banner top | SORE TODAY STRONG TOMORROW

ĐỪNG SỢ

TỰ THUẬT 1 - Nguyễn Thành Thống

 Tôi cho rằng sáu năm ở Tiểu chủng viện Sao Biển Nha Trang (1960-1966) là những năm quyết định sự hình thành những nét cơ bản định hướng và sở thích của tôi. Đó cũng là những năm tôi học được phương pháp làm việc: tự học và giờ nào việc nấy (age quod agis). Chính nhờ phương pháp này mà tôi đã có được những thành đạt hiện nay.



Cuốn sách đầu tiên tôi đã đọc say mê ngày đêm là cuốn Lỗ Bình Sơn trên hoang đảo, một bản dịch tiếng Việt cuốn Robinson Crusoe của Daniel Defoe. Sau đó là cuốn Vô gia đình (Sans Famille của Hector Malot). Và rồi đến Tâm hồn cao thượng (Les Grands Coeurs-Cuore- của Edmondo de Amicis). Tất cả đều là bản dịch tiếng Việt của Hà Mai Anh. Tôi đã đọc những cuốn sách này trong thời gian ở Tiểu chủng viện Sao Biển, Nha Trang. Chuyện trong sách vở làm tôi mơ mộng, hun đúc tình cảm và ý chí của tôi. Tôi vốn là người mơ mộng. Không sao! Ông tổ chế tạo xe Honda là tổ sư mơ mộng. The Power of Dreams.


Điều tôi muốn nói ở đây là người đã định hướng cho sự mơ mộng của tôi là Cố Hồng (Joseph Victor Clause 1901-1971). Thật vậy. Xuất thân là một đứa bé nhà quê của làng Cà Đú khỉ ho cò gáy, tôi lại mê thiên văn học và cổ ngữ! Tôi nghe mấy chú lớn đồn rằng Cố Hồng biết tiếng Do Thái và tiếng Hi Lạp. Đó là chưa nói, ngoài tiếng Pháp, cố còn biết tiếng Việt, tiếng Anh, tiếng Đức, tiếng Ý, tiếng Tây Ban Nha. Có những đêm tôi thấy cố nhìn trời ngắm sao. Chắc cố phải giỏi thiên văn hơn Cố Lành (Michel Gervier). Cố Lành chỉ nói suông chứ có ngắm sao bao giờ đâu. Chính vì phục Cố Hồng mà từ khi còn rất nhỏ tôi đã có ý định học thiên văn và những cổ ngữ của vùng Trung Đông, vùng Lưỡng Hà Địa (Mesopotamia). Và nhất là phải học tiếng Do Thái và tiếng Hi Lạp để đọc Kinh Thánh trong nguyên bản. Rõ là mơ mộng! Chuyện này về sau Cố Lành đã khẳng định: “Tu es un rêveur”. Cố Lành luôn nói với tôi như vậy mỗi khi tôi đến mượn cố cuốn Astronomie to đùng để xem (lúc ấy là vào năm lớp cinquième – 1964). Mãi mãi về sau tôi mới mua được cuốn sách này (Astronomie. L.Rudaux & G.De Vaucouleurs. 1956). Khi có được cuốn sách ấy thì những kiến thức về thiên văn học trong đó cũng đã lỗi thời rồi, nhưng tôi vẫn luôn giữ nó để làm kỷ niệm. Vì muốn giống Cố Hồng nên đêm nào tôi cũng nhìn sao. Vì không có ai chỉ dẫn nên tôi phải tự mày mò tìm lấy. Tôi tìm các chòm sao bằng cái bản đồ nhỏ xíu in trong cuốn Petit Larousse. Ngày nay tôi vẫn tự hào khoe với mọi người rằng mình có thể xác định được các sao và các chòm sao trên trời bằng mắt thường.

Năm 1981, trong bữa tiệc đám hỏi của tôi, chú vợ tôi là bác sĩ Nguyễn văn Thọ, lúc ấy đang nghiên cứu về thiên văn học Trung Hoa, đã hỏi đố tôi: trong chòm sao Orion, ngôi sao nào nhìn bằng mắt thường màu đỏ, ngôi nào màu xanh? Tôi đã trả lời ngay: sao Rigel đáng lý ra phải màu đỏ, vì chữ Rigel gần với chữ rouge, nhưng lại màu xanh; còn sao Bételgeuse lại là màu đỏ. Cũng vì thích thiên văn như thế nên bắt đầu từ năm lớp seconde đến hết năm lớp terminale tôi đã học rất giỏi môn physique (vật lý). Tôi có ý định trở thành nhà thiên văn học! Vì thế, năm 1969, tôi đã đến xin Đức cha Thuận (tức Đức Hồng Y Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận sau này) về, không đi tu nữa. Đức cha đã thuyết phục được tôi, từ chuyện xin ra tôi đồng ý đi probation (đi giúp xứ)! Thế mới biết tài thuyết phục của Đức cha Thuận. Nhưng sau đó ngài lại đổi ý, cho tôi ra, và ngài “bắt” tôi phải ở trong cư xá Đắc Lộ thuộc Trung Tâm Đắc Lộ Saigon của các cha Dòng Tên. Chính vì quyết định này của Đức cha mà tôi vẫn thường nại cớ việc tôi xuất là theo quyết định của bề trên.


Khi vào Sài Gòn học, tôi lại không học vật lý mà học tiếng Anh và tiếng Việt! Trời trớ trêu như vậy đó. Thế mới biết mưu sự tại nhân thành sự tại thiên. Thật ra tôi tin vào sự Quan Phòng hơn. Đâu ai ngờ về sau tôi lại sống bằng nghề dịch thuật; chủ yếu là dịch từ tiếng Anh sang tiếng Việt. Và tiếng Anh là chìa khóa để tôi mở tung mọi lãnh vực. Trong tạp chí Kiến Thức Ngày Nay, số 506, ra ngày 1.9.2004, tôi có nói với người viết bài về tôi: “…chỉ cần biết tiếng Anh là có thể học được nhiều ngoại ngữ kể cả cổ ngữ Sumer!” Thế là từ bỏ mộng trở thành nhà thiên văn, nhưng tôi vẫn còn thích thiên văn. Hiện nay ban đêm tôi vẫn còn ngắm sao trên sân thượng và tôi thường nói đùa với bạn bè là nhà thiên văn Trịnh Xuân Thuận chính là hóa thân của tôi. Nhưng mơ ước học những cổ ngữ vùng Trung Đông thì vẫn luôn “cháy bỏng trong tôi” và từ từ tôi đã thực hiện được.


Rất tiếc tôi đã không được học tiếng Do Thái và tiếng Hi Lạp với cố Hồng, vì Tiểu chủng viện không dạy hai cổ ngữ này. Trong các Đại chủng viện ở Việt Nam hiện nay cũng không có dạy. Thật đáng tiếc! Đã nhiều lần tôi đề nghị với Cha giám học Đại chủng viện Sao Biển Nha Trang để tôi dạy không lấy tiền hai cổ ngữ này, nhưng không được chấp thuận. Cũng phải thôi. Đâu ai biết trình độ của tôi tới đâu, hơn nữa các Đại chủng sinh bao giờ cũng cho rằng mình học quá tải rồi. Như đã nói, tôi không được học những linguae sacrae (ngôn ngữ thánh) này với Cố Hồng, nhưng tôi đã chọn cố làm cha linh hướng và được học tiếng Anh và tiếng Latinh với cố. Tôi đã học hai môn này rất giỏi và tôi còn nhớ như in chữ viết nhỏ nhắn và đều đặn của cố viết trên vở của tôi. Thật ra tôi chưa từng nghe Cố Hồng đề cập đến hai cổ ngữ này bao giờ. Trên kệ sách của cố tôi cũng chẳng thấy cuốn sách tiếng Do Thái tiếng Hi Lạp nào. Tại sao tôi biết? Chuyện là thế này: cố thường ngồi giải tội ở bên trong, phía sau màn, thế là tôi tranh thủ mò tìm sách mỗi khi tôi đứng chờ tới phiên mình ở phòng ngoài của cố! Nói ra điều này tôi không có ý nghi ngờ vốn liếng tiếng Do Thái và tiếng Hi Lạp của cố. Các chú lớn đã nói thế, làm sao sai được? Cố savant (thông thái) như thế phải biết chứ. Tôi cứ ôm ấp mãi ước muốn học tiếng Do Thái và tiếng Hi Lạp để đọc Kinh Thánh trong nguyên bản nhưng không thực hiện được, vì lúc ấy theo như tôi biết, chỉ ở Giáo Hoàng Học Viện Đà lạt mới có giáo sư dạy tiếng Do Thái và Hi Lạp. Nhưng ở đó cũng không dạy chính khóa hai cổ ngữ đó.


