trách nhiệm yêu cầu mức độ trưởng thành nào đó nhưng một số học sinh có thể không đủ trưởng thành để vào đại học.
Ở nhiều nước phương tây, học sinh được dạy có trách nhiệm cho hành động riêng của họ từ rất sớm; họ hiểu rằng đại học là thời gian chuyển tiếp giữa phụ thuộc vào gia đình và là riêng bản thân họ. Tuy nhiên đó không phải là hoàn cảnh ở châu Á nơi nhiều học sinh vẫn dựa vào sự hỗ trợ của gia đình, ngay cả sau khi họ đã hoàn thành đại học và một số người vẫn không đủ trưởng thành theo cách riêng của họ. Đại học là nơi học sinh được chấp nhận dựa trên thành tích hàn lâm nhưng không ai có thể đo được liệu họ có đủ trưởng thành để nhận trách nhiệm cho hành động của họ không. Thành công trong giáo dục phụ thuộc vào nỗ lực và thời gian mà học sinh đưa vào công việc của họ nhưng học sinh chưa trưởng thành thường không đưa đủ nỗ lực vào và thất bại.
Học sinh trưởng thành trong thời gian họ học ở trường, từ tiểu học, trung học rồi đến đại học dựa trên điều họ được dạy. Ở trường tiểu học, học sinh nên được dạy về các mối quan hệ họ hàng, giá trị gia đình để phát triển ý thức kính trọng bố mẹ, thầy giáo, và người già, điều là nền tảng cho cá tính tốt. Ở trung học, học sinh nên được dạy để mở rộng cảnh quan từ gia đình tới đất nước, văn hoá, lịch sử, bình đẳng xã hội, và tính toàn vẹn để phát triển ý thức của họ về công dân tốt. Ở đại học, học sinh nên được dạy nhiều hơn về tính trách nhiệm riêng của họ, tính đảm nhiệm và các kĩ năng đặc biệt để cho họ có thể là nhà chuyên nghiệp có đạo đức trong lĩnh vực của họ ---> chuyên gia . Không may, ngày nay nhiều trường lại hội tụ vào truyền thụ tri thức hàn lâm mà không vào phát triển cá nhân.
Học sinh thường được bảo rằng cách tốt nhất để thành công ở đại học là học hành chăm chỉ; nhưng đại học là nhiều hơn chỉ học tập hàn lâm; nó cũng là về việc học cách là người lớn có trách nhiệm. Nó là về phát triển mối quan hệ với các giáo sư và các sinh viên khác. Chính “kinh nghiệm đại học” và giáo dục làm cho thanh niên có khả năng trưởng thành là nhà chuyên nghiệp có trách nhiệm. Bằng việc gặp gỡ nhiều người hơn, mở tâm trí họ với các ý tưởng khác nhau, và hiểu về bản thân họ và người khác, họ lớn lên và trưởng thành. Với hàng triệu sinh viên trẻ đang học đại học ngày nay, các đại học có trách nhiệm đảm bảo rằng mọi sinh viên đều được hướng dẫn đúng đắn trong mục đích giáo dục của họ vì mục đích giáo dục phải nhiều hơn chỉ là hàn lâm. Đại học nên giúp sinh viên lập kế hoạch nghề nghiệp của họ, phát triển cá tính tích cực và động viên họ đạt tới chúng. Động viên là dẫn lái cho phép từng người trong số họ phát triển thành nhà chuyên nghiệp có trách nhiệm. Nói cách khác, đại học nên cung cấp công cụ và môi trường cần thiết cho sinh viên để đạt tới mục đích giáo dục của họ một cách thành công và trở thành người đóng góp cho xã hội.
Mặc dầu đại học có trách nhiệm với sinh viên và xã hội nhưng họ không phải duy nhất chịu trách nhiệm cho kết quả của sinh viên của họ. Đại học có thể cung cấp các cơ hội cho tương tác và thiết lập môi trường học tập tốt. Sinh viên có trách nhiệm phải nhận trách nhiệm đầy đủ về hành động của họ nữa bằng việc đạt tới và tham gia vào trong lớp; hoàn thành công việc được phân công theo cách đúng thời gian với sự chú ý tới chất lượng của công việc; dành đủ thời gian cho học tập; và tuân theo các chính sách và qui tắc của đại học.
—English version—
Maturity and responsibilities
Students go to school to get educated. That means they must take an active role in their learning by understand that they are responsible for their success. They must make choices and take appropriated actions that help them to achieve their educational goals. However responsibility requires certain degree of maturity but some students may not mature enough to go to college.
In many western countries, students are taught to be responsible for their own actions very early; they understand that college is a transition time between dependency on their family and to be on their own. However that is not the case in Asia where many students are still relying on family’s supports, even after they completed college as some are not matured enough to be on their own. College is a place where students are accepted based on academic achievement but no one can measure whether they are matured enough to be responsible for their actions. Success in education depends on the efforts and time that students put into their work but immatured students often do not put in enough efforts and fail.
Students mature during the time they spend in school, from elementary, high school then college based on what they are taught. In elementary school, students should be taught about relationships, family values to develop a sense of respect for parents, teachers, and the elders which are the foundation for a good personal character. In high school, students should be taught to broaden their perspective from family to country, culture, history, social justice, and integrity to develop their sense of good citizenship. In college, students should be taught more about their own responsibilities, accountability and specific skills so they can be an ethical professionals in their field. Unfortunately, today many schools are focusing on the transfer of academic knowledge but not on personal development.
Students are often told that the best way to succeed in college is to study hard; but college is more than just academics learning; it is also about learning how to be responsible adults. It is about developing relationships with professors and other students. It is the “college experience” and education that enable young students to mature into responsible professionals. By meeting more people, opening their mind to different ideas, and understand about themselves and others, they grow up and mature. With millions of young students are attending colleges today, colleges has a responsibility to ensure that all students are guided properly in their education goals as education goals should be more than just academics. College should help students to plan their career, develop positive personal character and motivate them to achieve them. Motivation is the driver that allows each of them to develop into responsible professional. In other words, college should provide the tools and the environment necessary for students to successfully achieve their education goals and become contributors to the society.
Although colleges have responsibilities to students and society but they are not solely responsible for the outcomes of their students. Colleges can provide opportunities for interaction and establish a good learning environment. Responsible students must take full responsibility of their actions too by attending and participating in classes; complete the assigned work in a timely manner with attention to quality of work; dedicate sufficient time to learn; and complies with college policies and rules.
https://science-technology.vn/?p=4614
===
Chọn lựa là của bạn
31/08/2018
Trong quá khứ, mọi xã hội đều có người giầu và người nghèo nhưng ngày nay xã hội còn bị phân chia thành hai phân loại thêm: Người có giáo dục và người vô giáo dục dựa trên những khác biệt giáo dục và việc làm. Trong thời đại Cách mạng công nghiệp thứ tư này, giáo dục là mấu chốt, và để sống còn, mọi người đều cần có tri thức và kĩ năng nào đó.
Thay đổi chính giữa cuộc cách mạng công nghiệp thứ hai và thứ ba là dịch chuyển từ chế tạo sản phẩm sang chuyển giao dịch vụ. Chế tạo phụ thuộc vào sản xuất dây chuyền cơ xưởng số lượng lớn, nơi lao động chi phí thấp là nhân tố then chốt cho lợi nhuận cao hơn. Chuyển giao dịch vụ phụ thuộc vào công nghệ để làm sản phẩm tới người tiêu thụ nhanh hơn đối thủ cạnh tranh để thâu tóm thị trường.
Với Trí tuệ nhân tạo và robots, các cơ xưởng có thể sản xuất số lượng lớn các sản phẩm với chi phí thấp hơn nhiều so với lao động con người. Yếu tố then chốt bây giờ là chuyển giao sản phẩm nhanh hơn cho khách hàng và thu lợi nhuận cao hơn. Chẳng hạn, mọi người không cần đi mua sản phẩm thêm nữa vì điều họ cần có thể được chuyển giao tới nhà họ khi họ cần chúng. Với công nghệ nhận dạng tiếng nói (Alexa, tiếng nói Google) mọi người có thể bảo thiết bị điều họ muốn và máy thông minh sẽ làm mọi việc đặt hàng và sản phẩm có thể được chuyển giao cho nhà họ trong vài ngày hay thậm chí trong vài giờ (chẳng hạn, Amazon sẽ bắt đầu chuyển giao bằng máy bay trực thăng sang năm và đảm bảo 2 giờ chuyển giao cho một số mặt hàng. Thành công then chốt của Amazon là chuyển giao nhanh hơn đối thủ cạnh tranh và làm cho Jeff Bezos thành người giầu nhất ngày nay.)
Vì lao động chi phí thấp không thể cạnh tranh được với máy được tự động hoá và robots trong cơ xưởng. Người ta dự đoán trước 2025, 75% việc làm chế tạo sẽ được kiểm soát đầy đủ bởi các hệ thống thông minh nhân tạo. Điều gì xảy ra cho công nhân con người? Phần lớn họ sẽ bị bỏ lại với ít việc làm hơn hay không có việc làm chút nào. Điều gì xảy ra cho các nước phụ thuộc vào lao động chi phí thấp? Nền kinh tế của họ có thể sụp đổ với thất nghiệp khổng lồ.
Ngày nay với toàn cầu hoá, thế giới doanh nghiệp được kết nối bởi số lượng bao la các mạng thông tin. Phần lớn việc làm yêu cầu tương tác với máy tính hay các thiết bị khác như điện thoại di động v.v. Do đó, tri thức về công nghệ thông tin (CNTT) là cơ sở của mọi thứ. Công nghệ thông tin không còn là về quản lí mạng máy tính hay lập trình ứng dụng mà nó là một phần của mọi doanh nghiệp. Sự kiện là mọi doanh nghiệp đều cần áp dụng công nghệ để sống còn và cạnh tranh nhưng KHÔNG CÓ ĐỦ người có kĩ năng công nghệ thông tin đáp ứng cho nhu cầu này. Ngay cả các nước như Ấn Độ và Trung Quốc với hàng triệu người tốt nghiệp mỗi năm cũng có thiếu hụt công nhân CNTT.
Câu hỏi được hỏi nhiều nhất trong các học sinh trung học là liệu họ có cần học Khoa học máy tính, Kĩ nghệ phần mềm hay Quản lí hệ thống thông tin để có được việc làm. Câu trả lời là “KHÔNG” nhưng bất kì lĩnh vực nào họ chọn học, họ cần biết cách dùng máy tính hay thiết bị điện tử tương tự để áp dụng vào công việc của họ. Nói cách khác, phần lớn công nhân của tương lai phải có nền tảng tốt và hiểu về công nghệ và họ cần đọc nhiều hơn để đi theo xu hướng trong thị trường việc làm để cho họ có thể điều chỉnh nhanh chóng. Tôi tin rằng mọi chương trình giáo dục nên dựa trên công nghệ thông tin như nền tảng cơ bản. Chỉ có “MỘT KĨ NĂNG” mà mọi học sinh sẽ cần là khả năng liên tục học và không bao giờ dừng học.
Là học sinh, các bạn phải dành thời gian để đọc và học nhiều hơn về xu hướng toàn cầu để hiểu điều đang xảy ra trong thị trường việc làm. Chúng ta đang sống trong thế giới thông tin, nơi các biến cố xảy ra và sẵn có trực tuyến trong vài phút. Nhược điểm nhất của thế hệ trước là họ không thể có được việc phơi ra cho những thay đổi này trong thế giới và không quen thuộc với xu hướng toàn cầu hoá, điều giới hạn nghiêm trọng khả năng của họ để hành động tương ứng. Nhưng ngày nay với Internet và điện thoại thông minh, gần như mọi người có thể truy nhập được thông tin này bất kì khi nào họ muốn. Tuy nhiên, điều quan trọng với học sinh là chọn lựa điều họ cần biết để cho họ có thể đi theo và phát triển tri thức và kĩ năng của họ tương ứng.
Công nghệ là con dao hai lưỡi, nó có thể giúp bạn hay nó có thể làm hại bạn tuỳ vào cách bạn dùng nó. Bạn có thể dùng nó để học nhiều hơn về điều bạn cần cho nghề nghiệp tương lai của bạn hay làm phí thời gian của bạn vào những điều tầm thường mà không ích lợi chút nào. Chọn lựa là của bạn.
—English version—
The choice is yours
In the past, every society has the rich and the poor but today the society is also divided into two more categories: The educated and the uneducated based on the educational differences and employment. In this Fourth Industrial Revolution era, education is critical, and to survive, every people need to have certain knowledge and skills.
