Nếu Kitô giáo thực sự là chân lý, thì hoàn toàn không thể có chuyện những người biết chân lý và những người không biết lại có cùng một khả năng để sống một đời sống tốt lành. Việc hiểu biết sự thật tất yếu phải tác động đến hành vi của con người.
— C. S. Lewis, “Man or Rabbit?”
CHƯƠNG 1
Người Này Là Ai?
"Đức Giêsu là một người tốt.” Câu ấy là sai.
“Đức Giêsu là
một người tốt.” Câu ấy lại là đúng.
Vậy rốt cuộc là thế nào?
Làm sao Đức Giêsu vừa là người tốt, lại vừa không là người tốt? Để
mượn lời nhân vật Spock, biểu tượng của lý trí thuần túy trong
loạt phim truyền hình Du hành giữa các vì sao thời kỳ đầu, [ 1 ] “Lôgíc
đòi hỏi rằng một điều gì đó không thể vừa là A lại vừa không là A
cùng một lúc.” Trừ khi điều đó — hay đúng hơn, vị ấy — chính là Thiên-Chúa-làm-người. (1 The original series, created by Gene Roddenberry, aired on NBC, 1966– 1969.)
Nếu Đức Giêsu chỉ là một con người, mà lại tuyên bố mình là Thiên Chúa, thì phẩm chất đạo đức của Người quả đáng ngờ. Nhất là khi Người không chỉ tự cho mình là một “vị thần” trong số các thần vốn được xã hội thời ấy chấp nhận, mà là Thiên Chúa đích thực — Đấng Tạo Hóa và Chủ Tể của toàn vũ trụ. Người đón nhận sự thờ phượng, khẳng định mình không có khởi đầu, và hứa sẽ trở lại để phán xét toàn thể nhân loại. Người nói và hành xử như thể chính Người là Thiên Chúa — không phải nhất thời, trong những lúc cao hứng hay kiêu ngạo, mà là cách nhất quán. Người không để cho ai chỉ coi mình là một bậc hiền triết, một đạo sư, một nhà minh triết, hay đơn thuần là một người tốt bụng.
Các nhà tâm lý học thường sử dụng “cuộc phỏng vấn lâm sàng” để đánh giá tình trạng tâm trí của một người — cách họ suy nghĩ có rõ ràng, có hợp lý không. Nhiều khi, người được phỏng vấn sẽ dè dặt trong những câu trả lời ban đầu vì họ nghi ngờ mình đang bị phân tích, nên cố gắng thể hiện như một người “bình thường”. Nhưng khi đã thư giãn hơn, họ có thể trở nên cởi mở. Giả sử họ chia sẻ: “Tôi sắp nói cho anh điều chưa từng kể với ai: Tôi là George Wash- ington, tôi vừa sống lại từ cõi chết, và tôi sẽ tranh cử tổng thống.”
Câu “Tôi là George Washington” theo thuật ngữ tâm thần học là một ảo tưởng (delusion). Đó là một niềm tin trái ngược với thực tại, và bất chấp lý trí hay thuyết phục, vẫn kiên cố như đá. Đây là dấu hiệu của một chứng loạn thần hoặc rối loạn tâm thần nghiêm trọng.
Vậy nếu Đức Giêsu không phải là Thiên Chúa, mà vẫn chân thành tin mình là như thế, thì Người là một người bị rối loạn tâm lý trầm trọng. Dù điều này không có nghĩa là mọi tư tưởng của Người đều lệch lạc — vì trong thực tế, ảo tưởng không nhất thiết làm sai lệch toàn bộ nhận thức — nhưng nó sẽ cho thấy cốt lõi bản thân Người, tức ý thức về chính mình, là một sai lầm trầm trọng. Còn nếu Người biết rõ mình không phải là Thiên Chúa nhưng vẫn tuyên bố như thế để thu hút người nhẹ dạ, thì Người là một kẻ mạo danh, và điều đó đặt ra nghi vấn nghiêm trọng về phẩm hạnh của Người.
Nếu Đức Giêsu chỉ là một con người, thì giáo huấn của Người có thể được chấp nhận hay bị từ chối. Người chỉ là một tên tuổi trong danh sách dài các bậc hiền triết, hướng dẫn đời sống nhân sinh như Đức Phật, Gandhi, Tony Robbins hay ông Rogers. Dù lời Người có thể sâu sắc đến đâu, thì Người vẫn chỉ là kẻ hoang tưởng hoặc kẻ lừa gạt.
