Đó là 3 lý thuyết
Hành vi Behaviorism
Nhận thức Cognitivism
Chủ nghĩa Kiến tạo Constructivism
“Học tập (learning)” là gì? Chúng ta học tập như thế nào?
Là giáo viên, nhà giáo dục và nhà thiết kế môi trường học tập, chúng ta rất cần phải hiểu về quá trình học tập (the learning process). Vì vậy, hãy bắt đầu bằng việc xem xét một số học thuyết về học tập (learning theories) đương đại.
Sau đây là ba lý thuyết học tập đã cung cấp các chiến lược và kỹ thuật cho các nhà thiết kế giảng dạy để xây dựng điều kiện học tập.
Trong nửa đầu thế kỷ 20, các lý thuyết hành vi (Behaviorism) đã thống trị cách người ta hiểu về việc học. Những lý thuyết này giải thích việc học dưới góc độ môi trường xung quanh người học. Behaviorism coi việc học là những thay đổi được nhìn thấy dưới dạng các hành vi có thể quan sát được.
Ví dụ, khi một đứa trẻ được đưa cho một câu hỏi, 2 cộng 1, và trả lời là 3, câu hỏi là tác nhân kích thích và câu trả lời là phản hồi. Các nhà khoa học như Thorndike, Pavlov, Watson và Godfrey đều giải thích rằng học là phản ứng với các kích thích bên ngoài.
Hành vi Behaviorism
Behaviorism focuses on the importance of the consequence of the performance, and considers the need for reinforcements (củng cố) required so that the responses are more likely to reoccur in the future.
Therefore, an important factor in a learning environment is the arrangement of the stimuli (tác nhân kích thích), and its consequences.
A classroom based on behavioral instructional design would use technology tools for programmed instruction, rote learning (học vẹt/học thuộc lòng), drill (rèn luyện), and practice.
While stimuli and reinforcement can explain some of the human learning, later research showed that in order to really understand learning, we must take into account the way people think, their beliefs, and their feelings.
Nhận thức Cognitivism
In the 1950s and ’60s, behavioral theories were challenged by studies on observational learning done by researchers like Albert Bandura. This research showed that people can learn new actions by observing others doing them, and did not have to do them at the time of learning --> học qua quan sát. In this case, reinforcement was not necessary for the learning to occur. Thus, there came a shift from behavioral orientation, to a more cognitive orientation where the emphasis (nhấn mạnh) on the mental processing, on the part of the learner, was considered important.
These were the cognitive theories that stress that learning leads to discrete (rời rạc) changes between states of knowledge, rather than changes in the learner response. The cognitive theories emphasized the active involvement of the learner in the learning process, and emphasized the structure, organization, and sequencing (trật tự) of information to facilitate (tạo điều kiện) optimal learning. This also meant that the learning environments need to encourage students to make connections with previously learned material in order to make sense of the new material.
In other words, cognitive theories emphasize making knowledge meaningful to the learner, and helping them organize, and relate to new information based on what they already know.
Both the behavioral and cognitive theories consider the world as external to the learner, and the goal of instruction as the need to map the structure of this world onto the learner.
Several theorists began to question this assumption, and to adopt a more constructivist approach to learning. That is, understanding knowledge bases on how individuals create meaning from their own experiences.
Chủ nghĩa Kiến tạo Constructivism
Constructivism is a theory that equates (=consider) learning with creating meaning from experience. Though constructivism is similar to cognitivism in as much as both understand learning as a mental process, it is inherently (vốn dĩ) different.
Constructivists do not consider the world as being mapped on the learner, but instead consider learners as creating meaning rather than acquiring(tiếp nhận) it. In other words, learning is not a process of transferring knowledge from the outside world to the learners’ memory, but a process through which learners create personal interpretations (diễn giải) of the world based on their interactions and experiences. --> người học chủ động diễn giải/kiến tạo dựa trên kinh nghiệm và tương tác (từ trong ra ngoài), chứ ko phải là quá trình tiếp nhận thụ động.
This interpretation is constantly open to change, and there is no one external reality that the learner needs to know. What is key here is the interaction between the learner, and the environment. And, this is where knowledge is created.
An instructional designer who subscribes to a constructivist view would design learning methods, and strategies that would help the learners actively explore complex topics, and different environments. And that will help them get thinking about a different content area in the same way that an expert user of that domain may think.