The major change between the Second and Third Industrial Revolution and the Fourth is the transition from product manufacturing to service delivery. Manufacturing depends on the mass factory-assembly production where low-cost labor is the key factor for higher profits. The service delivery depends on the technology to get the products to the customers quicker than competitors to capture the market. With Artificial Intelligence and robots, factories can produce a massive number of products at much lower cost than human labor. The key factor now is faster deliver products to the customers and get higher profits. For example, people do not need to go shopping for products anymore because what they want can be delivered to their home when they need them. With voice recognition technology (Alexa, Google voice) people can tell the device what they want and the smart machine will do all the order and the products can be delivered to their home in a matter of days or even in a few hours (i.e., Amazon will start to delivery by drones next year and guarantee 2 hours delivery for some items. The key success of Amazon is faster delivery than their competitors and make Jeff Bezos the richest people today.)
Because low-cost labors cannot compete with automated machines and robots in the factories. It is predicted by 2025, 75% of manufacturing jobs will be fully controlled by artificial intelligence systems. What happens to human workers? Most of them will be left with fewer jobs or no job at all. What happens to countries that depend on low-cost labor? Their economy may collapse with huge unemployment.
Today with globalization, the business world is connected by a vast amount of information networks. Most jobs require interactions with a computer or other devices such as cell phones etc. Therefore, the knowledge of information technology (IT) is the basics of everything. Information Technology is no longer about managing computer network or programming applications but it is part of every business. The fact is every business needs to apply technology to survive and compete but there are NOT ENOUGH people who have information technology skills to meet the demand. Even countries such as India and China with over a million graduates each year also have a shortage of IT workers.
The most asked question among high school students is whether they need to study Computer Science, Software Engineering or Information System Management to get a job. The answer is “NO” but whatever field they choose to study, they need to know how to use a computer or similar electronic devices to apply to their work. In another word, most workers of the future must have a good foundation and understanding of technology and they need to read more to follow the trend in the job market so they can adjust quickly. I believe that all education programs should be based on information technology as the basic foundation. There is only “ONE SKILL” that every student will need is the ability to continue to learn and never stop learning.
As students, you should spend the time to read and learn more about global trends to understand what is happening in the job market. We are living in the information world, where events happen and available online in a few minutes. The most disadvantage of the previous generation is they do not have the exposure to these changes in the world and unfamiliar to the globalization trend which seriously limits their ability to act accordingly. But today with the Internet and smartphone, almost everyone can access this information whenever they want. However, it is important for students to select what they need to know so they can follow and develop their knowledge and skills accordingly. Technology is the two-edged sword, it can help you or hurt you depends on how do you use it. You can use it to learn more about what you need for your future career or waste your time on trivial things that have no benefit at all. The choice is yours.
https://science-technology.vn/?p=5958
==
https://science-technology.vn/?p=5960
Giúp người khác
03/09/2018
Tuần trước, tôi nhận được một email mà một sinh viên đại học viết: “Là sinh viên năm thứ ba trong Khoa học máy tính em muốn dùng tri thức của em để làm cái gì đó tốt nhưng bạn em nói đó là “ý tưởng cao quí” nhưng không thực tế vì em cần kiếm sống và cần có nhiều tiền trước khi em có thể giúp được người khác. Xin thầy lời khuyên.“
Đáp:
“Em có thể giúp nhiều người bằng đam mê và lòng tốt của em. Em KHÔNG phải đợi cho tới khi em có tiền để làm bất kì cái gì.
Cơ hội giúp ai đó đang xảy ra mọi ngày, mọi nơi, và bất kì ai cũng có thể làm được điều đó mà thậm chí không có tiền. Đừng ngần ngại khi em thấy cái gì đó mà em có thể giúp cho ai đó. Tốt hơn cả là làm cái gì đó nho nhỏ BÂY GIỜ hơn là làm cái gì đó lớn trong tương lai.”
“Là sinh viên Khoa học máy tính năm thứ ba, em có thể dùng tri thức và kĩ năng của em để giáo dục người khác, đặc biệt những trẻ em nghèo ở các vùng sâu, vùng xa, những người có giới hạn trong việc tới trường vì họ phải giúp bố mẹ họ làm việc trên đồng. Nếu hàng nghìn đứa trẻ này không có giáo dục tốt, chúng sẽ không bao giờ thoát ra khỏi nghèo nàn. Liệu em và bạn em có thể tình nguyện dạy chúng trong mùa hè khi em có thời gian không? Điều những đứa trẻ này cần là biết cách đọc, viết và số học cơ bản. Nếu chúng đã biết các chủ đề này, em có thể dạy chúng về lập trình dùng các ngôn ngữ đơn giản như Scratch, Alice, hay Swift. Nếu em sống ở thành phố và không thể tới được với trẻ em ở vùng sâu xa, em có thể tạo ra các môn học trực tuyến cho những đứa trẻ này, ở đó em có thể vươn tới nhiều người trong số họ, với giả định rằng họ có truy nhập vào Internet. Có hàng trăm môn học trực tuyến dạy trẻ em lập trình trên Internet nhưng phần lớn chúng đều trong tiếng Anh. Sẽ là tốt nhất nếu em có thể dựa trên đó tạo ra môn học riêng của em dùng ngôn ngữ mẹ đẻ của em. Việc học và phát triển kĩ năng của trẻ em thường được móc nối với ngôn ngữ chúng nói. Nếu chúng được dạy trong ngôn ngữ riêng của chúng, chúng có thể học nhanh chóng. Nếu chúng phải học ngôn ngữ mới hay thuật ngữ mới mà chúng không hiểu, việc học của chúng bị ràng buộc. Theo ý kiến thầy, điều bản chất là có các môn học trực tuyến được dạy trong ngôn ngữ địa phương, nếu có thể.
Trẻ em ngày nay rất chủ động, chúng có thể tự học nhiều thứ nếu chúng có công cụ.
Để thầy chia sẻ với em một câu chuyện thực gây hứng khởi cho thầy rất nhiều. Nó được gọi là “Hốc tường.” Năm 1999, một kĩ sư phần mềm tên là Sugata Mitra sống gần khu nhà ổ chuột ở New Delhi, Ấn Độ. Mọi ngày, anh ấy quan sát lũ trẻ đáng thương đang giúp bố mẹ chúng lượm lặt từ đống rác để lấy ra các thứ bán đi kiếm sống. Khi chúng có thời gian, chúng chơi quanh đống rác thay vì đi tới trường. Một hôm, anh ấy nảy ra ý tưởng bằng việc để một máy tính trong hốc tường ngay trước nhà anh ấy bên cạnh đống rác để xem lũ trẻ này sẽ làm gì. Anh ấy lấy làm ngạc nhiên, trong vài ngày, lũ trẻ đã hình dung ra cách dùng máy tính. Anh ấy tải vào máy tính các tài liệu về sinh học phân tử và đợi xem lũ trẻ sẽ làm gì. Qua vài tuần, lũ trẻ bắt đầu tự học tài liệu này bằng việc xem video. Mitra cho chúng bài kiểm tra về tài liệu sinh học phân tử. Anh ấy ngạc nhiên, 63% lũ trẻ đã trả lời đúng các câu hỏ và được cho phần thưởng nhỏ là kẹo. Mitra đợi một tháng nữa và cho chúng bài kiểm tra khác. Lần này 98% lũ trẻ qua được bài kiểm tra bằng việc trả lời đúng mọi câu hỏi. Anh ấy kết luận: “Nếu bạn để máy tính trước lũ trẻ, chúng sẽ tự học cũng như ong bay quanh hoa.”
Mitra xuất bản phát hiện của mình trong một tạp chí khoa học và kết luận: “Trẻ em có thể tự học mà không có thầy cô giáo nếu chúng được cho công cụ đúng.” Với thực nghiệm của mình, anh ấy nhận được phần thưởng một triệu đô la để tiếp tục công việc với lũ trẻ nghèo. Bây giờ anh ấy mua một nghìn máy tính bảng cho trẻ em nghèo ở mọi vùng sâu xa của Ấn Độ và kết nối chúng với các môn học trực tuyến nơi trẻ em học lập trình. Trong phần lớn các làng sâu xa của Ấn Độ, không có thầy cô giáo, không có lớp học, không có giáo trình, và không có phân tách nhóm tuổi. Bất kì trẻ em nào cũng có thể học nếu chúng không phải giúp bố mẹ chúng trên đồng. Trường máy tính mở của Mitra chỉ có một người giám sát trẻ em về an toàn và quản lí máy tính bảng (Sáu trẻ em dùng chung một máy tính bảng.) Anh ấy kết luận: “Công nghệ thông tin đã tạo khả năng cho một phong cách học mới mà trước đây là không thể có được. Bằng việc cho trẻ nhỏ nghèo truy nhập vào công cụ và môn học trực tuyến, chúng có thể học cách tự giáo dục bản thân chúng. Bằng việc để chúng theo đuổi mối quan tâm riêng của chúng và mài sắc khao khát của chúng về tri thức, chúng sẽ có khả năng chăm nom cho bản thân chúng. Với kĩ năng lập trình, nhiều đứa trẻ nghèo có thể kiếm được việc làm trong công nghiệp công nghệ thay vì làm nông trại hay bới rác rồi để cả đời trong nghèo nàn.”
—English version—
Helping others
Last week, I received an email where a college student wrote: “As a third-year student in Computer Science I want to use my knowledge to do something good but my friends said it is a “noble idea” but not practical as I need to make a living and have a lot of money before I can help others. Please advice.“
Answer: “You can help a lot of people with your passion and kindness. You do NOT have to wait until you have money to do anything. Opportunity to help someone is happening every day, everywhere, and anyone can do that without even having money. Do not hesitate when you see something that you can help someone. It is better to do something small NOW then waiting to do something big in the future.”
“As a third-year Computer Science student, you can use your knowledge and skills to educate others, especially poor children in rural areas who have limited schooling because they have to help their parents to work in the field. If thousands of these children do not have a good education, they will never get out of the poverty. Is it possible for you and your friends volunteer to teach them during your summer when you have the time? What these children need is knowing how to read, write, and basic arithmetic. If they already know these subjects, you may teach them about programming using simple languages such as Scratch, Alice, or Swift. If you live in a city and cannot reach children in the rural area, you can create online courses for these children where you can reach many of them, assume that they have access to the Internet. There are hundreds of online courses that teach children to program on the Internet but most of them are in English. It would be best if you could base on that to create your own course using your language. The learning and skill development of children is often linked to the language that they speak. If they are taught in their own language, they can learn quickly. If they must learn a new language or new terminology which they do not understand, their learning is constrained. In my opinion, it is essential to have online courses taught in the local language, if possible.
Children today are very active, they can learn many things by themselves if they have the tools. Let me share with you a real story that inspires me greatly. It is called the “Hole in the wall.” In 1999, a software engineer named Sugata Mitra who lived near the slum in New Delhi, India. Every day, he watched the poor children helping their parents to pick materials from the garbages dump to sell for their living. When they had time, they played around the garbage instead of going to school. One day, he had an idea by placing a computer into a hole in a wall in front of his house located next to the garbage dump to see what these children would do. To his surprise, in a few days, the children figured out how to use the computer. He loaded his computer with molecular biology materials and wait to see what they would do. Over a few weeks, these children began to learn the materials by themselves by keep watching the video. Mitra gave them a test on the molecular biology materials. To his surprise, 63% of the children answered the questions correctly and were given a small reward of candies. Mitra waited another month and gave them another test. This time 98% of the children passed the test by getting every question right. He concluded: “If you put a computer in front of the children, they will learn by themselves just like bees around a flower.”
Mitra published his finding in a scientific journal and concluded: “Children can learn by themselves without the teacher if they are given the proper tools.” For his experiment, he received a million dollars award to continue his work with poor children. Now he buys thousand of tablets for poor children all over rural areas in India and connects them to online courses where children learn programming. In most Indian’s remote villages, there is no teacher, no classroom, no curriculum, and no separation of age group. Any children can learn if they do not have to help their parents in the field. Mitra ‘s open computer school only have one person who monitors children for their safety and manages the tablets (Six children share one tablet.) He concluded: “The Information Technology has enabled a new style of learning that was not possible before. By giving poor children access to a tool and online courses, they can learn how to self-educate themselves. By letting them pursue their own interests and sharpen their hunger for knowledge, they will be able to take care of themselves. With the programming skills, many poor children can get a job working in the technology industry instead of the farms or garbage dump of the slums then spend a lifetime in poverty.”
===
Kĩ năng bạn cần
15/12/2013
Một sinh viên viết cho tôi: “Là sinh viên năm thứ nhất trong Quản lí hệ thông tin (ISM), em lập kế hoạch học cả các môn kĩ thuật và doanh nghiệp như thầy đã gợi ý nhưng có gì khác em cần học để thành công trong nghề này không?”