Mãi cho đến năm 1972, sau khi tốt nghiệp Đại Học Sư Phạm Sài Gòn ra trường đi dạy tôi mới thực hiện được mong ước. Nhưng lần này tôi lại học tiếng Do Thái và tiếng Hi Lạp với một Mục sư Tin lành người Mỹ, tiến sĩ Orrel Steinkamp, giáo sư Thánh Kinh Thần Học Viện Nha Trang. Trường hợp tôi gặp vị mục sư này cũng thật hy hữu. Một buổi chiều  năm 1972 tôi đang đi lang thang trong khu vực của Thánh Kinh Thần HọcViện trên đồi cạnh Hòn Chồng Nha Trang tôi thấy một ngả rẻ vào ngôi nhà thờ nhỏ của Viện. Có một bản nhỏ ghi không cho phép vào khu vực cấm này, nhưng tôi cứ vào. Một chiếc Volswagen màu trắng đang xổ dốc, thấy tôi đang đi vào khu vực cấm, một ông người Mỹ ngừng xe lại nói bằng tiếng Việt rằng tôi đang đi vào một khu vực cấm. Tôi nói ngay rằng tôi nghĩ đây là Thánh Kinh Thần Học Viện nên chắc chắn có thầy dạy tiếng Do Thái và tiếng Hi Lạp ở đây, tôi muốn gặp vị giáo sư đó. Ông người Mỹ đó bảo ông chính là người day tiếng Do Thái và tiếng Hi Lạp ở đây. Vâng đó chính là mục sư Orrel Steinkamp. Mục sư đang trên đường đi đánh tennis bên Nha Trang nhưng thấy tôi “hơi lạ” nên mục sư quyết định bỏ buổi đáng tennis đó, quay xe lại đưa tôi vô nhà. Sau giây phút làm quen và biết tôi muốn học tiếng Do Thái và tiếng Hi Lạp, mục sư cho tôi mượn cuốn Teach yourself Hebrew (1965) của R.K.Harrison. Một tuần lễ sau tôi quay lại thưa rằng cuốn sách đó “chả làm ăn gì được”, tôi muốn học thực sự để đọc được Kinh Thánh trong nguyên bản. Và thế là việc học hai cổ ngữ này được bắt đầu tại ngay nhà mục sư. Sách thì mục sư cho mượn. Đó là cuốn A Practical Grammar for Classical Hebrew (1967) của J.Weingreen và cuốn The Elements of New Testament Greek (1971) của J.W.Wenham. Đây là hai cuốn sách giáo khoa kinh điển mà ai học Do Thái và Hi Lạp Kinh Thánh bằng tiếng Anh đều biết. 
Về sau mục sư còn trang bị cho tôi một cuốn Langenscheidt Pocket Hebrew Dictionary (1969) của Dr. Karl Feyerabend. Vào mùa hè năm đó mục sư về Mỹ nghỉ hè nên đã mua những cuốn sách mới cho tôi, tôi đã xin mục sư cho tôi được giữ luôn những cuốn sách đang mượn, để làm kỷ niệm, còn mục sư thì dùng những cuốn mới mua. Mục sư đã đồng ý và tôi đã gửi lại tiền sòng phẳng rất ư là Mỹ. Sau này tôi còn mua được cuốn A Concise Hebrew and Aramaic Lexicon of the old Testament (1971) của William L. Holladay chủ biên. Thế là có đủ dụng cụ học tập. Ngày nay tôi vẫn trân trọng giữ những kỷ niệm ấy. 

Cách thức học thì như sau: hằng tuần tôi đến nhà thầy hai lần để làm bài tập và xem thầy sửa bài đồng thời đưa ra những thắc mắc; phần ngữ pháp thì tôi tự học trước ở nhà. Mục sư Orrel Steinkamp là người rất khiêm tốn và cẩn thận. Mỗi khi tôi hỏi những điều “cắc cớ” ông không trả lời ngay được, bao giờ ông cũng bảo hãy để ông tra cứu lại lần sau sẽ trả lời chính xác. Tôi đã học được sự khiêm tốn và cẩn thận này nơi mục sư. Và từ đó tôi không bao giờ “đối phó” với học trò của tôi mỗi khi có một hoc trò nào của tôi “đưa tôi vào thế bí”. Tôi học như vậy được ba năm thì giáo sư phải về nước vào năm 1975. Lúc ấy tôi đã bắt đầu đọc được lai rai Kinh Thánh trong nguyên bản rồi. Từ đó đến nay tôi cứ phải ôn đi ôn lại hoài để khỏi quên. Tôi đã cố tìm ai đó để dạy nhưng “chả ma nào” chịu học cả. Người ta bảo khó và không thực tế!


Khoảng năm 1995, nhân đọc tập sách Chúa Kitô đã sống lại của Linh Tiến Khải (tức linh mục Hoàng Minh Thắng, một bạn học cũ của tôi ở collège d’Adran Dalat, một học viên của Pontificium Institutum Biblicum Roma) tôi biết được “…Những khám phá trong lãnh vực cổ ngữ trong các thập niên vừa qua đã giúp các dịch giả và chuyên viên Kinh Thánh hiểu biết Kinh Thánh rõ ràng và chính xác hơn. Chúng tôi muốn nói đến hai thứ tiếng Ugarít và Ebla là hai thứ tiếng đã gây chấn động trong giới học giả Kinh Thánh, và hiện đang giúp rất nhiều trong việc hiểu biết bản văn Kinh Thánh Cựu Ước Do Thái.” (sđd. trg. 2). Thế là tôi bắt đầu tìm sách để tự học hai cổ ngữ này. Tìm là được. Chuyện khó tin nhưng có thật. 

Nhân một chuyến Đức Giám mục Địa phận Nha Trang (Phaolô Nguyễn Văn Hòa) đi Giêrusalem, tôi đã tranh thủ nhờ ngay. 5 giờ chiều hôm trước ngày Đức Cha đi Saigon để từ đó bay sang Giêrusalem tôi đã vào gặp Đức cha. Tôi còn nhớ rõ như in cuộc đối đáp hôm đó. “Thưa Đức cha, con muốn nhờ Đức cha tìm hộ cho con hai cuốn sách ở Giêrusalem.” – “Thầy chờ tôi lấy sổ ghi.” – “Con đã ghi ra giấy rồi đây.” – “Nhưng phải ghi vào sổ để khỏi lạc.” Trời đất ơi! Đức Giám mục Chủ tịch Hội Đồng Giám Mục Việt Nam đó! Servus servorum (Đầy tớ của các đầy tớ) đó! Không biết nói gì nữa. Silence absolu! Tôi chỉ biết thốt lên: Deo gratias! (Tạ ơn Chúa!).