Pedagogical approaches (phương pháp sư phạm), such as problem based learning (học dựa trên vấn đề), inquiry based learning (học thông qua truy vấn/tìm tòi-khám phá, xem bài dưới), and self-directed learning (tự học) used by educators, are all based on a constructivist understanding of learning. In such an environment learners are encouraged (khuyến khích, động viên) to construct (xây dựng) their own understanding, and then, through social negotiation, validate this new understanding that they developed.
Using technology in such a learning environment would mean using tools to help the learner navigate data and information, make sense of available resources (hiểu rõ về những tài nguyên sẵn có), connect with other participants, and create meaning and understanding.
For the 21st century we need a learning theory that emphasizes knowledge work, knowledge creation, and knowledge community. We need to build a bridge between the needs of the 21st century, and classroom environments that were largely designed for the past century. Using online resources instructional designers need to create online collaborative learning spaces which encourage online discussions, group learning, learner independence, use of multimedia, and promote discourses that can help students engage in 21st century practices, and develop 21st century knowledge and skills.
SUMMARY
For much of the 20th and early 21st century, three learning theories have helped guide instruction.
- Behaviorism characterizes learning as acquiring (tiếp nhận) responses to stimuli in the environment, emphasizing the consequences of performance and the need for reinforcement.
- Cognitivism describes learning as discrete changes (thay đổi rời rạc) that occur in stages between mental states of knowledge and prioritizes the structure, organization, and sequencing (trình tự) of information to optimize learning.
- Constructivism modifies this stance (lập trường), calling attention (chú ý) to how learners construct (xây dựng) meaning from their experiences rather than acquiring (tiếp nhận) knowledge presented to them. Therefore, constructivists emphasize how interactions and experiences help learners construct personal interpretations (diễn giải) and knowledge of the world.
nguồn: https://instructionaldesignwithvan.com/cac-hoc-thuyet-ve-hoc-tap-va-nen-giao-duc-duoc-nang-tam-bang-cong-nghe/
=========
INQUIRY-BASED LEARNING
HỌC TẬP THEO PHƯƠNG PHÁP TÌM TÒI-KHÁM PHÁ
#learnwithmsdinh #HKMTN_Inquirybasedlearning #HKMTN_Timtoikhampha
👉👉👉Tổng quan chung
Phương pháp học khám phá/tìm tòi hay inquiry-based learning là một phương pháp mới, chủ động, khác hẳn những phương pháp giáo dục truyền thống trong đó đa số dựa vào việc đơn thuần để giáo viên giảng dạy. Trong phương pháp học khám phá, giáo viên từ vai trò người giảng dạy (lecturer) thành người điều phối (facilitator) các hoạt động học.
Phương pháp học khám phá bao gồm phương pháp học tập giải quyết vấn đề (problem-based learning) và phương pháp học tập dự án (project-based learning).
Inquiry-based learning được phát triển từ phong trào học tập khám phá (discovery learning movement) vào những năm 60 của thế kỷ trước, vốn có nền tảng là lý thuyết của những nhân vật gạo cội trong lĩnh vực giáo dục như Piaget, Vygotsky...
*** Những hiểu lầm thường gặp về inquiry-based learning:
- coi đây là cách dạy đơn giản cho học sinh theo các phương pháp khoa học (scientific method). Inquiry-based learning không chỉ đơn thuần là giải quyết vấn đề theo 6 bước đơn giản. Phương pháp học khám phá rộng hơn nhiều, tập trung vào những kỹ năng giải quyết vấn đề được phát triển thông qua quá trình nghiên cứu khoa học.
- chỉ cần bài học có học cụ, dụng cụ để các em làm thí nghiệm là đủ.
- chỉ có một cấp độ khám phá là khám phá mở (open inquiry). Thực ra, đây chỉ là cấp độ cao nhất, cấp độ 4 trong 4 cấp độ khám phá của phương pháp này (3 cấp độ kia là: khám phá để khẳng định/confirmation inquiry- cấp độ 1, khám phá có cấu trúc rõ ràng/structured inquiry- cấp độ 2, và khám phá có hướng dẫn/guided inquiry- cấp độ 3)
🌳🌲🌿 4 bước thực hiện:
1. Học sinh lên danh sách những câu hỏi mà các em vô cùng háo hức muốn có câu trả lời
2. Nghiên cứu về câu hỏi/đề tài được chọn tại lớp
3. Học sinh trình bày về những gì mình học được trong quá trình đi tìm ra câu hỏi. Bài trình bày có thể dưới nhiều dạng khác nhau: trang web sử dụng Weebly, Google slide, bài nói chuyện, sáng tác truyện, viết báo...