Đáp: Chúng ta đang sống trong thế giới thay đổi nhanh chóng; lời khuyên tốt nhất mà tôi có thể cho mọi sinh viên là phải linh hoạt đáp ứng với nhu cầu doanh nghiệp đang thay đổi. Trong quá khứ, các kĩ năng kĩ thuật là đủ tốt để có được việc làm tốt nhưng ngày nay độ phức tạp của công việc yêu cầu các kĩ năng rộng hơn nhiều và tính linh hoạt. Mọi sinh viên CNTT đều phải có tri thức và kĩ năng được yêu cầu để làm việc trong môi trường thay đổi. Bạn phải đọc nhiều để hiểu cả xu hướng công nghệ và xu hướng thị trường để cho bạn có thể chuẩn bị. Cho dù đại học dạy cho bạn phần lớn các kĩ năng kĩ thuật được yêu cầu để chuyển giao sản phẩm và dịch vụ nhưng đó chỉ là bắt đầu. Khi bạn làm việc, bạn sẽ học nhiều hơn và chừng nào bạn còn thích ứng với thái độ học cả đời, bạn sẽ làm tốt.
Bên cạnh kĩ năng kĩ thuật, bạn cũng cần phát triển các kĩ năng tổ chức để ưu tiên hoá công việc trong đáp ứng với nhu cầu doanh nghiệp, và làm việc một cách cộng tác với một nhóm người. Bạn sẽ cần kĩ năng giải quyết vấn đề được cần để phân tích các vấn đề bên trong một khu vực xác định để đạt tới phẩm chất và giải pháp kĩ thuật. Bạn cần phát triển kĩ năng trao đổi để trao đổi hiệu quả thông tin để hiểu nhu cầu của khách hàng, đáp ứng cho nhu cầu của họ, và đạt tới sự thoả mãn của người dùng. Phần lớn trong tất cả, bạn cần phát triển ý thức về tính đảm nhiệm để ra quyết định đúng và nhận trách nhiệm về công việc của bạn.
—English version—
Skill that you need
A student wrote to me: “As a first year student in Information System Management (ISM), I am planning to take both technical and business courses as you suggested but is there anything else that I need to learn to succeed in this career?
Answer: We are living in a fast changing world; the best advice that I can give to every student is to be flexible to meet changing business needs. In the past, technical skills are good enough to get a good job but today the complexities of work require much broader skills and flexibility. Every IT students must have the knowledge and skills required to work in a changing environment. You must read more to understand both technology trends and market trends so you can prepare. Even university teaches you most of the technical skills required to deliver products and services but that is only the beginning. As you work, you will learn more and as long as you adopt a lifelong learning attitude, you will do well.
Beside technical skills, you also need to develop organization skills to prioritize work in respond to business needs, and work collaboratively with a group of people. You will need problem solving skills required to analyze issues within a specialty area to achieve quality and technical solutions. You need to develop communication skills to effectively exchange information in order to understand the needs of customers, respond to their needs, and achieve user satisfaction. Most of all, you need to develop a sense of accountability to make right decisions and take responsibility for your work.
https://science-technology.vn/?p=3865
==
Nhịp độ thay đổi nhanh
06/04/2017
Theo tờ The New York Times, khi có cạnh tranh việc làm giữa robots và con người, robots sẽ thắng. Ngày nay cơ xưởng chế tạo ở Mĩ và châu Âu đang tăng dần việc dùng robots để tự động hoá dây chuyền sản xuất. Khi nhiều robots hơn được dùng, nhiều công nhân mất việc làm của họ. Bài báo này dựa trên một nghiên cứu của MIT thấy robots đã loại bỏ đi tới 670,000 việc làm chế tạo giữa các năm 1990 và 2007. Bài báo này kết luận rằng nhiều công nhân hơn sẽ mất việc làm trong năm năm tới vì số các robots công nghiệp được mong đợi tăng lên gấp bốn.
Bài báo này tạo ra tranh cãi về liệu công nghệ tự động hoá tiên tiến sẽ giúp đỡ hay làm hại con người, hay thậm chí thay thế con người. Có mối quan ngại trong những người lãnh đạo chính phủ rằng việc làm mới được công nghệ tạo ra là không tương đương với số việc làm bị mất đi, làm nảy sinh bất bình đẳng trong cấu trúc xã hội và thất nghiệp cao. Một nhà kinh tế viết: “Trong quá khứ, chúng ta có người giầu và người nghèo, bây giờ chúng ta có “công nghệ siêu giầu” và “lao động siêu nghèo.” Trong thế giới được dẫn lái bởi công nghệ này, nếu mọi người không có kĩ năng công nghệ, họ sẽ không bao giờ tìm được việc làm tốt.” Cách nhìn đó đặt sức ép lên hệ thống giáo dục để dịch chuyển đào tạo của họ nhanh chóng để cung cấp nhiều đào tạo công nghệ. Bài báo này cũng phỏng vấn Elon Musk, Stephen Hawking và Bill Gates và tất cả họ đều đồng ý rằng robots đang lấy đi việc làm của con người và cảnh báo rằng chúng ta phải tiến hành có thận trọng về trí tuệ nhân tạo, bằng không chúng ta có thể mất kiểm soát trên chính các “máy thông minh”.
Tuy nhiên, có cách nhìn khác rằng công nghệ sẽ tạo ra nhiều việc làm hơn, không ít đi. Một bài báo trong Tạp chí Doanh nghiệp Harvard Business Review mang tựa đề “Bên ngoài tự động hoá” kết luận rằng thay vì coi máy móc lấy đi nhiều việc làm, chúng ta phải nhìn xa hơn vào những khả năng mới hơn của việc làm mới. Trong kỉ nguyên của phát kiến, bao giờ cũng có “ý tưởng lớn tiếp” vì mọi người sẽ tiếp tục phát kiến và phát minh ra nhiều công nghệ hơn. Do đó, ưu thế cạnh tranh sẽ thay đổi bởi công nghệ mới hơn nên tự động hoá có thể không phải là giải pháp tốt nhất vào lúc đó. Chẳng bao lâu, thành công của công ti có thể phụ thuộc vào phát kiến hơn là hiệu quả chi phí của tự động hoá. Theo cách nhìn này, giáo dục công nghệ tốt được cần để cung cấp nhiều công nhân có kĩ năng cao hơn, những người có thể phát kiến và tạo ra nhiều công nghệ và việc làm cho mọi người.
Bất kể cách nhìn nào là đúng, chìa khoá vẫn là có giáo dục tốt để phát triển công nhân công nghệp để sống còn trong thế giới được dẫn lái bởi công nghệ. Câu hỏi là: Giáo dục hiện thời có thể thay đổi nhanh thế nào khi nhiều công nghệ hơn như trí tuệ nhân tạo, học máy, và xe không người lái đang tới với tốc độ đang tăng lên?
—English version—
The fast pace of change
According to The New York Times, when competing for jobs between robots and humans, the robots will win. Today manufacturing factories in the U.S. and Europe are increasingly using robots to automate their production lines. As more robots are being used, more workers are losing their jobs. The article is based on a research by MIT that found robots have eliminated up to 670,000 manufacturing jobs between 1990 and 2007. The article concluded that more workers will lose jobs in the next five years because the number of industrial robots are expected to quadruple.
The article creates debates about whether the advanced automation technology will help or hurt people, or even displace humans. There is a concern among government leaders that the new jobs created by technology are not equal to the number of job lost resulting an inequality in the social structure and high unemployment. An economist wrote: “In the past, we have the rich and the poor, now we have the “Technology super rich” and the “Labor super poor.” In this technology-driven world, if people do not have technology skills, they will never find a good job.” That view puts pressure on the education systems to shift their training quickly to providing more technology trainings. The newspaper also interviewed Elon Musk, Stephen Hawking and Bill Gates and all of them agreed that robots are taking people’s jobs and warned that we should proceed with caution about artificial intelligence, else we may lose control over very “smart machines.”
However, there is another view that technology will create more jobs, not less. An article in The Harvard Business Review titled “Beyond Automation” concluded that instead of viewing machines taking more jobs, we must look further into newer possibilities of new jobs. In this era of innovation, there will always be the “next big ideas” as people will continue to innovate and invent more technologies. Therefore, competitive advantage will change by newer technology then automation may not be the best solution by that time. Soon, the success of companies may depends more on innovation than the cost efficiency of automation. According to this view, a good technology education is required to provide more highly skilled workers who can innovate and create more technologies and jobs for people.
Regardless which views are right, the key is still having a good education to develop technology workers to survive this technology driven world. The question is: How fast can current education changes when more technologies such as artificial intelligence, machine learning, and driverless cars are coming at an accelerate speed?
https://science-technology.vn/?p=5368
===
Đổi phương hướng nghề nghiệp
22/06/2013
Ngày nay có nhiều việc làm sẵn có nhưng không có đủ công nhân để lấp vào chỗ đó. Đồng thời có nhiều công nhân không thể tìm được việc làm vì điều các công ti cần không phải là điều họ có thể làm. Không có gì thất vọng hơn cho sinh viên những người hoàn thành đại học mà không thể tìm được việc làm. Tuy nhiên đây không phải là lúc để người tốt nghiệp cảm thấy thất vọng hay oán trách cái gì, họ phải hội tụ vào cách thu lấy kĩ năng cần thiết để có được việc làm sẵn có.
Người tốt nghiệp thất nghiệp cần tiến hành nghiên cứu thị trường để hình dung ra kiểu việc nào mà các công ti địa phương cần để lấp vào và việc làm này sẵn có trong khu vực của bạn. Có thể là bạn tìm được việc làm mà bạn chưa bao giờ biết tới. Bạn không nên sợ thám hiểm các khu vực công việc mà bạn chưa bao giờ xem xét tới trước đây. Trong suy thoái kinh tế này, nơi thất nghiệp là cao, người tốt nghiệp nên kiểm với đại học về các lớp mà có thể dạy cho bạn kĩ năng mới điều cho phép bạn chuyển sang việc mới. Điều quan trọng là dành một số thời gian để làm nghiên cứu đủ trong lĩnh vực bạn dự định chuyển qua vì bạn phải biết cái gì đó về nó trước khi quyết định chuyển vào nó. Bạn cần hiểu lĩnh vực mới để cho bạn có thể giải thích nó về chi tiết khi được hỏi. Người quản lí thuê người sẽ bị ấn tượng nếu bạn có thể giải thích mọi chi tiết có liên quan tới việc mới và đó là một chỉ dẫn rõ ràng về tính sẵn sàng của bạn để đi lên trước.
Khi nghiên cứu thị trường bạn cần nhìn lại xu hướng công nghiệp để xác định nghề nào có tương lai tốt hơn và phương hướng thị trường là gì. Trong thời đại thông tin này, có nhiều việc làm là mấu chốt cho mọi nước và gần như mọi ngành công nghiệp và lĩnh vực đều chịu ảnh hưởng bởi những khám phá và phát kiến của cái gọi là STEM (khoa học, công nghệ, kĩ nghệ và toán học). Những lĩnh vực này đang dẫn lái nền kinh tế và xác định lại cuộc sống hiện đại sẽ giống cái gì. Dù bạn là sinh viên năm thứ nhất hay người tốt nghiệp đang tìm cách đổi nghề, bạn có thể cần học về các nghề STEM và lí do tại sao những nghề này đang hướng dẫn các ngành công nghiệo xuyên qua biên giới các quốc gia và thế giới. Theo khảo cứu công ngiệp, những việc làm STEM này có tăng trưởng nhanh nhất và có thiếu hụt người tới năm 2025. Trong số này những việc làm tốt nhất là trong công nghệ sinh học (nhà khoa học, kĩ sư) y tế (bác sĩ và y tá), công nghệ thông tin (người phát triển phần mềm, kĩ sư hệ thống, người quản trị cơ sở dữ liệu, hệ thống mạng); nhà hoá sinh và nhà sinh học vật lí.
Người tốt nghiệp thất nghiệp phải giám sát thị trường để tìm ra việc làm mà có thể dùng các kĩ năng họ đã có và với đào tạo thêm sẽ cho phép họ có đủ tư cách cho các việc này. Chẳng hạn sinh viên kinh doanh có thể học vài lớp lập trình và xin việc làm trong công nghiệp công nghệ thông tin (CNTT). Bằng việc tổ hợp tri thức doanh nghiệp với kĩ năng kĩ thuật sẽ cho họ cơ hội tốt hơn để có được việc làm. Ngày nay có số lớn những người tốt nghiệp kinh doanh trở lại trường để học lập trình và kiếm được bằng hai trong quản lí hệ thông tin (ISM) điều cho họ đủ tư cách vào vị trí quản lí dự án, quản lí dịch vụ, quản trị tính toán mây, v.v.