Về sau ngài còn kể cho tôi nghe khi ngài nhờ một cha giáo sư ở trường Kinh Thánh Giêrusalem tìm hai cuốn sách Ugaritic này  cha giáo sư đã thắc mắc không hiểu ở Việt Nam mà có ai lại cần đến những cuốn sách như vậy. Ngài đã trả lời cha giáo kia rằng “thế mà có người lại muốn học!” Và từ hôm ngài mang hai cuốn sách đó về đến nay – mười mấy năm rồi! – tôi vẫn còn áy náy và hối hận vô cùng vì đã làm phiền Đức cha đến như thế, trong khi ngài đang muôn công nghìn việc. Và càng học tôi càng thấy rằng bể học thật mênh mông. Tôi biết rằng phải học những cổ ngữ khác nữa, cổ hơn nữa.  


Năm 2003 tôi đã nhờ Hoàng Trần Vạn Thành, một học trò cũ hiện nay là một kỹ sư của NASA – một học trò “có hiếu” nhất trong số các học trò của tôi và có thể nói đây là trường hợp độc nhất vô nhị – tìm mua những sách dạy tiếng Ai Cập cổ đại để tự học chữ viết trong các kim tự tháp! Rõ là mơ mộng! Tôi cũng đã nhờ Hoàng Trần Vạn Thành tìm mua những sách dạy tiếng Xu-me (Sumerian), Ác-cát (Akkadian). Và gần đây Hoàng Kim Thát, một “đàn em” cựu tiểu chủng sinh Sao Biển thấy tôi đang cần sách về ngôn ngữ Eblaite đã mua biếu tôi một cuốn tôi đang tìm. Sau đó tôi có “trao đổi văn hóa” với một cô bạn luật sư bên Canada để có được hai cuốn sách khác viết về ngôn ngữ Eblaite. (Tôi gửi cho cô ta những tài liệu về văn hóa Chàm, vì cô đang cần những tài liệu này để viết một cuốn tiểu thuyết có cái nền là  cuộc hôn nhân của Chế Mân – Huyền Trân công chúa, đổi lại cô gửi mua cho tôi những cuốn sách tôi cần). Thế là đến bây giờ tôi đã có đầy đủ sách vở về các cổ ngữ mà tôi muốn học. 

Sở dĩ tôi nói tất cả những chuyện này là vì hai lý do: thứ nhất là để bạn bè thân tín gần xa biết hobby của tôi mà giúp đỡ; thứ hai là để cho mọi người thấy hạt giống mà Cố Hồng gieo đã đâm rễ bàn tràn lan như thế nào và sở dĩ ngày nay tôi được như thế này là nhờ có nhiều “ân nhân” giúp đỡ.


Tuy tôi chỉ học với Cố Hồng hai năm lớp cinquième và quatrième, nhưng người đã tạo ấn tượng rất mạnh trong đầu óc của tôi và chính người đã thực sự định hướng cho những ước mơ của tôi. Có người sẽ hỏi tại sao Cố Hồng không định hướng ước mơ làm linh mục. Đó là ý định của Thiên Chúa. Thiên Chúa đã nói ra ý định của Ngài thông qua quyết định của bề trên là Đức hồng y Phanxicô. Ngài muốn tôi là một giáo dân; nói đúng hơn là một trí thức công giáo. Tôi luôn ý thức điều này. Hiện tại tôi sống bằng sách; nói cụ thể là đẻ ra sách. Và sách là một phương tiện phục vụ Giáo Hội rất tốt. Người ta thường nói “mang nặng đẻ đau”. Đẻ ra sách cũng đau lắm; không phải dễ ăn đâu. Vì thế tôi cũng cần thư giản. Chính những cổ ngữ mà tôi nói ở trên là phần thư giản của tôi. Việc học cổ ngữ tạo cho tôi sự nhiệt tình hăng say. Điều này quan trọng lắm.

Đúng như nhà Ai cập học J. F. Champollion đã nói: “L’enthousiasme seul est la vraie vie”.
Thế mới biết thời niên thiếu quan trọng biết chừng nào!

Nguyễn Thành Thống
https://petruspaulusthong.wordpress.com/2017/02/10/tu-thuat-1/
----

Người mê chữ
KHUÊ VIỆT TRƯỜNG01/02/2004

https://cuoituan.tuoitre.vn/nguoi-me-chu-18131.htm

Anh Nguyễn Thành Thống bên bia đá Cà Đú, Ninh Thuận - Khuê Việt Trường
TTCN - Những người bán sách cũ trên các đường phố Sài Gòn hôm nay không lạ gì anh, người thường đến đó lục lọi trong đám sách cũ của họ những cuốn sách tiếng Chăm, tiếng Đức, tiếng Na Uy, Nhật... hay bất kỳ một thứ tiếng nước ngoài nào đó được đem tới cửa hàng từ những người bán ve chai. Tìm thấy những cuốn sách kén người mua ấy là cả một niềm vui lớn đối với anh. Anh quí chúng như vàng. Người bán sách cũng không bao giờ đòi anh với giá cao dù anh chẳng khi nào kỳ kèo giá cả.

Trong căn nhà của anh trên đường Nguyễn Trãi, Nha Trang có một thư viện đầy ắp sách. Ở đó các tác phẩm văn chương nguyên bản của cả thế giới đều có mặt và được anh phân loại cẩn thận. Không có một hạt bụi nào bám vào những cuốn sách quí của anh. Để chúng không bị hư hỏng khi cần nghiên cứu nhiều lần, anh đã photocopy thêm một bản, còn bản gốc nằm trên giá sách.

Bên dưới vầng trán rộng là đôi kính cận khá dày và nụ cười nhân hậu, kẻ mê sách cho biết: “Có nhiều cuốn sách nói thật chỉ tôi mới có vì chúng xưa cũ lắm rồi, cũng có nhiều cuốn tôi phải nhờ bạn bè tìm mua hộ ở nước ngoài gửi về”. Ngoài sách, trong căn nhà ít khi có khách của anh nơi nào cũng treo tranh thủy mặc của họa sĩ Trương Lộ và bày gốm Chăm của nhà điêu khắc Đoàn Xuân Hùng.

Nguyễn Thành Thống là dịch giả và người làm từ điển. Anh đã dịch 70 đầu sách của những nhà văn nổi tiếng trên thế giới, đã biên soạn năm bộ từ điển khá đồ sộ. Trong đó, đứa con mà anh tâm đắc nhất là Từ điển truyền thông đa ngôn ngữ với 2.500 từ thông dụng được đối chiếu nhiều ngôn ngữ khác nhau. Nhưng chuyện làm từ điển với anh chỉ để mưu sinh, còn công việc chính hiện nay của anh là nghiên cứu chữ viết Do Thái cổ và chữ viết Chăm cổ. Lặng lẽ nghiên cứu một mình, đến nay Nguyễn Thành Thống có cả một kho tàng tri thức về văn hóa Chăm cổ.

Sinh năm 1950 tại Ninh Thuận, Nguyễn Thành Thống theo cha mẹ vào Nha Trang sinh sống, học trường Pháp tại Nha Trang và Trường Yersin tại Đà Lạt, có bằng tú tài Pháp. Lên đại học anh học ngành sư phạm khoa Anh tại Sài Gòn; sau ngày giải phóng Nguyễn Thành Thống vừa dạy học vừa dịch thuật văn học tiếng Anh, tiếng Pháp.