4. Hỏi đáp về quá trình đi tìm câu trả lời: đã học được gì, cái gì tốt/hay cái gì cần sửa...
👍👍👍 10 lợi ích của phương pháp học khám phá này:
1. Nuôi dưỡng đam mê và tài năng của học sinh
2. Tăng sức mạnh cho ý kiến của học sinh cũng như tôn trọng sự lựa chọn của các em
3. Tăng sự phấn khích, hào hứng tham gia của học sinh
4. Nuôi dưỡng trí tò mò và tình yêu học tập
5. Làm cho việc nghiên cứu có ý nghĩa và phát triển những kỹ năng nghiên cứu
6. Dạy cho các em sự bền bỉ, gan góc, tư duy cầu tiến và sự tự điều chỉnh
7. Hiểu sâu hơn, thay vì đơn thuần học vẹt kiến thức hay học thuộc lòng
8. Nhấn mạnh tầm quan trọng của việc đặt câu hỏi
9. Cho phép học sinh nắm quyền chủ động việc học của mình và việc hoàn thành mục tiêu
10. Giải quyết vấn đề, ngay cả những vấn đề của tương lai.
📚📚📚 Những cuốn sách hay về inquiry-based learning:
Inquiry Based books:
1. Teaching Science Through Inquiry-Based Instruction: https://amzn.to/2LF47AT
Đây là cuốn Thu Hồng thích nhất, đọc kỹ và áp dụng nhiều. Cuốn sách đã làm thay đổi đáng kể cách mình nhìn nhận môn Science/KHTN cũng như giúp mình rất nhiều về phương pháp giảng dạy sau này. Mình đã đọc từ hồi còn học đại học, thời học để ra làm cô giáo (teacher education program)
2. Inspiring Curiosity: https://amzn.to/2XqTcNB
Nói về sụ hợp tác giữa các thủ thư bậc THCS với giáo viên để phát triển các dự án nghiên cứu
3. Dive into Inquiry: https://amzn.to/2LM8aMb
Làm thế nào để hỗ trợ học sinh chuyển từ cách học truyền thống sang cách học khám phá
4. Inquiry-Based Early Learning Environments: https://amzn.to/30a4ck4
Phân tích cách trẻ con khám phá, và môi trường ảnh hưởng đến cách các em khám phá ra sao
5. Inquiry-Based Lessons in World History: https://amzn.to/2Jdr2lb
Bộ sách rất hay về cách áp dụng inquiry based learning vào môn KHXH/Social studies
Nhân dịp này, Thu Hồng giới thiệu video YouTube của mình về Bảo tàng Sự sống và KHTN/Museum of Life and Science tại North Carolina. Cả nhà ủng hộ kênh Youtube của mình nhé.
Chúc cả nhà ngày vui và luôn có những khám phá mới!
https://youtu.be/QI3dDsr07_M
====
[Nghiên cứu] Một số học thuyết học tập và phương hướng áp dụng các học thuyết học tập trong đào tạo trực tuyến thời kỳ cách mạng công nghiệp 4.0
ThS. Đào Anh Phương
Trường Đại học Sư phạm Hà Nội
Tóm tắt
Đào tạo trực tuyến (E-Learning) ngày càng đóng một vai trò quan trọng trong quá trình phát triển giáo dục và đào tạo, đặc biệt là trong thời kỳ cách mạng công nghiệp 4.0. Một trong những yếu tố then chốt có ảnh hưởng lớn tới sự thành công của đào tạo trực tuyến là việc áp dụng các học thuyết học tập phù hợp vào quá trình giảng dạy và học tập. Bài viết này mô tả tóm tắt một số các học thuyết học tập và cách vận dụng vào thực tế giảng dạy trong đào tạo trực tuyến. Các phương pháp nghiên cứu chủ yếu được sử dụng trong bài viết bao gồm phương pháp phân tích tổng hợp và một số phương pháp chuyên dụng khác. Kết quả nghiên cứu là một số đề xuất áp dụng các học thuyết học tập vào quá trình dạy và học trong đào tạo trực tuyến.