Bạn có thể mất thời gian để kiếm việc làm nhưng điều quan trọng là bạn vẫn còn kiên nhẫn và không mất hi vọng. Tại điểm nào đó trong khi bạn đang tìm việc làm mới, bạn có thể cảm thấy chán nản và thậm chí muốn bỏ cuộc. Tất cả những xúc động này là bình thường và bạn phải chấp nhận điều này như một phần của quá trình thay đổi nghề nghiệp. Bạn phải nhớ đinh ninh rằng kiên nhẫn là một trong những chìa khoá cho đổi nghề thành công. Xây dựng nghề mới là không dễ. Nó cần thời gian và kiên nhẫn nhưng có những việc làm sẵn có và các công ti quả thực cần công nhân có kĩ năng lấp vào đó. Nếu bạn sẵn lòng học kĩ năng mới và để đầu óc cởi mở bạn có thể chuẩn bị cho tương lai mới hôm nay. Đây không phải là lúc để thất vọng, đây không phải là lúc để nhìn lại mà đi lên và tái đầu tư nỗ lực của bạn để làm ra những kĩ năng và mới và công việc tri thức cho bạn. Đây là thời gian thách thức vì nó kiểm tra quyết tâm của bạn và chỉ người mạnh mẽ mới có khả năng vượt qua những chướng ngại này.
—-English version—-
Changing career direction
Today there are many jobs available but not enough workers to fill. At the same time there are many workers who could not find jobs because what companies need is not what they can do. There is nothing more frustrate for students who complete college but cannot find job. However this is not the time for graduates to feel frustrate or to blame anything, they must focus on how to acquire the necessary skills to get the jobs available.
Unemployed graduate needs to conduct market research to figure out what types of jobs localcompanies need to fill and what jobs are available in your area. It is possible that you may find a job that you never knew about. You should not be afraid to explore areas of work that you never considered before. In this economic recession, where unemployment is high graduates should check with your university for classes that can teach you new skills that allow you to move into a new job. It is important to spend some time to do sufficient research into the field that you intend to switch to as you should know something about it before deciding to move into it. You need to understanding the new field so you can explain it in detail when being asked. Hiring managers would be impressed if you can explain all the details that are relevant to the new job and it is a clear indication of your readiness to move forward.
When research the market you need to look at the industry trend to determine which career has better future and what is the market direction. In this Information age, there are jobs that are critical to every country and nearly every industry and field is influenced by the discoveries and innovations of the so called STEM (science, technology, engineering and mathematics). These fields are driving the economy and redefining what modern life looks like. Whether you are first year college students or graduates that are looking to change career, you may want to learn about STEM careers and why these jobs are leading industries across the nation and world. According to the industry study, these STEM jobs have the fastest growth and have shortage of people through 2025. Among them the best jobs are in Biotechnology (Scientist, engineer) Medical (Doctor and Nurse), Information technology (Software developers, System engineer, Data base managers, Network system); Biochemist and Biophysicist.
Unemployed graduates must monitor the job market to find the job that could use some skills they already have and with additional trainings will allow them to qualify for the job. For example a business student could take few programming classes and apply for job in the Information Technology (IT) industry. By combining business knowledge with technical skills will give them a better chance to get job. Today there is a large number of business graduates going back to school to learn programming and earned a second degree in Information System Management (ISM) that qualify them for project management position, service manager, IT system management, cloud computing administrator etc.
It might take time for you to get a job but it is important that you remain patient and not to lose hope. At some point while you are searching for a new job, you might feel depress and even want to give up. All of these emotions are normal and you have to accept this as part of the career change process. You must keep in mind that perseverance is one of the keys to a successful career change. Building a new career is not easy. It takes time and patient but there are jobs available and companies do need skilled workers to fill. If you are willing to learn new skills and keep an open mind you can prepare for a new future today. This is not the time to be frustrated, this is not the time to look back but move forward and reinvest your efforts to make the new skills and knowledge work for you. This is challenging time as it tests your determination and only strong person will be able to overcome these obstacles.
https://science-technology.vn/?p=643
==
Làm sao thay đổi
03/11/2018
Một thầy giáo viết cho tôi: “Chúng tôi là các thầy cô giáo đang làm việc cho một trường tư. Nhiều người trong chúng tôi muốn cải tiến việc dạy và thay đổi chương trình để giúp cho học sinh của chúng tôi nhưng chúng tôi không biết cách bắt đầu. Thầy sẽ gợi ý điều gì để thực hiện thay đổi trong trường tư? Xin thầy lời khuyên.”
Đáp: Cho dù người quản trị nhà trường và nhiều thầy cô giáo đã đồng ý rằng một số thay đổi là cần thiết, họ cần vượt ra ngoài sự đồng ý đó bằng mô tả rõ ràng điều cần được thay đổi và mọi thứ sẽ thế nào khi thay đổi được thực hiện. Thay đổi cái gì đó là cuộc hành trình cần thời gian và nỗ lực, không phải là cái gì đó có thể xảy ra ngay lập tức. Để làm cho thay đổi xảy ra một cách có hiệu quả, họ cần viết ra rõ ràng tình huống nhà trường bây giờ đang ở đâu và nhà trường có thể ở đâu trong tương lai. (tức là, trường đang dạy chương trình đào tạo nào bây giờ và chương trình đào tạo mới sẽ là gì, các thầy cô giáo bây giờ đang dạy theo phương pháp nào và phương pháp mới sẽ là gì v.v.) Cũng như có bản đồ cho việc đi du lịch, bạn cần biết bạn đang ở đâu và bạn muốn đi tới đâu rồi mới hỏi làm sao tôi đi được từ điểm bắt đầu tới đích đến.
Trước khi thực hiện bất kì thay đổi nào, bạn cần biết chướng ngại gì bạn có thể phải đương đầu. Mọi người quản trị và thầy cô giáo đều phải cộng tác và nhận diện bất kì vấn đề nào có thể ngăn cản thay đổi không cho xảy ra. Họ cần thảo luận những vấn đề này cho tới khi hiểu chúng và thiết kế ra bản kế hoạch để giải quyết chúng khi thực hiện thay đổi. Họ cần biết các yếu tố nào làm cho họ làm việc cùng nhau và tại sao thay đổi là cần thiết. Nếu bạn bắt đầu thực hiện cái gì đó mà mâu thuẫn với cách nhìn của người khác, điều đó có thể tạo ra xung đột và làm cho việc thực hiện thành khó khăn hơn. Bạn cần hiểu bạn có thể thay đổi được xa thế nào và nhanh thế nào. Đôi khi, mọi người thiếu kiên nhẫn và muốn thấy thay đổi xảy ra trong vài tháng. Tất nhiên, có những thứ có thể xảy ra nhanh nhưng trong thực tế, phần lớn thay đổi cần nhiều thời gian hơn bạn nghĩ. Thời gian là quan trọng để làm cho nhiều người hơn tham gia vào và hiểu tác động và làm cho thay đổi kéo dài thay vì vội vã và để cho mọi người hoang mang.
Với bất kì thay đổi nào, sẽ có một số chống đối tuỳ theo thay đổi. Đôi khi sự chống đối tới từ những người không hiểu cái gì cần thay đổi và tác động có thể là gì. Có xu hướng với một số người cố duy trì lập trường của họ vì họ bao giờ cũng dạy theo cách nào đó trong nhiều năm. Yêu cầu họ thay đổi là không dễ. Họ có thể nghĩ “Tại sao phải thay đổi? Chúng tôi bao giờ cũng dạy nó theo cách này. Và chẳng có gì sai trong nó.” Họ cần hiểu lí do cho việc thay đổi và đi ra ngoài điều đó. Họ cần hiểu sự khẩn thiết cần thay đổi vì thế giới đang thay đổi và nhà trường không thể không làm gì giữa những thay đổi này. Điều đã có tác dụng tốt trong quá khứ có thể không có tác dụng cho hôm nay và ngày mai.
Trong thế giới được công nghệ dẫn lối này của cuộc Cách mạng công nghiệp thứ tư, nhiều điều sẽ thay đổi, kể cả cách chúng ta dạy. Mục đích chính của chúng ta là phát triển tài năng giỏi để hỗ trợ cho khả năng phát triển của nền kinh tế chúng ta. Chúng ta cần có chương trình đào tạo tốt hơn, phương pháp dạy tốt hơn, đào tạo tốt hơn cho mọi thầy cô giáo để chuẩn bị cho nhiều thay đổi đang tới. Tuy nhiên, để những thay đổi này xảy ra một cách hiệu quả, chúng ta cần giải thích rõ ràng cách thay đổi có thể làm lợi cho những người bị ảnh hưởng trực tiếp (như học sinh và gia đình họ, v.v.) và những người khác có trách nhiệm, (nhà trường, người quản trị, thầy cô giáo v.v.) và phát triển tiêu chí rõ ràng để đo tiến bộ của thay đổi.
—English version—
How to change
A teacher wrote to me: “We are teachers working for a private school. Several of us want to improve our teaching and change the program to help our students but we do not know how to begin. What would you suggest to implement changes in a private school? Please advise.”
Answer: Even if the school administrators and several teachers have agreed that some changes are necessary, they need to get beyond that agreement by clearly describe what needs to be changed and how things will be when the change is implemented. To change something is a journey that takes time and efforts, not something can happen immediately. To effectively make change happen, they need to write down clearly where the school situation is now and where the school could be in the future. (i.e., what curriculum the school is teaching now and what the new curriculum will be, what method the teachers are teaching now and what the new method will be etc.) Just like having a map for your travel, you need to know where you are and where you want to go then ask how do I get from the starting place to the destination.
Before implementing any change, you need to know what obstacles that you may encounter. Every administrator and teacher must collaborate and identify any issue that may prevent the change from happening. They need to discuss these issues up front to understand them and design a plan to solve them when implementing the change. They need to know what are the factors that make them work together and why the change is necessary. If you start to implement something that is contrary to the view of others, it can create conflicts and makes the implementation more difficult. You need to understand how far and how fast you can change. Sometimes, people get impatient and want to see changes happen in a few months. Of course, there are things that can happen fast but in reality, most changes take more time than you thought. Time is important to get more people to involve and understand the impact and to make the change last instead of hurrying and get people to confuse.
For any change, there will be some resistance depends on the change. Sometimes the resistance comes from people who do not understand what needs to change and what the impact could be. There is a tendency for some people to maintain their position as they always teaching in a certain way for many years. Asking them to change is not easy. They may think “Why change? We have always taught it this way. And there is nothing wrong with it.” They need to understand the reason for the change and move beyond that. They need to understand the urgency to change because the world is changing and the school cannot remain idle in the middle of these changes. What worked well in the past may not work today and tomorrow.
In this technology-driven world of the Fourth Industrial Revolution, many things will change, including the way we teach. Our main goal is to develop strong talents to support the viability of our economy. We need to have a better curriculum, better teaching methods, better training for all teachers to prepare for many changes to come. However, for the changes to happen effectively, we need to explain clearly how changes can benefit those directly affected (i.e. the students and their family, etc.) and others to be accountable, (The school, the administrators, the teachers etc.) and develop clear criteria for measuring the change progress.
https://science-technology.vn/?p=6088
========
Cách học
03/08/2017
Nhiều học sinh vào đại học với những hiểu nhầm. Hiểu nhầm thông thường nhất trong các học sinh đại học là họ tin rằng học giỏi một môn là vấn đề tài năng tự nhiên chứ không phải là làm việc chăm chỉ. Nhiều học sinh bảo tôi rằng họ không giỏi toán, không thể viết mã được, hay không có tài năng trong khoa học v.v. Nếu họ có hoài nghi nào về năng lực của họ, họ sẽ không làm việc chăm chỉ và cuối cùng thất bại trong các môn học này. Đôi khi học sinh nói với tôi rằng bố mẹ họ muốn họ học một môn, nhưng họ không có tài, cho nên họ không muốn làm việc chăm chỉ vì sớm hay muộn họ sẽ thất bại.