Cuốn sách anh dịch đầu tiên là Mặt trăng và đồng sáu xu của Somerset Maugham (nhưng khi in người biên tập của nhà xuất bản lại sửa thành Mặt trăng và sáu xu vì nghĩ rằng làm gì có đồng sáu xu!). Từ đó, Nguyễn Thành Thống được Nhà xuất bản Phú Khánh mời về làm biên tập viên. Anh vừa dịch, vừa viết nghiên cứu dưới nhiều bút danh khác nhau: Nguyễn Thành Thống, Thiên Hựu, Sao Biển, Đa Lộc…

Để có một bản dịch thật trung thực, Nguyễn Thành Thống luôn cố gắng dịch tác phẩm văn học từ nguyên tác thay vì thông qua một ngữ thứ ba. Và để làm được điều đó, anh đã học được 10 ngôn ngữ khác nhau. Mặt khác, với mỗi tác phẩm anh có rất nhiều bản dịch bằng nhiều thứ tiếng để có thể so sánh cách dịch của từng dịch giả. Trong căn nhà có tới một kho mấy nghìn cuốn sách, trung bình mỗi tháng Nguyễn Thành Thống dịch xong một cuốn sách 300 trang.

Để nghiên cứu chữ Chăm cổ, ngoài khá nhiều sách bằng nhiều thứ tiếng về văn tự cổ này; Nguyễn Thành Thống phải dành thời gian nghiên cứu, đọc các bia ký ở Trà Kiệu (Đà Nẵng), Bình Định và đến Ninh Thuận đọc những thư tịch cổ của người Chăm. Chính Nguyễn Thành Thống đã phát hiện tại núi Cà Đú, Ninh Thuận có tới ba bia văn tự cổ Chăm. Anh bảo cuộc hành trình nghiên cứu văn tự Chăm cổ của anh chỉ mới bắt đầu ở tuổi 54 nhưng anh chẳng bao giờ mệt mỏi trong hành trình gian khó đó.


----

NGUYỄN THÀNH THỐNG Còn gọi: Petrus Paulus Thống. Bút danh: Thiên Hựu.

Sinh năm 1949 (Kỷ Sửu) tại làng Cà Đú, xã Hộ Hải, tỉnh Ninh Thuận. (Trong giấy tờ ghi năm 1950.)

Học ở các trường: Petit Séminaire Stella Maris Nha Trang, Institut de la Providence de Huế, Collège d’Adran Dalat, Đại Học Văn Khoa Dalat, Đại Học Khoa Học Sài Gòn, Đại Học Văn Khoa Sài Gòn, Đại Học Sư  Phạm Sài Gòn.

Chơi Hướng Đạo (Việt Nam) từ năm 1966, ở Tráng Đoàn Hoan Thiện Huế, Tráng Đoàn Hùng Vương Dalat, Thiếu Đoàn Lê Lợi Dalat.

Từ năm 1969 đến năm 1972 là sinh viên nội trú của Foyer Alexandre de Rhodes, thuộc Centre Alexandre de Rhodes, 161 Yên Đỗ Sài Gòn. Tuy đây không phải là một Trường Đại Học, nhưng là một Trung Tâm Giáo Dục đã góp phần rất lớn trong việc hình thành kiến thức và nhân cách con người.

Từ 1972 đến 1975: Giáo sư đệ nhị cấp Trường Trung Học Diên Khánh, Khánh Hòa và Petit Séminaire Stella Maris Nha Trang.

Từ 1975 đến 1986: Giáo viên các Trường THPT: Trần Bình Trọng, Vừa Học Vừa Làm Suối Dầu, Hoàng Hoa Thám, thuộc Tỉnh Khánh Hòa.

Từ 1986 đến 1992: Biên tập viên Nhà xuất bản Khánh Hòa.

Từ 1992 đến 2002: Giảng viên Đại Chủng Viện Sao Biển Nha Trang.

Hiện nay: Viết, dịch, nghiên cứu, làm việc nhà, dạy học khi có yêu cầu, và đi du lịch.

Có học một số ngoại ngữ. Cụ thể có thể và thường phải làm việc (vì yêu cầu công việc) trên các bản văn Pháp, Anh, Đức, Ý, Tây-ban-nha, Bồ-đào-nha, Ả-rập, Hipri, Aram, Hi-lạp, La-tinh, Hán, Sanskrit, Tây-tạng, Khmer, Chăm, Chu-ru và Ra-glai, nhưng không thể gọi là “rành” hoặc thông thạo, vì học ở Việt Nam và phần lớn là tự  học. (Đối với các ngôn ngữ  Pháp, Anh, Đức, Hipri, Hi Lạp, La-tinh, Hán, được may mắn học trực tiếp với thầy giáo bản ngữ hoặc nước ngoài; còn các ngôn ngữ khác chủ yếu tự học qua sách vở. Ngoài  Pháp ngữ và Anh ngữ  ra, học các ngôn ngữ  khác chỉ nhằm để đọc là chính.)

Đang học các cổ ngữ-cổ văn tự: Xume (Sumerian), Cổ Ai-cập (Egyptian), Áccát (Akkadian), Ugarít (Ugaritic), Ebla (Eblaite), Híttit (Hittite), Êthiôpi (Ethiopic), Giáp cốt văn (甲骨文).  Rất quan tâm đến Chữ  Nôm, đặc biệt là “Chữ  Nôm Công Giáo” còn quen gọi là “Chữ Nôm Majorica”, “Chữ Nôm nhà đạo”.

Sở thích: Ngôn ngữ-Chữ viết cổ đại, Thiên văn hoc, Khảo cổ học, Ngôn ngữ học, Nhân học Văn hóa (Cultural Anthropology)Sắc tộc học (Ethnology), Tập tính học (Ethology), Văn học du ký (Travel Literature), Truyền thông (Communication), Sách, Biển, Rừng, Sa mạc, Đá, Đất nung, Nhạc, Aikido, Du lịch (nhưng không có điều kiện để đi nhiều, nên thường đọc sách du ký và xem băng đĩa hình, TV). Rất thích phi thuyền, tàu bè, những đoàn lạc đà. Nhưng ấn tượng nhất, thân thương nhất vẫn là tàu lửa, mà quen gọi là xe lửa, với những chuyến tàu thời thơ ấu ngày xưa từ ga Tháp Chàm đến ga Đà Lạt và những chuyến tàu ngày nay từ ga Nha Trang đến ga Tháp Chàm, từ ga Nha Trang đến ga Sài Gòn , với chiều ngược lại.

Các thần tượng:  Sanctus Aurelius Augustinus, San Francesco Assisi,  San Ignacio de Loyola,  San Francesco Saverio, San Juan de la Cruz, Santa Teresa de Jesus, Sainte Thérèse de l’Enfant-Jésus, Saint Jean Vianney, Saint Vincent de Paul, Beato Odorico da Pordenone, Selige Anna Katharina Emmerick, Heilige Teresia Benedicta vom Kreuz (Edith Stein), Saint François-Isidore Gagelin, Saint François Jaccard, Thánh Phan Văn Minh, San Jose Maria Escriva, Bienheureux Frédéric Ozanam, Mẹ Thánh Têrêxa Calcutta, Thánh Giáo Hoàng Gioan XXIII, Thánh Giáo Hoàng Gioan-Phaolô II, Đức Hồng Y Phanxicô Xaviê Nguyễn văn Thuận, Đức Giáo Hoàng Phanxicô.