Nhưng còn một khả năng khác: Đức Giêsu là Đấng Người đã tuyên xưng mình là. Người là Thiên Chúa ở giữa chúng ta. Lý trí và các chứng cứ đưa ra một nền tảng vững chắc cho xác tín này — nền tảng đủ sức thuyết phục, nếu người ta khảo xét cách vô tư, không bị thành kiến chi phối. Bao nhiêu người hoài nghi đã tìm đến đức tin nhờ hành trình tìm kiếm chân thật ấy. Dù việc trình bày toàn diện điều đó vượt quá phạm vi cuốn sách này, ta có thể điểm qua vài lý do hợp lý dẫn tới niềm tin đó.
Khoa học không thể chứng minh hay bác bỏ thần tính của Đức Giêsu. Khoa học quan sát, đưa ra giả thuyết và kiểm nghiệm chúng. Việc Đức Giêsu hiện diện trên trần gian là một biến cố lịch sử, vượt ra ngoài khả năng tái hiện hay kiểm nghiệm của phương pháp khoa học.
Nhưng Kitô giáo hiện hữu. Vậy nó bắt đầu như thế nào? Và điều gì—hay ai—đã gìn giữ nó đến hôm nay?Biết bao nhà cai trị,độc tài, cả những đế chế hùng mạnh đã từng quyết tâm hủy diệt Kitô giáo. Thế nhưng, nó vẫn tồn tại. Giáo hội Công giáo là thiết chế cổ xưa nhất của văn minh phương Tây, vượt qua tất cả những thế lực từng bách hại mình. Tại sao? Nếu các tác giả Tin Mừng chỉ là những người khéo bịa chuyện để đánh lừa đám đông, thì họ thật vụng về. Họ rõ ràng chẳng nắm chút gì về “kỹ thuật tuyên truyền sơ đẳng”, vốn dạy rằng không bao giờ được mô tả các vị sáng lập trong hình ảnh tiêu cực.
Thế nhưng, các Tin Mừng đầy rẫy những câu chuyện về các tông đồ hành xử như những người ngờ nghệch, lúng túng, ích kỷ và sợ hãi. Thủ lãnh của họ, theo cả bốn Tin Mừng, đã ba lần chối không biết Đức Giêsu, dù trước đó đã từng sửng sốt trước các phép lạ và tuyên xưng Người là Con Thiên Chúa. Tại sao lại viết ra những điều bôi nhọ như thế về những người lãnh đạo của phong trào? Chỉ có thể là vì những điều ấy đã thật sự xảy ra, và điều duy nhất quan trọng đối với các tác giả là nói sự thật.
Chắc chắn đã có điều gì đó vĩ đại và chấn động khiến những người từng sợ hãi và bỏ trốn ấy trở nên những chứng nhân can trường, dám đối đầu cả giới lãnh đạo Do Thái và Đế quốc Rôma. Theo các nguồn lịch sử khác, họ rao giảng không sợ hãi cho đến khi chết cách đau đớn như các vị tử đạo, không một ai chối bỏ Thầy mình. Ai lại chết vì một kẻ nói dối hoặc một người bị hoang tưởng? Kinh Thánh tuyên xưng rằng phép lạ làm đảo lộn hoàn toàn tâm trí các tông đồ chính là việc Đức Giêsu sống lại từ cõi chết.
Chỉ có một tông đồ chết cách tự nhiên là Gioan. Khi tuổi đã cao, ông bị lưu đày bởi hoàng đế Rôma, nhưng vẫn không chối bỏ Đức Kitô, dù chỉ cần một lời là ông được tự do.
Một chi tiết nhỏ nhưng đầy sức thuyết phục về tính chân thực của các Tin Mừng là việc các phụ nữ là những người đầu tiên đến mộ vào sáng Chúa nhật. Trong xã hội lúc ấy, phụ nữ không được coi là nhân chứng đáng tin và không được phép làm chứng trước tòa. Vậy tại sao các Tin Mừng lại kể rằng chính các phụ nữ là người đầu tiên loan báo xác Đức Giêsu biến mất? Nếu chỉ nhằm viết một câu chuyện dễ tin, họ hẳn phải kể rằng những người đàn ông dũng cảm đã đến mộ và khám phá xác không còn. Một chi tiết như vậy chỉ có thể được viết ra nếu đó là sự thật, dù biết trước rằng nó sẽ bị nghi ngờ mạnh mẽ vì bối cảnh văn hóa thời đó.