Alan Chang là một trong những học sinh đó, người đã bảo tôi rằng anh ta bị bố mẹ ép buộc học Khoa học máy tính cho dù anh ta không thể viết được mã. Tôi hỏi anh ta: “Là người Trung Quốc lớn lên ở Mĩ, em có vấn đề với việc học tiếng Anh không?” Anh ta nói: “Khi em tới đây lúc là đứa trẻ 10 tuổi, em có khó khăn, nhưng sau vài năm, em nói tiếng Anh thạo như bất kì ai.” Tôi hỏi: “Em làm việc đó thế nào?” Anh ta đáp: “Em phải làm vì mọi bạn bè em đều nói tiếng Anh.” Tôi hỏi: “Khác biệt gì giữa việc học tiếng Anh và học viết mã?” Anh ta nghĩ một chốc và ngần ngại: “Em không biết?” Tôi giải thích: “Không có khác biệt đâu. Học tiếng Anh và học viết mã là như nhau. Chúng toàn chỉ là ngôn ngữ. Vấn đề là ở tâm trí em. Nếu em nghĩ em không thể làm nó được, thì em sẽ không làm được. Em cần có “cách nghĩ đúng,” như “Tôi có thể làm nó. Tôi giỏi về nó vì tôi đã dành nhiều thời gian làm nó.” Mỗi tuần, tôi dành một giờ cùng Alan và vài học sinh như anh ta để giúp họ trong viết mã. Năm ngoái, Alan tốt nghiệp danh dự trong Khoa học máy tính, và bây giờ làm việc cho Facebook. Anh ta nói với tôi: “Các thầy giáo có thể đóng vai trò lớn trong việc giúp cho học sinh phát triển cách nghĩ đúng. Nếu thầy không giúp em, em sẽ không bao giờ nghĩ rằng em có thể làm được việc đó. Bây giờ em có nghề nghiệp tốt và làm cho bố mẹ em rất hài lòng.” Tôi bảo anh ta:
“Chính em làm các nỗ lực và vượt qua vấn đề. Khi em tin em có thể làm cái gì đó, em sẽ làm nó. Đó tất cả đều trong tâm trí em.”
Nhiều học sinh nghĩ rằng việc học là về chỉ đọc và ghi nhớ vài định nghĩa rời rạc. Nếu bạn nhìn vào cách một số học sinh học ngày nay, bạn sẽ thấy rằng nhiều người sẽ ngồi ở quán cà phê với tai nghe nhạc trên iPhone, uống cà phê, và đọc lướt qua sách giáo khoa. Nhiều người thậm chí không học mãi cho tới vài ngày trước kì thi. Một số người sẽ dành nhiều thời gian hơn để tạo ra “phao” đem vào phòng thi thay vì học bất kì cái gì. Khi họ không học tốt, hoặc họ đổ lỗi do môn học quá khó, hoặc thầy giáo không giải thích rõ.
Khi Mandy trượt kì thi thứ nhất của tôi, cô ấy phàn nàn rằng cô ấy đã học hành chăm chỉ, nhưng bài thi của tôi KHÔNG phải là điều cô ấy mong đợi. Tôi hỏi: “Em mong đợi điều gì?” Cô ấy nói: “Em nghĩ thầy chắc sẽ hỏi nhiều về định nghĩa, cho nên em nhớ hết các định nghĩa này.” Tôi bảo cô ấy: “Điều đó dành cho trường tiểu học nơi học sinh học về các định nghĩa và từ vựng. Em bây giờ ở đại học; em cần hiểu khái niệm, không chỉ vài định nghĩa rời rạc. Tri thức KHÔNG phải là về định nghĩa. Mọi sự kiện và dữ liệu phải được kết nối để tạo thành thông tin để cho phép em hiểu cách phân tích và suy luận để cho em có thể áp dụng nó vào giải quyết vấn đề. Khi em đi làm, không ai hỏi em về định nghĩa. Nếu em quên cái gì đó, em có thể dùng “Google” hay “Wikipedia.” Ai bảo em ghi nhớ định nghĩa?” Cô ấy không trả lời, cho nên tôi tiếp tục: “Đó là thói quen học của em. Em KHÔNG biết cách học. Em nghĩ bằng ghi nhớ vài định nghĩa hay sự kiện và nhắc lại chúng để trả lời trong bài thi, nhưng em không bao giờ phát triển hiểu biết sâu về cách mọi sự vận hành. Chừng nào em chưa sẵn lòng thay đổi, em sẽ không bao giờ đỗ bài thi tiếp.”
Sau đó, tôi dành giờ lên lớp tiếp sau để nói về “Cách học ở đại học” trong đó tôi nhấn mạnh rằng cứ mỗi giờ trên lớp, học sinh phải dành ít nhất hai giờ học theo cách riêng của họ, không có nhạc, không có ăn, và hội tụ vào ba điều: “Tại sao, Thế nào và Làm sao.” Họ phải hiểu rằng việc học mất thời gian và nỗ lực, KHÔNG phải là cái gì đó họ có thể làm nhanh chóng và thất thường. Một trong những hiểu nhầm trong các học sinh đại học là họ tưởng họ biết cách học, nhưng thực ra, họ không biết. Tôi nghĩ mọi thầy giáo đều cần dạy cho học sinh của mình về chủ đề “cách học hiệu quả” vào ngày đầu của lớp để chắc học sinh hiểu rằng không có cái gì như kiểu “HỌC NHANH.”
—English version—
How to study
Many students go to college with misconceptions. The most common misconception among college students is they believe that being good at a subject is a matter of natural talent rather than hard work. Many students told me that they are not good at Math, cannot write code, or have no talent in science, etc. If they have any doubt about their abilities, they will not work hard and eventually fail in these subjects. Sometimes students told me that their parents want them to study in a subject, but they do not have talent, so they do not want to work hard because sooner or later they will fail.
Alan Chang was one of those students who told me that he was forced by his parents to study Computer Science even he could not write code. I asked him: “As a Chinese who grew up in America, did you have a problem learning the English language? He said: “When I came here as a 10-year-old child, I had difficulty, but after a few years, I speak English as well as anyone.” I asked: “How do you do that?” He answered: “I had to because all my friends speak English.” I asked: “What is the difference between learning English and learning how to code?” He thought for a moment and hesitated: “I do not know?” I explained: “There is no difference. Learning English and learning to write code is the same. They are all just languages. It is on your mind. If you think you cannot do it, then you will not. You need to have a “proper mindset,” such as “I can do it. I am good at it because I have spent a lot of time doing it.” Each week, I spend an hour with Alan and a few students like him helping them in coding. Last year, Alan graduated with honor in Computer Science, and now working for Facebook. He told me: “Teachers can play a significant role in helping students develop the proper mindsets. If you did not help me, I would never think that I could do it. Now I have a good career and make my parents very happy.” I told him: “It is you who make the efforts and overcome the problem. When you believe you can do something, you will do it. It is all in your mind.”
Many students think that learning is about just reading and memorize a few isolated definitions. If you look at the way some students study today, you will see that many would sit in a coffee shop with their ears connects to the iPhone playing music, drinking coffee, and quickly glance through the textbook. Many do not even study until a few days before the exam. Some would spend more time to create a “cheat sheet” to bring to the exam room instead of studying anything. When they did not do well, either they blame the subject is too hard, or the teacher is not explaining well.
When Mandy failed my first exam, She complained that she had been studying hard, but my exam is NOT what she was expected. I asked: “What do you expect?” She said: “I think you would ask for a lot of definitions, so I memorize these definitions.” I told her: “That is for the elementary school where students learn about definitions and vocabulary. You are now in college; you need to understand the concept, not just a few isolated definitions. Knowledge is NOT about definitions. All the facts and data must be connected to form information to allow you to understand how to analyze and reasoning so you can apply it to solve the problem. When you go to work, nobody asks you about definition. If you forget something, you can use “Google” or “Wikipedia.” Who told you about memorizing definition?” She did not answer, so I continued: “It is your studying habit. You DO NOT know how to study. You think by memorizing a few definitions or facts and recall them to answer in the exam, but you never develop a profound understanding of how things work. Unless you are willing to change, you will never pass the next exam.”
After that, I spent the next class to go over “How to study in college” where I emphasize that for every hour in class, students must spend at least two hours studying on their own, without music, without eating, and focus on three things: “Why, How, and How to.” They must understand that learning takes time and efforts, NOT something that they could do quickly and casually. One of the misconceptions among college students is they think they know how to study, but in fact, they do not. I think every teacher needs to teach their students on the topic of “how to study effectively” on the first day of class to make sure students understand that there is no such thing as “QUICK LEARNING.”
https://science-technology.vn/?p=5477
===
Cách học
08/08/2018
Phần lớn học sinh tập trung hoạt động học tập vào tài liệu SAU giờ lên lớp. Khi ở trên lớp, họ lắng nghe bài giảng và cố viết nhiều nhất có thể được vào vở của mình. Vì họ không thể viết nhanh hơn điều thầy cô nói, ghi chép của họ bao giờ cũng không đầy đủ. Sau giờ lên lớp, họ cố gắng học những ghi chép lộn xộn này đầy những thông tin và khái niệm thiếu sót. Một số học sinh phải so sánh ghi chép của họ với sách giáo khoa điều làm tốn nhiều thời gian và gây nhiều thất vọng hơn. Những người khác đợi cho đến phút cuối cùng trước khi thi mới học nhồi nhét các tài liệu không đầy đủ và hi vọng qua được kì thi.
Kiểu học này KHÔNG hiệu quả, tạo ra nhiều căng thẳng về thi cử nhưng đây là cách nhiều học sinh vẫn đang làm trong toàn bộ thời gian của họ ở trường.
Trong phương pháp học chủ động, thầy cô giáo nên đăng tài liệu bài giảng lên website hay để học sinh biết cái gì sẽ được dạy tiếp để cho học sinh có thể đọc chúng TRƯỚC KHI lên lớp và chuẩn bị cho bài giảng. Bằng việc dành một số thời gian học tài liệu trước họ có thể tiết kiệm nhiều giờ học không hiệu quả về sau.
Vào ngày đầu tiên của lớp, tôi bao giờ cũng khuyên học sinh đi theo hướng dẫn “Cách học” của tôi như sau: ---> phương pháp đảo ngược flipped classroom?
TRƯỚC KHI LÊN LỚP:
Hai ngày trước khi lên lớp, học sinh phải đọc mọi tài liệu và chuẩn bị cho bài kiểm tra ngắn hay trả lời các câu hỏi liên quan tới tài liệu đọc. Tài liệu đọc của tôi đều ngắn, thường mất quãng 30 phút để đọc cho nên nó không làm nặng cho họ.
Học sinh phải biết chủ đề và mục tiêu của bài giảng (tức là, nếu họ không biết họ đang học cái gì, họ không thể đi xa hơn). Tài liệu đọc của tôi phần lớn là những bài báo ngắn để cho họ biết về các khái niệm trong tài liệu bài giảng mà không đi xa hơn vào chi tiết.
TRONG KHI TRÊN LỚP:
Học sinh phải lắng nghe chủ động trong bài giảng vì họ đã được chuẩn bị.
Họ KHÔNG cần ghi chép vì tôi cũng đăng bài giảng của tôi (như, các slides và tài liệu tham khảo khác) trên website đi theo lớp. Tất nhiên, học sinh có thể viết ra các khái niệm chi tiết hay bất kì thông tin nhầm lẫn nào để cho họ có thể hỏi sau bài giảng.
Tôi thường đọc bài giảng quãng 15 phút rồi bắt đầu phiên hỏi và đáp để cho phép học sinh hỏi bất kì thông tin không đầy đủ hay nhầm lẫn nào. Thảo luận lớp thường đi theo sau phiên hỏi nơi học sinh được khuyến khích viết ra mọi thông tin trao đổi trong những phiên này vào vở của họ.
SAU KHI LÊN LỚP:
Trong vòng 4 giờ sau bài giảng, học sinh phải ôn lại ghi chép của họ để hiểu thông tin họ đã viết. Tôi thường khuyên họ so sánh ghi chép của họ với điều họ học TRƯỚC bài giảng và TRONG KHI trên lớp để nhận diện bất kì thông tin hay khái niệm nào còn bỏ sót. Họ phải kiểm với sách giáo khoa, tham chiếu tới slide bài giảng để lấp vào bất kì kẽ hở nào họ nghĩ còn bị thiếu. Đến lúc này, phần lớn học sinh đã học tài liệu ba lần cho nên họ phải có khả năng hiểu tài liệu đủ rõ. Nếu họ vẫn còn câu hỏi, họ có thể thảo luận với bạn bè trong nhóm học tập hay mang ra lớp ngày hôm sau trong phiên hỏi đáp.
Bằng việc có thông tin đầy đủ trong vở, với các khái niệm quan trọng, câu hỏi và câu trả lời, họ có thể ôn lại chúng trước khi thi và phần lớn đều học tốt trong toàn bộ thời gian của họ ở trường.
—English version—
How to study
Most students focus their energy to learn the material AFTER class. When in class, they listen to the lecture and try to write as much as they can on their notebook. Since they cannot write faster than what the teacher says, their note is always incomplete. After class, they try to study this confusing note full of missing information and concepts. Some students have to compare their note with the textbook which consumes more time and more frustrating. Others wait until the last minutes before the exam then cram these incompleted materials and hope to pass the exam.
This type of studying is NOT effective, creates more stress about exams but this is the way many students are still doing throughout their times in school.