Mở đầu
Ngày nay, đào tạo trực tuyến giữ một vai trò quan trọng trong quá trình dạy và học trong nhà trường, đặc biệt là trong các trường đại học. Trong thời kỳ cách mạng công nghiệp 4.0, mô hình đào tạo trực tuyến được kỳ vọng sẽ tạo ra những thay đổi căn bản, toàn diện nền giáo dục, chương trình và phương pháp giảng dạy - học tập sẽ được thiết kế để phù hợp với từng cá nhân người học, yếu tố thời gian và không gian sẽ không còn bị hạn chế, người học sẽ được đào tạo qua môi trường học tập ảo (Virtual Learning Environments) mà không cần phải đến trường.
Sự phát triển của đào tạo trực tuyến có thể được chia làm bốn giai đoạn [10, 11] như sau:
- Giai đoạn 1990 - 2000: Đây là giai đoạn phát triển của các trang web tĩnh, các phòng học được trang bị máy tính phục vụ người học.
- Giai đoạn 2000 - 2010: Học tập qua mạng Internet. Sự trao đổi thông tin, chia sẻ các ý tưởng thông qua các mạng xã hội được ưa chuộng.
- Giai đoạn 2010 - nay: Học tập qua điện thoại di động. Tập trung về góc độ hành vi và đáp ứng nội dung giáo dục.
- Giai đoạn từ 2020 trở đi: Theo dõi và phân tích hiệu suất về sự tiến bộ và hành vi của người học. Cân bằng giữa tự động hóa, cá nhân hóa và phương pháp luận. Phát triển môi trường học tập ảo.
Để đáp ứng được kỳ vọng trên, ngoài việc phải phát triển hệ thống thông tin, hạ tầng công nghệ và nguồn nhân lực thì việc ứng dụng các học thuyết học tập đóng một vai trò then chốt, quyết định tới chất lượng và sự thành công của đào tạo trực tuyến.
2. Một số học thuyết học tập
Giảng dạy và học tập hiệu quả luôn là mối quan tâm hàng đầu đối với người dạy và người học. Đối với người dạy, các học thuyết học tập giúp người dạy xác định được năng lực của người học để từ đó định hướng, lựa chọn phương pháp giảng dạy phù hợp. Đối với người học, các học thuyết học tập giúp người học hiểu được năng lực của bản thân để từ đó lựa chọn được phương pháp học tập hiệu quả. Sau khi tham khảo một số tài liệu [9, 5, 13, 4], tác giả đã tổng hợp được một số học thuyết học tập phổ biến hiện nay:
1) Thuyết chín muồi sinh học (Maturism Theory):
Theo thuyết chín muồi sinh học, học tập là một bản năng tự nhiên theo một trình tự đã được lập trình sẵn, nếu người học đạt đến sự chín muồi để học điều gì đó, họ sẽ nắm bắt được phương pháp học điều đó. Người dạy cần xây dựng một môi trường học tập thoải mái, nhận biết chính xác thời điểm để tác động người học tham gia vào quá trình học tập và tổ chức các hoạt động phù hợp với nhu cầu, hứng thú của người học.
2) Thuyết hành vi (Behaviorism Theory):
Theo thuyết hành vi, học tập là một quá trình phản xạ có điều kiện, sự thay đổi hành vi của một người là kết quả phản ứng của bản thân với các sự kiện trong môi trường. Thuyết hành vi chủ yếu nhấn mạnh tới việc học thuộc lòng, quá trình học tập dựa trên quy chế thưởng phạt, người dạy là chủ thể của kiến thức, đưa ra những kích thích để tạo ra những phản xạ có điều kiện ở người học.
3) Thuyết nhận thức (Cognitivism Theory):
Theo thuyết nhận thức, học tập là sự tiếp thu hoặc tổ chức lại các cấu trúc nhận thức, xử lý và lưu trữ thông tin một cách chủ động của người học thông qua các giác quan nghe và nhìn. Người học thu được kết quả học tập tốt nhất khi họ cấu trúc được kiến thức để tạo ra sự liên kết giữa kiến thức mới và những kiến thức có sẵn.
4) Thuyết kiến tạo (Constructivism Theory):
Theo thuyết kiến tạo, học tập là quá trình kiến tạo kiến thức của người học thông qua sự tương tác với môi trường. Kiến thức sẽ được hình thành qua kinh nghiệm của chính bản thân người học. Người học là chủ thể của hoạt động, tự chủ, tự xây dựng và thực hiện mục tiêu, phương pháp học tập. Người dạy đóng vai trò là người hướng dẫn, định hướng người học khám phá kiến thức.