Rất ngưỡng mộ: Hómēros (Ὅμηρος), J.F.Champollion, Heinrich Schliemann, Georg Friedrich Grotefend, Leonardo Da Vinci, Michelangelo, Albert Einstein, Henry David Thoreau, Johann Sebastian Bach, Ludwig Van Beethoven, Marco Polo, Fernao Mendes Pinto, Ibn Battuta (ابن بطوطة), Ippolito Desideri, Mattéo Ricci, Roberto de Nobili, Francesco Buzomi, Francisco de Pina, Cristoforo Borri, Girolamo Majorica, Alexandre de Rhodes, Joao de Loureiro, Johannes Koffler, Auguste Desgodins, Léon Wieger, Blaise Pascal, Pierre Teilhard de Chardin, Léon Bloy, Jacques Maritain, Raissa Maritain, Jean Guitton, Daniel-Rops, Thomas Merton, Claude Tresmontant, John Wu, William Johnston, Shusaku Endo, Wilhelm Schmidt, P.J.Pigneaux de Béhaine, J.L.Taberd, H.Azémar, F.M.Savina, Léopold Cadière, L.Villaume, J.Geoffroy, Jacques Dournes, Albert Morice, Alexandre Yersin, Bernhard Karlgren, Richard Wilhelm, Joseph Needham, Cyrus H.Gordon, Samuel Noah Kramer, George Coedès,  Edmund Husserl, Hans-Georg Gadamer, Paul Ricoeur, Ferdinand de Saussure,  A.J.Greimas, Claude Lévi-Strauss,  Carl Von Clausewitz, T.E.Lawrence,  Fyodor Dostoyevsky (Фёдор Миха́йлович Достое́вский), James Joyce, D.H.Lawrence, Thomas Hardy, Ray Bradbury, Theodore Monod, Rachel Carson, Jacques-Ives Cousteau, Karl Von Frisch, Konrad Lorenz, Niko Tinbergen, Jane Goodall, Trần  Nhật Duật, Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, Nguyễn Trường Tộ, Petrus Trương Vĩnh Ký, Paulus Huỳnh Tịnh Của, Hồ Ngọc Cẩn, Lord Baden Powell, Morihei Ueshiba, Lin Yutang.

Các lãnh vực đặc biệt quan tâm: Kinh Thánh Công giáo, Văn Hóa Công giáo Việt Nam, Tiếng Việt và Chữ Quốc ngữ, Ngôn ngữ Chữ viết Cổ đại Trung Cận Đông, Ngôn ngữ Chữ viết Champa qua Văn khắc, Chữ viết Tiền-Angkor qua Văn khắc, Nam Á và Nam Đảo, Đông Nam Á, Văn học Du ký (Travel Literature), Truyền thông Không bằng lời (Non-Verbal Communication), Siêu Tâm lý học (Parapsychology), Nhân học Văn hóa (Cultural Anthropology).

Bắt đầu viết và dịch từ năm 1986.

Một số sách đã in / xuất bản trước năm 2014:

– Thánh Vinh Sơn Phaolô (dịch “Saint Vincent de Paul”-José María Román cm). Lưu hành nội bộ. 2012.

– Đức Giêsu Kitô (biên khảo). NXB Thời Đại. 2011.

– Phương pháp đọc sách (dịch “How to Read a Book”-Mortimer J.Adler & Charles Van Doren). NXB Văn Hóa Thông Tin. 2010.

– 265 Đức Giáo Hoàng (biên khảo). NXB Văn Hóa Thông Tin. 2009.

– Đức Trinh Nữ Maria (biên khảo). NXB Tôn Giáo. 2009.

– Bình an cho tâm hồn (biên khảo). NXB Văn Hóa Thông Tin. 2009.

– Nguyên lý của thành công (biên khảo dịch). NXB Văn Hóa Thông Tin. 2009.

– Marco Polo du kí (sách dịch). NXB Văn Hóa Thông Tin. 2008.

– Cẩm nang của người lặn biển (biên khảo dịch). Lưu hành nội bộ. 2008.

– Hành trình trưởng thành đích thực (dịch “The Road Less Traveled”  -M.Scott Peck,M.D.). NXB Văn Hóa Thông Tin. 2004.

– Chuẩn bị làm mẹ  (dịch “J’attends un enfant”-Laurence Pernoud). NXB. Văn Hóa Thông Tin. 2002.

– Nuôi dạy con (dịch “J’élève mon enfant”-Laurence Pernoud). NXB. Văn Hóa Thông Tin. 2002.

– Văn phạm tiếng Pháp thực hành. NXB Trẻ. 2002.

– Từ  Điển Pháp Việt. (1700 trang). NXB Văn Hóa Thông Tin. 2001.

– Ngữ  pháp thực hành tiếng Pháp. NXB Trẻ. 2001.

– Ngữ  pháp tiếng Pháp chuyên sâu. NXB trẻ. 2001.

– Ngữ  pháp tiếng Pháp nâng cao. NXB Trẻ. 2000.

– Từ  Điển Truyền Thông Đa Ngôn Ngữ. (778 trang). NXB Văn Hóa Thông Tin. 1999.

– Từ  Điển Anh Việt. (1634 trang). NXB Văn Hóa Thông Tin. 1999.

– Từ  Điển Anh Việt. (836 trang). NXB Trẻ. 1999.

– Văn phạm tiếng Pháp thông dụng. NXB Trẻ. 1999.

– Văn phạm tiếng Pháp hiện đại. NXB Trẻ. 1998.

– Văn phạm tiếng Pháp theo đề mục. NXB Trẻ. 1998.

– Từ  Điển Pháp Việt. (790 trang). NXB Văn Hóa Thông Tin. 1998.

– Tiếng Hoa dễ học (biên dịch). NXB Trẻ. 1998.

– Tiếng Nhật dễ học (biên dịch). NXB Trẻ. 1997.

– Tiếng Anh dễ học (biên dịch). NXB Trẻ. 1997.

– Người phụ nữ  đẹp (biên khảo dịch). NXB Phụ Nữ. 1997.

– Làm việc có phương pháp (biên khảo). NXB Trẻ. 1996.

– Truyền thông. Kỹ năng và phương tiện (biên khảo). NXB Trẻ. 1996.

– 666 Cử chỉ quyến rũ (biên khảo dịch). NXB Đồng Nai. 1996.

– Từ vựng tiếng Pháp (biên khảo dịch). NXB Trẻ. 1996.

– Văn phạm tiếng Pháp cho mọi người (biên dịch). NXB Trẻ. 1995.

– Cách sử dụng thì động từ tiếng Pháp (biên dịch) NXB Trẻ. 1995.

– Để viết đúng tiếng Pháp (biên dịch). NXB Trẻ. 1995.

– Sách của bố (biên khảo dịch). NXB Trẻ. 1995

– Để trở thành người phụ nữ duyên dáng (biên khảo dịch). NXB Đà Nẵng 1994.

– Giáo dục giới tính cho thanh thiếu niên (biên khảo). NXB Trẻ. 1994.

– Lịch sử Văn học Anh trích yếu (biên khảo). NXB Trẻ. 1994.

– Để viết đúng tiếng Anh (biên khảo). NXB Trẻ. 1994.

– Các tiểu thuyết đã dịch:

. Kẻ Thừa Tự  của Ông Nam Hải (dịch “Le Fils de la Baleine”-Cung Giũ Nguyên). NXB Văn Học Hà Nội. 1995.

. Đàn bà dễ có mấy tay (dịch “Act of  Will”-Barbara Taylor Bradford). NXB Long An. 1991.

. Những người buôn mộng (dịch “The Dream Merchants”-Harold Robbins). NXB Nghệ Tỉnh. 1991.

. Tình thiên thu (dịch “Never leave me”-Harold Robbins). NXB Thông tin. 1991.

. Tình đã bay qua (dịch “Where Love has gone”-Harold Robbins). NXB Khánh Hòa. 1990.

. Bàn tay kẻ lạ mặt (dịch “Hands of a Stranger”-Robert Daley). NXB Khánh Hòa. 1990.

. Sứ  giả của Thần Chết (dịch “Windmills of the Gods”-Sidney Sheldon). NXB Đồng Nai. 1990.

. Ngăn dòng nước mắt (dịch “Wo Trannen verboten sind”-Alice Ekert Rotholz). NXB Khánh Hòa. 1990.

. Bay quanh mặt trăng (dịch “Autour de la lune”-Jules Verne). NXB Phú Khánh. 1987.

. Vầng trăng và đồng sáu xu (dịch “The Moon and Sixpence”-Somerset Maugham). NXB Phú Khánh. 1987.

Và một số đầu sách, tiểu thuyết dịch khác, tổng cộng hơn 70 đầu sách đã được xuất bản.