In Active learning method, the teachers should post the lecture materials on a website or let the students know what will be taught next so students can read them BEFORE the class and prepare for the lecture. By spending some time learning the material earlier they can save many hours of ineffective study later.
On the first day of class, I always advise students to follow my “How to Study” guideline as follow:
BEFORE CLASS: Two days before the class, students must read all the materials and prepare to take a short quiz or answer questions related to the reading materials. My reading materials are short, often take about 30 minutes to read so it is not a burden to them. Students must know the topic and objectives of the lecture. (i.e., if they do not know what they are learning, they cannot go further). My reading materials are mostly short articles to let them know about concepts in the lecture materials without going further into the detail.
DURING CLASS: Students should be actively listening during the lecture since they are already prepared. They DO NOT need to take notes because I also post my lecture (i.e., slides and other reference materials) on the class website following the class. Of course, students could write down detailed concepts or any confusing information so they can ask after the lecture. I often lecture about 15 minutes then start the questions and answers session to allow students to ask any confusing or incomplete information. A class discussion often follows the questions session where students are encouraged to write down all information exchanges during these sessions on their notebook.
AFTER CLASS: Within 4 hours after the lecture, students should review their notes to understand the information that they wrote. I often advise them to compare their note with what they learn BEFORE the lecture and DURING the class to identify any missing information or concepts. They should check with the textbook, refer to the lecture slides to fill any gaps that they think are missing. By this time, most students already learn the materials three times so they should be able to understand the materials well enough. If they still have questions, they can discuss with friends during group study or bring to class the next day for questions and answers session.
By having a complete information in the notebook, with important concepts, questions, and answers, they can review them before the exam and most are doing well throughout their time in school.
https://science-technology.vn/?p=5914
===
Tương lai của giáo dục: viễn cảnh cá nhân
03/02/2017
Một cô giáo viết cho tôi: “Dễ nói về nhu cầu cải tiến hệ thống giáo dục, nhưng khó thay đổi nếu chúng tôi không biết nó có thể là gì. Viễn kiến của thầy về giáo dục trong tương lai là gì? Xin thầy lời khuyên.”
Tôi viết cho cô ấy: “Tôi chắc chắn hệ thống giáo dục trong tương lai sẽ khác với ngày nay. Khi công nghệ thay đổi, nhiều thứ sẽ thay đổi, và giáo dục không phải là ngoại lệ. Nó thay đổi nhiều chừng nào? Nó thay đổi nhanh chừng nào? Nó có vẻ thế nào trong mười năm hay hai mươi năm nữa kể từ nay là tuỳ thuộc vào nhiều yếu tố. Có nhiều ý tưởng khác nhau về giáo dục của tương lai sẽ là gì. Nhưng tôi muốn thấy điều đó:
“Mọi học sinh trung học đều nhận được hướng dẫn đúng về cơ hội nghề nghiệp từ lớp 10 và lập kế hoạch nghề nghiệp của họ tương ứng trước khi vào đại học. Khi họ vào đại học, tất cả họ đều có bản kế hoạch hay bản lộ trình nghề nghiệp được viết rõ làm chi tiết mọi môn học mà họ phải học để đáp ứng cho nhu cầu nghề nghiệp mà họ đã chọn. Bản lộ trình nghề nghiệp của họ là danh sách các tri thức và kĩ năng, được phát triển bởi cả hệ thống giáo dục và công nghiệp mà mọi người tốt nghiệp đều phải có để có được việc làm trong công nghiệp. Bản lộ trình xác định rõ ràng các kĩ năng và hiệu năng mà học sinh phải đạt tới.”
“Mọi hướng dẫn dạy học đều được ghi video và được đặt trực tuyến để phù hợp với số lớn học sinh. Học sinh sống ở những chỗ khác nhau, từ các thành phố lớn tới các thôn làng nhỏ, đều có thể học từ cùng các giáo sư vì họ có thể xem bài giảng trực tuyến. Nhưng họ phải tới lớp để làm việc trong các tổ và tham gia vào thảo luận trên lớp dưới hướng dẫn và huấn luyện của thầy giáo có đủ phẩm chất.”
“Mọi tài liệu đào tạo đều được chuẩn hoá để đảm bảo chất lượng của hệ thống giáo dục. Tài liệu dạy học và các chỉ dẫn liên tục được cải tiến dựa trên phần mềm thu thập hiệu năng của học sinh trong lớp. Mọi dữ liệu và thông tin giáo dục đều được thu thập, phân tích và tóm tắt thành “bảng điều khiển” cung cấp cho cả người quản trị nhà trường và phụ huynh trên cơ sở hàng tháng để họ có thể theo dõi dấu vết tiến bộ.”
“Mọi học sinh đều làm việc trong tổ để phát triển tri thức và kĩ năng của họ. Chương trình đào tạo trong lớp được tổ chức thành nhiều mô đun. Từng mô đun đều hội tụ vào tri thức hay kĩ năng đặc thù mà học sinh phải học. Học sinh sẽ có khả năng nhận diện, giải thích, sử dụng, phân tích, đánh giá và tổng hợp tri thức và phát triển các kĩ năng mà họ có thể dùng. Từng mô đun sẽ được tổ chức và làm dễ dàng cho học sinh học từ sai lầm của họ. Học sinh sẽ nhận ra rằng việc phạm sai lầm là một phần của quá trình học tập, không phải là thất bại. Từng mô đun đều tương đương với các tín chỉ nào đó. Khi học sinh tích luỹ đủ tín chỉ, họ sẽ tốt nghiệp.”
“Mọi phòng học đều được thiết kế để là chỗ mà học sinh học cộng tác và làm việc cùng nhau để giải quyết vấn đề dưới sự giám sát của thầy giáo có phẩm chất người trông nom việc học của họ và đánh giá hiệu năng của họ. Trong suốt thời gian ở đại học, học sinh sẽ có nhiều cơ hội đi thăm chỗ sử dụng lao động nơi họ gặp các nhà chuyên nghiệp đang làm việc ở đó. Qua hướng dẫn đúng, các cuộc đối thoại, và quan sát, học sinh có thể phát triển “cái nhìn sâu” vào lĩnh vực học tập của họ và nghề nghiệp tương lai.”
“Mọi học sinh sẽ dành quãng một phần ba thời gian giáo dục của họ để làm việc như thực tập hay học nghề trong công nghiệp để học nhiều hơn về nghề nghiệp của họ từ quan điểm thực hành, không chỉ lí thuyết. Tri thức và kĩ năng của họ trong thời gian này sẽ được đánh giá bởi các huấn luyện viên công nghiệp, người cũng đang làm việc cùng các thầy giáo nhà trường để đảm bảo rằng học sinh sẽ có kĩ năng được cần khi họ tốt nghiệp. Dữ liệu hiệu năng của học sinh trong thời gian này cũng sẽ được thu thập và phân tích cho việc cải tiến thêm bởi hệ thống giáo dục.”
“Mọi học sinh đều coi giáo dục trong trường chỉ là một phần của quá trình học tập của họ. Việc học sẽ tiếp tục trong cuộc đời làm việc của họ. Mọi học sinh sẽ phát triển thái độ học cả đời.”
Tất nhiên đây là ước muốn của tôi về hệ thống giáo dục tương lai có thể là gì. Tôi chắc có các chi tiết cần được thảo ra thêm. Nhưng tôi dành điều đó cho nhiều người trong các bạn thêm vào cách nhìn của các bạn và các chi tiết. Tôi hi vọng rằng bằng cách làm việc cùng nhau, chúng ta có thể giúp cải tiến hệ thống giáo dục của chúng ta cho thế hệ tương lai và cho tương lại của xã hội của chúng ta.
—English version—
The future of education: a personal perspective
A teacher wrote to me: “It is easy to talk about the need to improve the education system, but it is difficult to change if we do not know what it could be. What is your vision of the education in the future? Please advise.”
I wrote to her: “I am sure the education system in the future will be different from today. When technology changes, many things will change, and education is not the exception. How much does it change? How fast does it change? How does it look ten years or twenty years from nowis depending on many factors. There are many different ideas about what the education of the future will be. But I would like to see that:
“All high school students receive proper guidance about career opportunities since the 10th grade and plan their career accordingly before going to college. When they go to university, all of them have a well-written career plan or roadmap that details all the courses that they must take to meet the needs of the career that they selected. Their career roadmap is a list of knowledge and skills, developed by both the education system and the industry that all graduates must possess to get a job in the industry. The roadmap clearly defines the skills and performance that students must achieve.”
“All teaching instructions are videotaped and placed online to accommodate a large number of students. Students who live in different places, from big cities to small villages, can still learn from the same professors as they can watch the lectures online. But they must come to class to work in teams and participate in the class discussion under the guidance and coaching of qualified teachers.”
“All training materials are standardized to ensure the quality of the education system. The teaching materials and instructions are continuously improved based on software that collects students’ performance in classes. All education data and information are collected, analyzed, and summarized into a “dashboard” provide to both school administrators and parents on a monthly basis so they can track progress.”
“All students are working in a team to develop their knowledge and skills. The class curriculum is organized into several modules. Each module focuses on a particular knowledge or skill that students must learn. Students will be able to identify, explain, employ, analyze, evaluate, and synthesize knowledge and develop skills that they can use. Each module will be organized and make it easy for students to learn from their mistakes. Students will recognize that making a mistake is a part of the learning process, not a failure. Each module is equal to some credits. As students accumulate enough credits, they will graduate.”
“All classrooms are designed to be places where students learn to collaborate and to work together to solve problems under the supervision of qualified teachers who oversee their learning and assess their performance. Throughout the time in college, students will have many chances to visit the place of employment where they meet professionals who work there. Via proper guidances, conversations, and observations, students can develop an “insight” into their fields of study and future career.”
“All students will spend about a third of their education time working as interns or apprentices in the industry to learn more about their career from the practical point of view, not just theories. Their knowledge and skills during this time will be evaluated by industry coaches who are also working with school teachers to ensure that students will have the skills needed when they graduate. Students’ performance data during this time will also be collected and analyzed for further improvement by the education system.”
“All students consider education in school is only a part of their learning process. Learning will continue into their working lives. All students will develop a lifelong learning attitude.”
Of course. These are my wishes of what the future education system might be. I am sure there are details to be worked out. But I will leave it for many of you to add your views and the details. I hope that by working together, we can help improve our education system for future generation and the future of our society.
https://science-technology.vn/?p=5237
===
Đọc và học
04/02/2017
Vài năm trước khi dạy ở châu Á, tôi đã đương đầu với một tình huống mà học sinh phàn nàn về phân công đọc bài trong sách giáo khoa. Một học sinh phàn nàn: “Việc đọc được phân công trong sách giáo khoa là quá dài và quá khó.” Người khác nói thêm: “Chúng em phải đọc cả chương sao? Điều đó là quá nhiều, thầy có thể tóm tắt nó lại cho chúng em được không?” Học sinh khác hỏi: “Chúng em chỉ cần biết phần nào là quan trọng mà thầy sẽ đặt vào bài kiểm tra?”
Tôi ngạc nhiên và tự hỏi mình: “Những học sinh này muốn mình trích tài liệu quan trọng từ sách giáo khoa và ghi nhớ thành cái gì đó ngắn và dễ để họ đọc sao?” Thế là tôi hỏi lớp: “Đây là cách các giáo sư khác vẫn đang làm ở đây sao?” Học sinh giải thích: “Nhiều giáo sư tóm tắt từng chương cho chúng em đọc; những thầy khác tổ chức chúng thành bài trình bày powerpoint của họ để cho chúng em có thể học từ powerpoint.” Để hiểu tình huống này rõ hơn, tôi hỏi: “Vậy các em hiện giờ đọc kiểu sách nào? Các em đọc bao nhiêu sách bên cạnh sách giáo khoa?” Các học sinh nhìn tôi như kiểu tôi đang hỏi cái gì đó bên ngoài niềm tin của họ. Nhiều học sinh trả lời: “Chúng em không đọc sách nào thêm nữa, chúng chán lắm.” Tôi choáng: “Ngay cả sách khoa học sao? Sách lịch sử, tiểu thuyết lãng mạn hay võ thuật?” Một học sinh nói: “Với những tiểu thuyết đó, phần lớn chúng em ưa thích xem phim và các chương trình truyền hình thay vì đọc sách.”