5) Thuyết kết nối (Connectivism Theory):
Theo thuyết kết nối, học tập là quá trình xây dựng mạng lưới kết nối thông qua các nút kiến thức có sẵn và các nút kiến thức mới. Người học đóng vai trò chủ động trong việc thiết kế quá trình học tập, đồng thời được cung cấp công cụ để tạo phương pháp học tập riêng. Người dạy sẽ phát triển khả năng của người học để vận hành thông tin.
6) Thuyết đa thông minh (Theory of Multiple Intelligences):
Theo thuyết đa thông minh, có nhiều loại hình trí thông minh được phản ánh theo những cách thức khác nhau trong cuộc sống. Con người có tất cả các loại hình trí thông minh. Tuy nhiên, mỗi người sẽ chỉ có một số loại hình thông minh vượt trội tạo nên đặc thù của người đó. Do vậy, người dạy cần chú trọng tới cấu trúc trí tuệ của người học để sử dụng phương pháp dạy học phù hợp và định hướng người học tìm hiểu sâu khái niệm cốt lõi hơn là học nhiều nội dung.
Ngoài sáu học thuyết trên, còn có một số học thuyết khác như: thuyết linh hoạt nhận thức (Cognitive Flexibility), thuyết học tập theo tình huống (Situated Learning), thuyết cộng đồng thực hành (Communities of Practice), thuyết học tập khám phá (Discovery Learning), thuyết phát triển xã hội (Social Development), thuyết tải nhận thức (Cognitive Load), thuyết cải tạo (Elaboration)…[7]
Phương hướng áp dụng các học thuyết học tập trong đào tạo trực tuyến thời kỳ cách mạng 4.0
Trong các học thuyết trên, ba học thuyết có sức ảnh hưởng lớn nhất trong đào tạo trực tuyến là thuyết hành vi, thuyết kiến tạo và thuyết nhận thức.
Thuyết hành vi được áp dụng trong đào tạo trực tuyến theo cách người dạy thiết kế các chương trình học tập trực tiếp trên máy tính theo nội dung định trước, đồng thời quản lý môi trường học tập của người học để tạo ra kết quả học tập tốt nhất. Hiện nay, với sự phát triển nhanh chóng của công nghệ, nhất là công nghệ đồ họa và sự phát triển của trí tuệ nhân tạo (AI - Artificial Intelligence), thuyết hành vi đã được các nhà nghiên cứu phát triển thêm ở một mức độ cao hơn đó là dựa trên những hành vi, thói quen, sở thích và tâm lý của người học, các nhà nghiên cứu đã xây dựng môi trường học tập ảo cho người học, trong môi trường học tập ảo, người học sẽ được đào tạo, huấn luyện và thực hành theo kiểu trò chơi nhập vai (avatar), các nhiệm vụ học tập sẽ được giao bởi các giáo viên ảo (virtual teacher).
Phương pháp dạy và học này đã đem lại nhiều thành công đáng kinh ngạc bởi nó đem lại cho người học sự hứng thú, khơi gợi trí tò mò, kích thích sự khám phá của người học. Đã có nhiều nghiên cứu chỉ ra rằng những tiềm năng của người học không có cơ hội thể hiện ở trong thế giới thật lại được bộc lộ hết mức trong thế giới ảo. Xét về phương diện hiệu quả đào tạo, đây có thể coi là một phương pháp dạy và học rất có tiềm năng phát triển, thay thế các phương pháp dạy và học truyền thống [12, 8, 1]. ---> với việc công nghệ dẫn dụ con người ngày càng vào "nhiều vũ trụ ảo" thì sao???
Thuyết nhận thức được áp dụng trong đào tạo trực tuyến theo cách người dạy xây dựng bài giảng, bài thí nghiệm, bài thực hành mô phỏng có kết hợp âm thanh, hình ảnh, hoạt hình, video và những nội dung mang tính tương tác nhằm kích thích sự hưng phấn của người học thông qua hai kênh nghe và nhìn. Các nội dung học tập được trình bày một cách rõ ràng và phù hợp với năng lực tiếp thu kiến thức của người học. Tuy nhiên, người dạy cần chú ý không được chèn quá nhiều hình ảnh hoặc âm thanh trong bài học vì sẽ làm người học bị phân tâm hoặc bị nhiễu loạn việc tiếp thu những ý chính của bài học.
Ngày nay, giao diện người dùng tự nhiên (Natural User Interfaces - NUIs) giữa người dạy và người học trong môi trường học tập ảo đang được coi là bước tiến lớn thứ ba trong việc tương tác giữa người và máy sau giao diện dòng lệnh (Commando Lines - CLs) và giao diện người dùng đồ họa (Graphical User Interfaces - GUIs).