Có một định kiến phổ biến rằng: “Đức tin không dựa vào lý trí hay lôgíc. Đức tin đơn thuần chỉ là một quyết định tin.” Một Kitô hữu nổi tiếng đã phản biện rằng: “Thiên Chúa ban cho chúng ta đủ bằng chứng để có thể tin cách hợp lý, nhưng không đủ để sống chỉ dựa vào lý trí mà thôi.”[ 2 ] (2 Ravi Zacharias, Twitter.com.)
Phán đoán căn tính của Đức Giêsu không giống như một phiên tòa
hình sự, nơi phán quyết phải dựa trên chứng cứ không thể chối
cãi. Nó giống như một phiên tòa dân sự, nơi phán quyết được đưa
ra dựa trên sự nghiêng lệch của các bằng chứng.
Một khi tâm trí và con tim đã xác tín rằng Đức Giêsu là Thiên Chúa, thì các hệ luận tất yếu theo sau:
1. Người là Đấng tốt lành. Thiên Chúa mặc lấy xác phàm chỉ có thể là Đấng tốt lành. Hơn thế, Người là con người hoàn hảo, không thể dối gạt hay lừa phỉnh. Người thấu suốt toàn thể tâm hồn con người — cả trong chiều hướng thánh thiện lẫn tội lỗi.
2. Người không có hai nhân cách. Người không thể vừa đầy khôn ngoan siêu việt lại vừa thốt ra những điều phi lý. Giáo huấn của Người không thể vừa là “đường, sự thật và sự sống” vừa là sản phẩm của một tâm trí lệch lạc. Nếu thế, trong lời Người hẳn phải lộ ra những phát ngôn kỳ quái khiến ta phải nhíu mày hay nói “Hả?”
Nhưng chẳng cần phải là nhà trị liệu để nhận ra ai đó đang rời xa thực tại. Giáo huấn của Đức Giêsu không hề có chút gì là hoang tưởng. Người ta có thể không tin hay không muốn sống theo, nhưng không thể nói rằng lời Người là phi lý.
3. Người đáng được vâng phục. Người không thể bị phớt lờ hay từ chối mà không kéo theo những hệ quả bất ngờ hay bất lợi. Khi Người truyền dạy: “Hãy nghĩ như thế này, đừng như thế kia” hay “Hãy hành động thế này, đừng như thế nọ,” Người làm vậy vì lợi ích của ta. Người biết rõ đâu là cách sống tốt nhất cho con người, vì chính Người đã dựng nên ta.
Điều gì sẽ xảy ra nếu sự khôn ngoan của Người mâu thuẫn với các “bậc thầy” khác? Nếu người ta cho rằng lời Người hợp với thời xa xưa hơn là thời nay? Nếu Người thách đố các quan điểm cấp tiến hoặc lên án chuẩn mực luân lý đang thịnh hành? Kể cả khi toàn thế giới chống lại Đức Giêsu, thì tiếng nói của Người vẫn là tiếng nói duy nhất đáng kể. Mọi tiếng nói khác, dù uyên bác hay hoa mỹ đến đâu, đều có thể sai. Chỉ riêng tiếng nói của Người mới vươn tới tầm cao vô biên vượt trên mọi hiểu biết nhân loại.
Sứ mạng chính yếu của Đức Giêsu là cứu chuộc nhân loại. Người sinh ra để chết như lễ tế hoàn hảo. Nhưng hơn ba năm công khai rao giảng, Người cũng dạy dỗ về tình yêu, con người và luân lý. Có những điều Người dạy vượt xa điều tâm lý học ngày nay mới bắt đầu hiểu được. Có những điều Người dạy lại hoàn toàn trái ngược với điều tâm lý học hiện đại rao giảng.
Vậy thì, ta nên lắng nghe ai? Nếu Đức Giêsu thật là Thiên Chúa...

%20(2).png)
.png)



0 Comments