————–

Những đề tài cũng như  một kế hoạch xuất bản lý tưởng từ năm 2014 (chỉ thực hiện được nếu có thời gian và có sự  cộng tác):

– Các tác phẩm đã dịch nhưng chưa xuất bản: Évariste  Régis Huc du ký, Hiroshima trong cơn ác mộng (“Hiroshima”-John Hersey), Xứ tuyết (“雪国 “- Yasunari Kawabata), Bài ca một cánh chim biển (“Jonathan Livingston Seagull”-Richard Bach), Trinh trắng (“Tess d’Urbervilles”-Thomas Hardy).

-Các tiểu thuyết sẽ dịch (đa số từ nguyên tác):

. Thế giới của Sofie (dịch “Sofies Verden”-Jostein Gaarder).

. Cuộc du hành của Théo (dịch “Le Voyage de Théo”-Catherine Clément).

. Ka (dịch “Ka”-Roberto Calasso).

. Cuộc hôn nhân của  Cadmus và Harmony (dịch “The Marriage of Cadmus and Harmony”-Roberto Calasso).

. Trầm mặc (dịch ” 沈黙 “-Shusaku Endo).

. Phố thị niềm vui (dịch “La Cité de la Joie”-Dominique Lapierre).

. Finnegans Wake (James Joyce).

– Các du ký sẽ dịch:

. Fernão Mendes Pinto du ký (dịch “Peregrinação”-Fernão Mendes Pinto).

. Ibn Battuta du ký [dịch “Riḥlah (الرحلة)”-Ibn Battuta (ابن بطوطة)]

. John Crawfurd du ký (dịch “Journal of an Embassy to the Courts of Siam and Cochin-China, exhibiting a view of the actual State of these Kingdoms”-John Crawfurd).

. Những ghi chép của Al Masudi [dịch “Muruj adh-dhahab wa ma’adin al-jawhar (مروج الذهب ومعادن الجواهر‎ )-Al Masudi (المسعودي)].

. Odorico Pordenone du ký (dịch “Viaggio del beato Odorico”)

. Hồi ký của  Mattéo Ricci (dịch “De Christiana expeditione apud Sinas “)

. Ký sự về Tây Tạng (dịch “An Account of Tibet – The Travels of Ippolito Desideri of Pistola, S.J., 1712-1727”)

. Tự thuật của Bear Grylls (dịch “Mud, Sweat and Tears”-Bear Grylls).

. Theo dấu chân người trên Cao Nguyên Việt Nam (dịch “En suivant La Piste sur Les Hauts-Plateaux du Viet-Nam”-Jacques Dournes).

– Rừng người Thượng (dịch “Les Jungles Moi”-Henri Maitre).

– Cọp thương hại hơn (dịch “Les tigres auront plus pitié).

– Những chuyện kể và thư từ từ Đông Dương và Việt Nam (dịch “Récíts et Lettres d’Indochine et du Vietnam”-Jean Le Pichon).

– Viễn  Đông dưới nhãn quan các nhà du hành  Ả-rập.

– Biển Đông Nam Á.

– Hàng hải Trung Hoa từ  thế kỷ X đến thế kỷ XIV.

– Người Cơ-tu.

– Người Chu-ru.

– Người Ra-glai

– Vấn đề nghiên cứu Văn hóa các sắc tộc Tây Nguyên.

– Vấn đề nghiên cứu Văn hóa Chmpa.

– Tục thờ cúng cá voi.

– Sử thi Ra-glai.

– Tôn giáo của Champa qua đền tháp.

– Văn khắc Champa.

– Văn khắc Tiền-Angkor.

– Kauthara.

– Panduranga.

– Lâm Ấp nhạc (Riyugaku).

– Cát Tiên và Óc Eo.

– Tiền Angkor và Phù Nam.

– Nam Á và Nam Đảo.

– Tiền sử Bán Đảo Đông Dương

– Những nhà cổ văn tự.

– Học chữ Chàm và tiếng Chàm.

– Học tiếng  Ra-glai.

– Học tiếng  Chu-ru.

– Thành ngữ  và Tục ngữ  Chàm.

– Từ  Vựng  Ra-glai – Việt.

– Từ  Vựng  Chu-ru – Việt.

– Từ  Vựng Công Giáo Latinh – Việt – Chàm – Ra-glai – Chu-ru.

– Kinh Thánh Công giáo La-tinh –  Chàm – Việt.

– Từ  Điển Thuật ngữ  Nghệ thuật Nam Á & Đông Nam Á.

– Leonardo Da Vinci – J.F.Champollion. – James Joyce. – Teilhard de Chardin. – Johannes Koffler. – Joao de Loureiro. – Léon Wieger. – Matteo Ricci. – Ippolito Desideri.

– Các Thánh nhân.

– Các vị Thừa sai Dòng Tên tại Việt Nam (Francesco Buzomi, Cristoforo Borri, Francisco de Pina, Alexandre de Rhodes, Girolamo Majorica).

– Các vị Thừa sai và châu Á.

– Tài liệu lịch sử rao giảng Phúc Âm ở Việt Nam.

– Các giáo điểm truyền giáo: Hội An, Thành Chiêm, Nước Mặn, Nha-ru.

– Nghiên cứu “Thánh Giáo Kinh Nguyện”, “Mục Lục Nhựt Khóa”, “Toàn Niên Kinh Nguyện”.

– Nghiên cứu Chữ Nôm và Chữ Quốc Ngữ trong các bộ Từ Vựng và Từ Điển của P.J.Pigneaux de Béhaine và J.L.Taberd.

– Văn minh Do-thái.

– Văn minh Xume.

– Văn minh Ai-cập.

– Thư viện đất nung ở Ebla.

– Đất sét, Đất nung, Gốm.

– Chữ viết và nguồn gốc những nền  Văn hóa.

– Những người trở lại Công Giáo (5 tập). NXB Phương Đông. 2014.

– Công việc trí thức (dịch “Le Travail Intellectuel”-Jean Guitton)

– Kiểm soát cảm xúc (dịch “O Controle Cerebral”-Narcisco Irala, S.J.) (Đã dịch xong).

– Con đường chẳng mấy ai đi (dịch “The Road Less Traveled”-M.Scott Peck, M.D.) (Đã dịch xong).

– Bước tiếp trên con đường chẳng mấy ai đi (dịch “Further Along The Road Less Traveled”-M.Scott Peck, M.D.)

– Địa tâm lý học (dịch “Géopsyché”-Dr.Willy Hellpach).

– Người chết nói với chúng ta (dịch “Les morts nous parlent”-Francois Brune).

– Siêu tâm lý học (dịch “La parapsychologie”-Yvonne Castellan)

– Về chuyện Siêu Thường (dịch “Au coeur de l’Extra-Ordinaire”-Henri Bloch).

– Nhà bác học giải thích chuyện phủ thủy (dịch “Devenez sorciers devenez savants”-Georges Charpak & Henri Broch).

– Giới tính, Thiên Chúa & Hôn nhân.

– Triết học tập 1: Từ Platon đến Thánh Thomas (dịch “La Philosophie-Tome 1: De Platon à Saint Thomas”-Francois Châtelet). (Đã dịch xong).

– Triết học tập 2: Từ Galilée  đến J.J.Rousseau (dịch “La Philosophie-Tome 2: De Galilée à J.J.Rousseau”-Francois Châtelet). (Đã dịch xong).

– Triết học tập 3: Từ Kant đến Husserl (dịch “La Philosophie -Tome 3: De Kant  à Husserl”-Francois Châtelet). (Đã dịch xong).

– Triết học tập 4: Thế kỷ XX (dịch “La Philosophie-Tome 4: La Philosophie au XXe Siècle”-Francois Châtelet). (Đã dịch xong).

– Triết hoc. Hãy bắt đầu với các giáo sư giỏi (dịch “Philosophie – Commencez avec les meilleurs professurs”-Groupe Eyrolles).