Tôi đã từng dạy ở châu Á trong nhiều năm, nhưng trong vài năm qua, tôi đã đương đầu với một thế hệ mới các học sinh đại học người không đọc gì mấy. Những học sinh này lớn lên cùng với các thiết bị công nghệ như iPods, iPads, iPhones, v.v. Nhiều người không đọc mấy vì họ không bao giờ phát triển đầy đủ kĩ năng đọc. Khi họ còn trẻ, thay vì sách, bố mẹ họ thường mua cho họ iPhones và Nintendo. Công nghệ như trò chơi video, Youtube, Facebook, Twitter, Snapchat, và Instagram đã làm cho họ thành người đọc thụ động, người chỉ đọc cái gì đó ngắn, và giải trí. Khi họ phải đọc, nhiều người chỉ đọc lướt qua vài trang và tóm tắt. Họ không thể nhận diện được thông tin quan trọng từ sách giáo khoa, và tri thức của họ là “nông.” Một số người thậm chí còn có khó khăn với cấu trúc câu vì họ thường đọc những câu ngắn trong cách viết tắc theo “phong cách những người dùng Twitter.”
Tại sao những học sinh này không đọc sách giáo khoa thêm nữa? Vì các thầy giáo có xu hướng đọc bài giảng về tài liệu môn học, và học sinh thấy việc nghe bài giảng là dễ dàng cho họ vì mọi điều họ phải làm chỉ là ngồi và nghe. Một số giáo sư muốn chắc rằng học sinh sẽ qua được kì kiểm tra, cho nên họ tóm tắt tài liệu quan trọng cho học sinh đọc điều làm cho học sinh càng thụ động và lười biếng hơn. Một giáo sư thừa nhận: “Ngày nay, học sinh không đọc mấy vì có nhiều thứ làm sao lãng họ. Chúng tôi phải tóm tắt tài liệu cho họ, ít nhất họ sẽ học cái gì đó.” Tôi ngạc nhiên: “Nhưng nếu học sinh không đọc, làm sao họ có thể có hiểu biết sâu hơn về tài liệu được? Không có kĩ năng đọc, làm sao họ có thể phát triển được “việc hiểu sâu hơn” về các khái niệm và đi xa hơn vào việc học của họ?” Ông ấy lắc đầu: “Chúng tôi chỉ có thể làm chừng nấy thôi. Liệu họ học hay không là vấn đề của họ.”
Tôi không chấp nhận cách nhìn này. Mục đích của giáo dục không chỉ là truyền thụ tri thức và để học sinh thi đỗ bài thi, mà là chuẩn bị cho họ về cuộc sống phía trước và đóng góp cho xã hội. Tôi muốn thấy học sinh đam mê về việc học, là người học cả đời nơi họ bao giờ cũng học những điều mới và có khả năng nghĩ một cách phê phán và giải quyết vấn đề trong cuộc sống của họ. Mọi điều đó đều bắt đầu bằng việc phát triển tri thức sâu từ việc đọc sách. Với việc đọc nhiều sách, họ có thể nhìn vào mọi thứ từ nhiều góc cạnh, học từ người khác, và phát triển dũng cảm để vượt qua chướng ngại để đạt tới mục đích của họ. Chúng ta không thể phát triển thế hệ học sinh tiếp người không đọc mấy mà tuỳ thuộc vào ai đó giúp cho họ tóm tắt sự kiện để cho họ có thể ghi nhớ và thi đỗ kì thi, điều đó sẽ là thảm hoạ cho xã hội.
Là một người đọc sách nhiệt tình, tôi muốn nói với học sinh rằng họ sẽ bỏ lỡ nhiều điều kì diệu thế trong cuộc sống nếu họ không đọc sách. Không thành vấn đề với tôi liệu họ đọc từ sách in, laptop, iPads, hay iPhones, nhưng họ phải đọc sách. Điều họ không hiểu là truyền hình, phim ảnh và trò chơi video hiển thị các câu chuyện cho họ, và họ có thể xem thụ động mà không nghĩ, trong khi sách cho phép họ tưởng tượng nội dung, kịch bản, điều làm cho bộ não làm việc tích cực. Nhiều nhà khoa học tin tài năng sáng tạo bắt đầu bằng việc đọc và phát kiến xảy ra khi người ta có thể tưởng tượng. Khi dạy ở đại học, tôi yêu cầu đọc nhiều để chắc học sinh của tôi phát triển thói quen đọc tốt.
Sau khi nghe nhiều học sinh, tôi quyết định cho họ bài giảng ngắn: “Việc đọc là một phần của việc học của các em. Các em chịu trách nhiệm cho việc học của các em, và các em phải có giữ vai trò tích cực trong quá trình học. Với lớp của thầy, các em phải tới lớp mà “có chuẩn bị” điều có nghĩa là các em phải đọc chương được phân công trong sách giáo khoa trước khi lên lớp. Trong lớp của thầy, thầy sẽ không nói nhiều, nhưng các em phải làm việc nói về điều các em đã đọc và học. Tất cả các em sẽ phải đọc nhiều hơn vài chương trong sách giáo khoa. Các em sẽ phải đọc đa dạng những bài báo mới để hiểu điều đang xảy ra trong công nghiệp, và trên thế giới để cho các em có thể đặt quan hệ giữa chúng với nghề nghiệp của các em và cuộc đời của các em.”
“Là giáo sư thỉnh giảng, thầy chỉ tới đây để dạy vào mùa hè, và chúng ta chỉ có mười tuần. Nhưng điều các em học trong lớp này sẽ giúp cho các em trong tương lai. Dù các em có tiếp tục học thêm lên các mức thạc sĩ hay tiến sĩ hay tìm việc làm và xây dựng nghề nghiệp ở đây, các em cần có kĩ năng đọc tốt. Không, thầy sẽ không tóm tắt bất kì cái gì, và thầy sẽ không cho các em bài trình bày powerpoint ngắn vì thầy muốn cho các em cơ hội để cải tiến kĩ năng đọc của các em. Bằng việc đọc tài liệu trước khi tới lớp của thầy, các em sẽ có hiểu biết tốt hơn về các khái niệm. Bằng việc đọc trước khi tới lớp, việc thảo luận trên lớp sẽ có ý nghĩa hơn cho các em. Bằng việc lắng nghe nhiều quan điểm khác nhau, các em có thể tích hợp các cách nhìn và khái niệm khác nhau vào trong việc hiểu của các em. Bằng việc đọc trước khi tới lớp, các em sẽ có cơ hội hỏi thầy cái gì đó mà các em không hiểu.”
“Khi các em đọc sách giáo khoa hay bài báo khoa học, các em không chỉ học khái niệm mà còn thấy cách thức những khái niệm này được cấu trúc. Điều quan trọng với các em là hiểu cách từng chương được tổ chức, và cách từng mục được làm hợp thức với các sự kiện và dữ liệu từ nghiên cứu, và cách các thuật ngữ được làm chỉ mục. Đó là cách mọi tài liệu và bài báo kĩ thuật phải được viết ra. Bằng việc quen thuộc với việc tổ chức này, nó sẽ chuẩn bị cho các em về điều các em sẽ phải làm nếu các em tiếp tục các chương trình bằng cấp chuyên sâu (thạc sĩ hay tiến sĩ)”
—English version—
Blog1985- Reading and Learning
A few years ago when teaching in Asia, I encountered a situation when students complained about reading assignments in the textbook. A student complained: “The assigned reading in the textbook is too long and too difficult.” Another added: “Do we have to read the entire chapter? It is too much, can you summarize it for us?” Another student asked: “We only need to know which part is important that you will be on the test?”
I was surprised and asked myself: “Do these students wanted me to extract important materials from textbooks and summarized into something short and easy for them to read?” So I asked the class: “Is this the way other professors are doing here?” The students explained: “Many professors summarize each chapter for us to read; others organize them in their powerpoint presentation so that we can study from the powerpoint.” To understand the situation better, I asked: “So what type of book are you reading now? How many books do you read besides the textbooks?” The students looked at me as I was asking something beyond their belief. Several students answered: “We do not read books anymore, they are boring.” I was shocked: “Even Science books? History books, Romances or Martial arts novels? One student said: “For those novels, most of us prefer to watch movies and TV shows instead of reading books.”
I have been teaching in Asia for many years, but in the past few years, I encountered a new generation of college students who do not read much. These students grew up with technology devices such as iPods, iPads, iPhones, etc. Many do not read much because they never fully develop the reading skills. When they were young, instead of books, their parents often bought them iPhones and Nintendo. Technology such as video games, Youtube, Facebook, Twitter, Snapchat, and Instagram have made them into passive readers who only read something short, and entertainment. When they have to read, many only glances through a few pages and the summary. They cannot identify important information from the textbooks, and their knowledge is “shallow.” Some even have difficulty with the sentence structure because they used to read short sentences in the abbreviation of “Twitters style.”
Why do these students do not read textbooks anymore? Because teachers tend to lecture on the course materials, and students find it easier to let them lecture because all they have to do is just sit and listen. Some professors want to make sure that students will pass the test, so they summarize the important materials for them to read which make them more passive and lazy. A professor admitted: “Today, students do not read much because there are many things that distracted them. We have to summarize the materials for them, at least they will learn something.” I was surprised: “But if students do not read, how could they have a deeper understanding of the material? Without reading skills, how can they develop a “deeper understanding” of the concepts and go further into their learning?” He shook his head: “We can only do so much. Whether they learn or not is their problem.”
I do not accept this view. The goals of education are not just transmitting knowledge and let students passing tests, but preparing them for their lives ahead and contribute to the society. I want to see students be passionate about learning, be lifelong learners where they always learn new things and be able to think critically and solve problems in their lives. All of that begin with the development of deep knowledge from reading books. By reading many books, they can look at things from many perspectives, learn from others, and develop the courage to overcome obstacles to achieve their goals. We cannot develop the next generation of students who do not read much but depend on someone who helps them to summarize facts so they can memorize and passing exams, that would be a disaster for the society.
Being an avid book reader, I wanted to tell students that they will be missing so many wonderful things in life if they do not read books. It does not matter to me whether they read from printed books, laptop,iPads, or iPhones, but they must read books. What they do not understand is TV, movies and video games display the stories for them, and they can be passively watching without thinking, while books allow them to imagine the contents, the scenarios which make the brain working actively. Many scientists believe the creative talent starts with reading and innovations happen when people can imagine. When teaching at the university, I require a lot of readings to make sure my students develop a good reading habit.
After listening to several students, I decided to give them as a short lecture: “Reading is part of your learning. You are responsible for your learning, and you must take an active role in the learning process. For my class, you must come to class “prepared” which means you must read the assigned chapter in the textbook before coming to class. In my class, I will not talk much, but you must do the talking about what you are reading and learning. All of you will have to read more than a few chapters in the textbook. You will have to read a variety of news articles to understand what is happening in the industry, and in the world so that you can relate them to your career and your life.”
“As a visiting professor who only came here to teach in the summer, and we only have ten weeks. But what you learn in this class will help you in the future. Whether you will continue to further your study in the Master or Ph.D. levels or finding jobs and build a career here, you need to have good reading skills. No, I will not summarize anything, and I will not give you a short powerpoint presentation because I want to give you the opportunity to improve your reading skills. By reading the materials before coming to my class, you will have a better understanding of the concepts. By reading before coming to class, the class discussions will be more meaningful to you. By listening to many different views, you can integrate different views and concepts into your understanding. By reading before coming to class, you will have a chance to ask me something that you do not understand.”
“When you read a textbook or a scientific article, you are not just learning the concept but also seeing they way these concepts are structured. It is important for you to understand how each chapter is organized, and how each section is validated with facts and data from research, and how the terminologies are indexes. That is how all technical materials and papers should be written. By familiar with this organizing, it will prepare you for what you will have to do if you continue to the advanced degree programs (MS or Ph.D.)”
https://science-technology.vn/?p=5241
===
Cách học tốt hơn
06/07/2013
Ngày nay sinh viên đại học có nhiều sao lãng ngăn cản họ học tập. Nhiều sinh viên tới lớp mang theo máy laptop và thường nhận hay gửi email trong lớp. Một số người thậm chí còn chơi trò chơi máy tính trong giờ giảng. Với điện thoại thông minh, nhiều học sinh “nhắn tin” cho bạn bè thay vì nghe bài giảng. Là một giáo sư, tôi thường yêu cầu sinh viên đóng laptop của họ lại và tắt điện thoại di động trong bài giảng của tôi. Khi sinh viên nói với tôi rằng họ cần laptop để ghi chép, tôi bảo họ rằng mọi bài giảng của tôi đều sẵn có trực tuyến trước giờ lên lớp và họ nên in chúng ra và viết ghi chép của họ lên nó thay vì dùng laptop.