– Siêu hình học đơn giản (dịch “Une Métaphysique pour les simples”-Pierre-Marie Emonet O.P.).

– Tâm lý học đơn giản (dịch “L’Âme humaine expliquée aux simples”-Pierre-Marie Emonet O.P.).

– Triết học thần luận đơn giản (dịch “Dieu comtemplé dans le Miroir des Choses. Une Philosophie théologique pour les simples”-Pierre-Marie Emonet O.P.).

– Nhập môn Triết học Công giáo.

– Triết học Công giáo thế kỷ XIX (dịch “Récent Catholic Philosophy The Nineteenth Century”-Alan Vincelette).

– Triết học Công giáo thế kỷ XX (dịch “Récent Catholic Philosophy The Twentieth Century”-Alan Vincelette).

 

– Chiêm niệm Công giáo (dịch “En bok om kristen djupmeditation”-Wilfrid Stinissen).

– Dẫn nhập Tư tưởng Công giáo (dịch “Pensées des hommes et foi en Jésus Christ pour un discernement intellectuel chrétien”-Léonard André)

– Kho tàng văn học Công Giáo (dịch “A Treasury of Catholic Reading”-Edit. by John Chapin).

– Kho tàng Khôn ngoan Công giáo (dịch “The Treasury of Catholic Wisdom”-John A.Haydon, S.J.)

– Nhiều cuộc hiện ra của Đức Trinh Nữ Maria (dịch “Multiplication des apparitions de  la Vierge aujourd.hui”-René Laurentin).

– Đức Giêsu (dịch “Jésus”-Charles Perrot).

– Đức Giêsu và Lịch sử  (dịch “Jésus et l’histoire”-Charles Perrot).

– Đức Kitô Người Do-thái (dịch “Le Christ Hébreu”-Claude Tresmontant).

– Một người Do-thái bình thường (dịch “A Marginal Jew”-John P. Meier).

– Thánh Phêrô.

– Thánh Phaolô.

– Thánh Phanxicô Xavie

– Edith Stein, triết gia bị đóng đinh (dịch “Edith Stein philosophe crucifiée-Joachim Bouflet)

– Jose Maria Escriva (El Camino và Opus Dei)

– Frédéric Ozanam (Tuyển tập).

– Lịch sử dân Thiên Chúa (dịch “Le peuple de la Bible”-Daniel Rops).(Đã dịch xong).

– Đức Giêsu vào thời của Người (dịch “Jésus en son temps”-Daniel Rops). (Đã dịch xong).

– Đời sống thường ngày vào thời Đức Giêsu (dịch “La vie quotidienne en Palestine au temps de Jésus”-Daniel Rops). (Đã dịch xong).

– Giêrusalem vào thời Đức Giêsu (dịch “Jerusalem zur Zeit Jesu”-Joachim Jeremias)

– Nhập môn Thần Học Công giáo (dịch “Theological Foundations”-J.J.Mueller, SJ, editor).

– Những nền thần học Kitô giáo thế giới thứ ba (dịch “Théologies chrétiennes des Tiers Mondes”-Bruno Chenu). NXB Phương Đông. 2014.

– Thần học Thánh Giuse (dịch “Saint Joseph”-Jean Galot). NXB Phương Đông. 2016.

– Thần học Chúa Thánh Thần (dịch “L’Esprit Saint de Dieu”-Fr.X.Durrwell). NXB Phương Đông. 2016.

-Thần học Đức Chúa Cha (dịch “Le Père Dieu en son mystère”-Fr.X.Durrwell). NXB Phương Đông. 2016.

– Khảo luận Thần học Chúa Ba Ngôi (dịch “Traité sur la Trinité”-René Laurentin) (Đã dịch xong).

– Cánh chung học-Sự chết và thế giới bên kia (dịch “Eschatologie-Tod undewwiges Leben”-Joseph Ratzinger).

– Cứu độ học (dịch “Soteriology”-Braulio Pena, OP).

– Lịch sử Minh giáo (dịch “A History of Apologetics”-Avery Cardinal Dulles).

– Kitô học (dịch “Christ qui est-tu?” và “Christ de notre foi” – Jean Galot).

– Đức Maria trong Mầu Nhiệm Giao Ước (dịch “Het Mariam Mysterie In Het Nieuwe Testament”-I.De La Potterie) (Đã dịch xong).

– Nhãn quan Á châu về Đức Kitô (dịch “Regards asiatiques sur le Christ”-Michel Fédou).

– Tôi tin Chúa Thánh Thần (dịch “Je crois en L’Esprit Saint”-Yves Congar)

– Từ Điển Thần Học Công Giáo (dịch “Dictionnaire de Théologie chrétienne, les grands thèmes de la foi-Joseph Doré”)(Hiệu đính). NXB Tôn Giáo. 2016.

– Từ  Điển Thần Học Giản Yếu (dịch “A Concise Dictionary of Theology”-Gerald O’collins & Edward G.Farrugia)(Hiệu đính). NXB Tôn Giáo. 2016.

– Để đọc Cựu Ước (dịch “Pour lire L’Ancien Testament”-Gérard Billon & Philippe Gruson). NXB Phương Đông. 2017.

– Để đọc Tân Ước (dịch “Pour lire le Nouveau Testament”-Étienne Charpentier & Régis Burnet). NXB Phương Đông. 2017.

– Để đọc Thánh Phaolô (dịch “Pour lire Saint Paul”-Chantal Reynier) NXB Phương Đông 2017.

– Để đọc Các Ngôn Sứ (dịch “Pour lire les Prophètes”-Jean Pierre Prévost). NXB Phương Đông 2017.

– Để đọc Sách Khải Huyền (dịch “Pour lire l’Apocalypse”-Jean Piere Prévost). NXB Phương Đông. 2017.

– Để đọc những bản tường thuật trong Kinh Thánh (dịch “Pour lire les récits bibliques”-Yvan Bourquin & Daniel Marguerat). NXB Phương Đông. 2017.

– Việc giải thích Kinh Thánh trong Giáo Hội  Công Giáo (dịch “L’interprétation de la Bible dans l’Église”-Commission Biblique Pontificale).

– Đọc Kinh Thánh như thế nào? (dịch “Lire la Bible…comment”-Albert Hari). (Đã dịch xong).

– Đọc Kinh Thánh (dịch “Lire la Bible”-Roland Meynet). (Đã dịch xong).

– Bạn đã đọc Thánh Luca? (dịch “Avez vous lu Saint Luc?”-Roland Meynet) (Đã dịch xong).

– Nghệ thuật kể chuyện Đức Giêsu Kitô (dịch “L’art de raconter Jésus Christ”-J.N.Aletti). (Đã dịch xong).

– Dẫn nhập đọc Ngũ Thư  (dịch “Introduction à la lecture du Pentateuque”-J.L.Ska). (Đã dịch xong).

– Đức Giêsu Kitô có thực hiện tính nhất quán của Tân Ước không? (dịch “Jésus-Christ fait il l’unité du Nouveau Testament?”-J.N.Aletti). (Đã dịch xong).

– Khám phá Kinh Thánh (2 tập) (dịch “À la Découverte de la Bible”, 2 tomes-Éditions Ouvrières). (Đã dịch xong).

– Tổng quan dẫn nhập Cựu Ước (dịch “A Survey of Old Testament Introduction”-Gleason L.Archer).

– Đời sống thiêng liêng trong Kinh Thánh (dịch “Spiritual Life in the Bible”-Daughters of St.Paul).

– Giáo lý Kinh Thánh (dịch “Bible Catechism”-John C.Kersten).

– Chú giải Thánh Kinh và Giáo thuyết Giáo hội (dịch “Biblical Exegesis & Church Doctrine”-Raymond E. Brown).

– Sách chỉ nam Thông diễn học (dịch “A Manual of Hermeneutics”-Louis Alonso Schokel).

– Đức Maria trong Tân Ước (dịch “Mary in the New Testament”-Edit. by R.E.Brown, K.P.Donfrield, J.A.Fitzmyer, J.Reumann)

– Phúc Âm Mátthêô và ảnh hưởng Do-thái giáo (dịch “Matthew’s Gospel and Formative Judaism”-J. Andrew Overman).

– Khám phá Phúc Âm Mátthêô (dịch “Exploring Matthew’s Gospel”-Leslie J. Francis and Peter Atkins).

– Phúc Âm Mátthêô và các độc giả. Một dẫn nhập lịch sử Phúc Âm nhất lãm (dịch “The Gospel of Matthew and its Readers. A Historical Introduction to the First Gospel”-Howard Clark).

– Phúc Âm Mátthêô (dịch “The Gospel of Matthew”-Daniel J. Harrington, S.J.).

– Những nền tảng Thánh Kinh cho việc Truyền giáo (dịch “The Biblical Foundations for Mission”-Donald Senior & Carroll Stuhlmueller)

– Giảng về Đức Kitô từ Cựu Ước (dịch “Preaching Christ from the Old Testament”-Sidney Greidanus)

– Hướng dẫn giải đáp những vấn nạn Đức tin Công giáo (dịch “Guide des difficultés de la foi catholique”-Abbé Pierre Descouvemont).

– Sách chỉ dẫn của linh hoạt viên Công giáo (dịch “Guide de l’animaterur chrétien”-Jean Vernette & Alain Marchadour) (Đã dịch xong).

– Từ Điển Mục Vụ Thần Học Kinh Thánh (dịch “The Collegeville Pastoral Dictionary of Biblical Theology”- Edit. by Carroll Stuhlmueller,C.P.).

– Sổ Tay Kinh Thánh (dịch “The New Jerome Bible Handbook”-Raymond Brown and Joseph A.Fitzmeyer).

– Từ Điển các Đức Giáo hoàng (dịch “The Oxford Dictionary of Popes”-J.N.D.Kelly). (Đã dịch xong).

– Từ Điển các Biểu Tượng Phụng Vụ (dịch “Dictionnaire des symboles liturgiques”-Dom Pierre Miquel…)

– Từ Điển Phụng Vụ ( dịch “Dictionary of the Liturgy”-Jovian P.Lang).

– Tân Từ Điển Linh Đạo Công Giáo (dịch “The New Dictionary of Catholic Spirituality”- Edit. by Michael Downey).

– Từ Điển Chăm Sóc Mục Vụ (dịch “A Dictionary of Pastoral Care”-Edit. by Alastair V.Campell)

– Tiên tri và Tục ngữ trong Cựu Ước (dịch “Prophets and Proverbs”-Antony R.Ceresko, O.S.F.S.)

– Dẫn nhập vào Cựu Ước: Viễn cảnh Giải phóng (dịch “Introduction to the Old Testament: a Liberation Perspective”-Anthony Raymond Ceresko).

– Đọc Cựu Ước (dịch “Reading The Old Testament”-Lawrence Boadt).

– Đọc Tân Ước (dịch “Reading The New Testament”-Pheme Perkins).

-Từ Điển Kinh Thánh Tân Ước (dịch “Dictionnaire du Nouveau Testament”-Edit by Xavier Léon-Dufour,S.J.).

– Việc dùng Cựu Ước trong Phúc Âm Thánh Mátthêô (dịch “The Use of the Old Testament in St. Matthew’s Gospel”-Robert Horton Gundry).

– Phúc Âm Mátthêô và truyền thống Do-thái (dịch “The Gospel of Matthew and Judaic Traditions”-Herbert W. Basser & Marsha B. Cohen).

– Sự ra đời của Đấng Messia (dịch “The Birth of  the Messiah”-Raymond E. Brown, S.S.).

– Thánh Vịnh (dịch “Il Libro dei Salmi”-Gianfranco Ravasi).

– Phê bình Văn bản Cựu Ước (dịch “Critique textuelle de l’Ancient Testament”-Dominique Bartélémy).

– Từ  Điển Kinh Thánh (dịch “Dictionary of the Bible”-John L.McKenzie,S.J.).

– Từ  Điển Khảo Cổ Học Kinh Thánh (dịch “Dictionnaire archéologique de la Bible”-Abraham Négev)..

– Từ Điển Triết Học (dịch “Philosophisches Worterbuch”-Walter Brugger).

– Tân Từ Điển Thần Học (dịch “Neues Theologisches Wörterbuch”-Herbert Vorgrimler).

– Từ Điển Đức Tin Công Giáo (dịch “Dictionnaire des mots de la foi chrétienne”-Olivier de la Bross…). (Đã hiệu đính).

– Những kỹ năng đọc và học.

– Những kỹ năng truyền thông

– Nhân học văn hóa.

– Nhân học tôn giáo.

– Văn Hóa Công Giáo Việt Nam.

– Thế giới Kinh Thánh.

– Ngữ pháp tiếng La-tinh. 

– Ngữ  pháp tiếng Koinê (Hi-lạp Kinh Thánh).

– Ngữ  pháp tiếng Hipri (Do-thái Kinh Thánh).

– Ngữ  pháp tiếng  Aram.

– Dẫn nhập Ngôn ngữ  và Chữ  viết Ấn-độ cổ đại.

– Dẫn nhập Ngôn ngữ  và Chữ  viết Ai-cập cổ đại.

– Dẫn nhập Ngôn ngữ  và Chữ  viết Áccát.

– Dẫn nhập Ngôn ngữ  và Chữ viết Ugarit.

– Dẫn nhập Ngôn ngữ  và Chữ viết Ebla.

– Dẫn Nhập Ngôn Ngữ  và Chữ  viết Xume.

– Ngôn ngữ và Chữ  viết  Champa.

– Tiếng Việt và Chữ Quốc Ngữ.

– Thánh Giáo Kinh Nguyện Từ Điển.

– Từ  Vựng Triết Học Đa Ngôn Ngữ.

– Từ  Vựng Kinh Thánh Đa Ngôn Ngữ.

– Từ vựng Chú giải Kinh Thánh.

– Từ Điển Hipri và Aram – Việt.

– Từ Điển La-tinh – Việt.

– Từ Điển Hi-lạp – Việt.

– Từ Điển Do Thái – Việt.

– Từ Điển Ả Rập – Việt.

– Từ Điển Sanskrit – Việt.

I am especially indebted to many scholars, whose grammars and publications gave me the opportunity to learn the ancient languages, including (in alphabetic order): James P. Allen (Ancient Egyptian, Middle Egyptian), Alfonso Archi (Eblaite), Amalia Catagnoti (Eblaite), Michael Coulson (Sanskrit), Mitchel Dahood (Ugaritic, Eblaite), Pelio Fronzaroli (Eblaite), Cyrus H. Gordon (Ugaritic, Eblaite), John L. Hayes (Sumerian), John Huehnergard (Akkadian), H. A. Jaschke (Tibetan), Philip N. Jenner (Old Cambodian), Bernhard Karlgren (Old Chinese), Asko Parpola (Indus Script), Giovanni Pettinato (Eblaite), Saveros Pou (Old Cambodian), Franz Rosenthal (Biblical Aramaic), Long Seam (Old Cambodian), Stanislav Segert (Ugaritic), J. Weingreen (Classical Hebrew), J. W. Wenham (New Testament Greek), William Dwight Whitney (Sanskrit), Léon Wieger (Old Chinese).

“Ars longa vita brevis.”

Nguyễn Thành Thống

138 B,C. Nguyễn Trãi, Nha Trang, Khánh Hòa.

petrusthong@gmail.com

thongsumer@gmail.com

Post a Comment

0 Comments