Tôi thường nhắc nhở các sinh viên rằng để thành công ở đại học, họ nên học là người nghe tốt. Mọi điều quan trọng mà sinh viên phải học thường được giáo sư trình bày trong bài giảng của họ. Bằng việc lắng nghe và hiểu bài giảng cho rõ, họ có nhiều cơ hội thành công hơn chỉ đọc sách giáo khoa. Có khác biệt giữa nghe và lắng nghe: Nghe là thụ động nhưng lắng nghe là chủ động. Lắng nghe yêu cầu sinh viên chú ý và nghĩ về điều họ nghe. Với phương pháp “Học qua Hành”, tài liệu môn học bao giờ cũng sẵn có cho sinh viên cho nên họ phải đọc và hoàn thành công việc được trao cho TRƯỚC khi tới lớp. Bằng việc đọc tài liệu trước, họ nhận biết về điều sẽ được dạy trong lớp và họ sẵn sàng học thêm. Đây là “lần thứ nhất” họ học.
Trong lớp khi lắng nghe bài giảng, sinh viên có thể nhận diện điều giáo sư mong đợi ở họ học và trắc nghiệp điều họ đã học. Điều này sẽ cho họ cảm giác về mục đích cho việc học của họ. Bởi vì sinh viên có thể nghĩ nhanh hơn giáo sư có thể nói cho nên họ có thể đánh giá điều được nói và điều họ đã học hay đã hiểu. Đây là lúc cho sinh viên hỏi các câu hỏi để làm sáng tỏ điều họ đã học và xác nhận hiểu biết của họ. Bằng việc hội tụ vào điều giáo sư nói, sinh viên có thể tránh được vấn đề để tâm trí họ vẩn vơ với những điều khác. Bằng việc là người học chủ động họ chọn lựa có ý thức về việc học của mình và đây là “lần thứ hai” họ học.
Trong khi sinh viên có thể nghĩ nhanh hơn giáo sư có thể nói nhưng họ không thể viết nhanh hơn cho nên ghi chép đòi hỏi họ ra quyết định về viết cái gì, thay vì viết mọi thứ. Vì họ in ra tài liệu bài giảng và viết ghi chép của họ lên nó, họ sẽ có nhiều “tài liệu học tập” đầy đủ để ôn lại. Điều này cho phép họ chú ý nhiều hơn đến cái gì là quan trọng và lọc loại ra những thứ không cần thiết. Bằng việc ghi chép tốt về điều giáo sư nói và có thái độ sẵn sàng, sinh viên được cam kết với việc học nhiều hơn. Sau giờ lên lớp, khi họ ôn lại những ghi chép của mình và so sánh với điều họ đã học, họ sẽ hiểu tài liệu tốt hơn. Đây là “lần thứ ba” họ học. Nhiều nhà nghiên cứu đã thấy rằng khi mọi người học cái gì đó ba lần, họ nhớ được tài liệu tốt hơn nhiều.
Là sinh viên đại học, bạn KHÔNG muốn chờ đợi cho tới thời gian thi kiểm tra để bắt đầu học. Bạn phải là “người học chủ động” ngay khi bạn bắt đầu lớp. ĐỪNG từ bỏ hay dừng việc lắng nghe khi bạn thấy tài liệu được dạy khó hiểu. Lắng nghe chăn chú hơn và làm việc chăm chỉ để hiểu điều được nói. ĐỪNG ngần ngại hỏi câu hỏi. Mọi giáo sư đều thích trả lời những câu hỏi bởi vì câu hỏi làm cho lớp quan tâm hơn, sống động hơn và có thể giúp họ cải tiến cách dạy. Nếu bạn duy trì được hội tụ và HỌC TẬP, bạn sẽ THÀNH CÔNG là cái chắc.
—-English version—-
How to study better
Today college students have so many distractions that prevent them from learning. Many students come to class with laptops and often receive or send emails during class. Some even play computer games online during lectures. With smart phones, many could “texting” with friends instead of listening to lectures. As a professor, I often ask students to close their laptops and turn off their mobile phones during my lecture. When students told me that they need laptops to take notes, I told them that all my lectures are available online before class and they should print them out and write their notes on it rather than using laptops.
I often remind students that to succeed in college, they should learn to be a good listener. All important things that students must learn are often presented by professors in their lectures. By listening and understand the lecture well, they have more chance to succeed than just reading textbooks. There is a difference between hearing and listening: Hearing is passive but listening is active. Listening requires students to pay attention and think about what they hear. With “Learning by Doing” method, course materials are always available to students before class so they must read and complete assigned works BEFORE come to class. By reading materials ahead of time, they are aware of what will be taught in class and they are ready to learn more. This is the “first time” they learn.
In class when listen to the lecture, students can identify what the professor expect them to learn and verify with what they have learned. This will give them a sense of purpose for their of learning. Because students can think faster than the professor can speak so they can evaluate what is being said and what they have learned or understood. This is the time for student to ask questions to clarify what they have learned and confirm their understandings. By focus on what the professor is saying, students can avoid the issue of let their minds wander to other things. By being an active listener they make a conscious choice about their learning and this is the “second time” they learn.
While students can think faster than the professor can speak but they cannot write faster so taking notes requires them to make decisions about what to write, instead of writing everything. Since they print out the lecture materials and write their notes on it, they will have more complete “Study materials” for review. This allow them to pay more attention to what is important and filter out unnecessary things. By taking good notes about what the professor says and have readiness attitude, students are committed to more learning. After class, as they review their notes and compare with what they have learned, they will understand the materials better. This is the “third time” they learn. Several researchers have found that when people learn something three times, they retain the materials much better.
As College students, you do NOT want to wait until testing time to begin study. You must be “active learners” as soon as you start the class. Do NOT give up or stop listening when you find the materials being taught difficult to understand. Listen more carefully and work hard to understand what is being said. Do NOT hesitate to ask questions. Every professor like to answer questions because questions make the class more interesting, more lively and can help them improve the way they teach. If you stay focused on LEARNING, you will SUCCEED for sure.
https://science-technology.vn/?p=2484
==
Việc đọc và bộ não
02/07/2013
Trong nhiều năm các nhà khoa học bao giờ cũng nghĩ rằng cấu trúc não con người không thay đổi sau tuổi thơ ấu. Nhưng trong 20 năm qua, đã có bùng nổ các khảo cứu chỉ ra bộ não người có tính thích ứng thế nào, và một trong những điều làm mê say nhất vừa mới được các nhà khoa học của Carnegie Mellon University công bố.
Viết trong tạp chí Neuron, các nhà nghiên cứu não Marcel Just và Timothy Keller nói rằng chỉ sau sáu tháng hướng dẫn đọc tập trung, trẻ con đã từng là người đọc kém đã không chỉ có khả năng cải tiến kĩ năng của chúng, mà còn tăng trưởng những kết nối chất trắng trong não của chúng. Cho dù một phần ba tới một phần năm học sinh cấp một không đạt tới cùng mức kĩ năng như nhóm các người đọc xuất sắc khác, kết nối chất trắng của chúng trong một con đường đặc thù ở bên trái não chúng đã trở nên vững chắc như những kết nối trong nhóm đọc hàng đầu. Trong khi đó, những người đọc kém, có tham dự các lớp thường mà không có hướng dẫn đọc tập trung không biểu lộ thay đổi nào trong kết nối mô não.
Chất trắng trong các sợi thần kinh chịu trách nhiệm kết nối khu vực “tư duy” này của não với khu vực khác. Nó tạo ra một nửa khối lượng não, và khảo cứu của Carnegie Mellon là một trong vài khảo cứu đã chứng tỏ rằng não thực tế có thể thay đổi các kết nối của nó qua việc học và đặc biệt qua việc đọc. Có nghiên cứu tăng lên về tầm quan trọng thế nào mà những đường nhỏ chất trắng này giúp cho não thực hiện các nhiệm vụ phức tạp. Tổ Just-Keller tại CMU đã chỉ ra trong một khảo cứu sớm hơn rằng miền chất trắng là không được tổ chức trong người lớn có bệnh tâm thần nghiêm trọng. Bây giờ họ đã chỉ ra rằng chất trắng trong trẻ em mà không có khả năng đọc có thể được tái tổ chức cho tốt hơn. Để đo các thay đổi này, các nhà khoa học dùng kĩ thuật quét não có tên là lấy ảnh căng cơ khuếch tán, nó phát hiện những thay đổi trong luồng nước chảy giữa các đường nhỏ chất trắng.
Ts. Just nói ông ấy không đặc biệt ngạc nhiên rằng những đứa trẻ được đào tạo thêm đã không thực hiện được như những đứa có kĩ năng như người đọc giỏi nhất trong lớp của chúng. Ông ấy nói: “Điều đó giống đưa những người khuyết tật thân thể, cho họ đào tạo nào đó nhưng rồi nói họ vẫn không đủ giỏi như vận động viên chuyên nghiệp.” Kết luận là những cải tiến chất trắng có liên quan nhiều tới bao nhiêu giờ chúng đọc hơn là chúng đọc tốt thế nào. Không có hoài nghi rằng mọi người đều có khả năng cải tiến não của họ bằng việc đọc nhiều hơn. Có một khảo cứu khác tại Oxford đem so sánh thành công của sinh viên đại học với khối lượng tài liệu mà họ đọc và thấy rằng đa số những người chiếm hàng đầu ở đại học, những người bao giờ cũng đứng đầu lớp họ, cũng là những người khao khát đọc. Một trong những sinh viên giỏi nhất thừa nhận rằng anh ta đọc trung bình hai cuốn sách một tuần trong mười năm qua. Các nhà khoa học bây giờ tin rằng việc học, đặc biệt việc đọc thực tế có thể làm thay đổi tình trạng thể chất của não và cải tiến hiệu năng. Một nhà khoa học Oxford nói: “Chúng tôi đã không có khả năng chứng minh rằng những người đọc nhiều hơn là giỏi hơn, tinh nhanh hơn hay thành công hơn nhưng chúng tôi có thể chứng minh được rằng việc đọc có thể làm tăng các mô kết nối trên não và có nhiều bằng chứng là những kết nối này có cái gì đó liên quan tới việc học cho nên chúng tôi có thể nói một cách an toàn rằng bạn càng đọc nhiều, bạn càng biết nhiều.”
Một điều mà Ts. Just và Ts. Keller của CMU vẫn đang cố làm sáng tỏ là đường nhỏ chất trắng được cải thiện trong những người đọc có thể tương ứng với khu vực chất xám vẫn được biết là “mạch thông minh”. Liệu có thể là bạn càng đọc nhiều, bạn sẽ càng trở nên tinh nhanh hơn không?
—-English version—-
Reading and the brain
For many years scientists always think that the structure of the human brain did not change after infancy. But in the past 20 years, there has been an explosion of studies showing just how adaptable the human brain is, and one of the most intriguing was just published by Carnegie Mellon University scientists.
Writing in the journal Neuron, brain researchers Marcel Just and Timothy Keller said that after just six months of intensive reading instruction, children who had been poor readers were not only able to improve their skills, but grew new white-matter connections in their brains. Even though these third- and fifth-graders did not achieve the same skill level as another group of excellent readers, their white-matter connections in one particular pathway on the left side of their brains became just as strong as those in the top reading group. Meanwhile, poor readers who attended regular classes without intensive reading instruction showed no change in the connecting brain tissue.
White matter in the nerve fibers is responsible to connect one “thinking” area of the brain with another. It makes up half the brain’s volume, and the Carnegie Mellon study is one of the few that have shown that the brain can actually change its connections through learning and especially reading. There is a growing research on how important these white-matter pathways are helping the brain perform complex tasks. The Just-Keller team at CMU had already shown in an earlier study that the white-matter tracts are disorganized in adults with autism. Now they have shown that the white matter in children with reading disabilities can be reorganized for the better. To measure the changes, the scientists used a brain-scanning technique called diffusion tensor imaging, which detects the changes in water flow along the white-matter pathways.
Dr. Just said he was not particularly surprised that the children who got additional training did not perform as skilled as the best readers in their classes. He said: “It is like taking people with a physical disability, giving them some training but then saying they are still not as good as professional athletes.” The conclusion was the white-matter improvements had more to do with how many hours they read than how good they were. There is no doubt that people are able to improve in their brains with more reading. There was another study at Oxford that compare the success of college students with the amount of materials that they read and found that a majority of top performers in college, the ones that always stay at the top of their classes are also avid readers. One of the best student admitted that he read on the average two books a week for the past ten years. Scientists now believe that learning, especially reading can actually change the physical contours of the brain and improve the performance. An Oxford scientist said: “We have not be able to prove that people who read more are better, smarter or more success but we can prove that reading can increase the connection tissues on the brain and there are many evidence that these connection has something to do with learning so we can safely saying that the more you read, the more you learn.”
One thing that Dr. Just and Dr. Keller of CMU are still trying to unravel is the white-matter pathway that improved in the readers may correspond to the gray-matter areas that are known as the “intelligent circuit.” Is it possible that the more you read, the smarter you will become?
https://science-technology.vn/?p=1354
===

.png)



0 Comments