Theo Bollhoefer (2009), giao diện người dùng tự nhiên được mô tả như một sự giao tiếp trực tiếp giữa người và máy thông qua một hoặc nhiều giác quan của người sử dụng [2]. Giao diện này giúp người dạy tạo dựng được những nhiệm vụ, bài tập trong môi trường học tập ảo được dễ dàng, ấn tượng và thu hút sự chú ý của người học, điều này giúp người học nhớ kiến thức được lâu hơn.
Đã có nhiều nghiên cứu chỉ ra rằng nếu người học có thể giao tiếp với hệ thống theo cách tự nhiên, tập trung nhiều hơn thì có thể được đào tạo tốt hơn bản thân hệ thống đó tự điều khiển [6]. Điều này nói lên rằng việc áp dụng thuyết nhận thức trong môi trường học tập ảo có một tiềm năng lớn trong việc hỗ trợ quá trình học tập của người học thông qua phương pháp học tập tình huống, phương pháp phát hiện vấn đề để phát triển các kĩ năng và kiến thức cho người học.
Thuyết kiến tạo được áp dụng trong đào tạo trực tuyến theo cách phát triển và sử dụng môi trường học tập sáng tạo, khuyến khích sự chủ động của người học, tạo không gian phát triển cá nhân và cơ hội áp dụng kiến thức ở nhiều ngữ cảnh, giao tiếp xã hội thông qua mạng truyền thông và sự hợp tác [4]. Tuy nhiên, khi áp dụng thực tế trong đào tạo trực tuyến (chẳng hạn qua hệ thống Moodle) thì người học lại không thu được hiệu quả như mong muốn. Trở ngại lớn nhất đối với người học chính là việc thảo luận, tương tác ngang hàng với nhau và với người dạy. Điều này chỉ có thể khắc phục được bằng cách người học tự tạo các cơ hội để lôi kéo, thu hút người học khác hoạt động cùng nhau trong khoảng thời gian đủ dài [3].
Với sự phát triển vượt bậc của khoa học công nghệ trong thời kỳ cách mạng công nghiệp 4.0, có thể nhận thấy rõ môi trường học tập đã dần thay đổi từ thế giới thật (real world) sang môi trường học tập trong thế giới ảo (virtual world) hoặc kết hợp cả môi trường học tập thật và môi trường học tập ảo. Điều này dẫn tới hệ quả tất yếu là các trường học ảo sẽ phát triển nhanh chóng và thay thế dần các trường học thật, phương pháp dạy và học cũng thay đổi, người dạy sẽ giao tiếp chủ yếu với người học thông qua môi trường học tập ảo hoặc giáo viên ảo sẽ đảm nhiệm việc giảng dạy thay cho giáo viên thật, người học có thể học bất cứ lúc nào, ở bất cứ đâu mà không cần phải đến trường. Nếu viễn cảnh đó xảy ra thì rõ ràng nhiệm vụ của người giáo viên đã dần thay đổi, việc giảng dạy không còn là nhiệm vụ chính của họ nữa bởi vì đã có các robot hoặc giáo viên ảo thay thế, có lẽ nhiệm vụ của người giáo viên lúc này là nghiên cứu thiết kế các chương trình dạy học hướng tới năng lực từng người học cụ thể. Để thực hiện nhiệm vụ mới này thì rõ ràng người giáo viên tương lai phải là những chuyên gia có trình độ chuyên môn sâu về thiết kế chương trình đào tạo và tâm lý học, đồng thời phải được trang bị những học thuyết học tập phù hợp. Trên thực tế, muốn tăng cường chất lượng và hiệu quả của việc dạy và học ở trong bất cứ môi trường học tập nào, người dạy cần phải kết hợp các học thuyết học tập với nhau.
4. Kết luận
Cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 đã diễn ra, kéo theo đó là sự thay đổi về căn bản đời sống, kinh tế và xã hội. Đây là một cơ hội nhưng cũng là một thách thức để ngành giáo dục thay đổi căn bản, toàn diện nền giáo dục nước nhà. Để hòa nhập với cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 và nền kinh tế số, ngoài việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, hạ tầng công nghệ thì việc thay đổi mô hình, quá trình, phương pháp dạy và học là một vấn đề vô cùng cấp bách. Thông qua quá trình nghiên cứu và so sánh một số học thuyết học tập đang được áp dụng tại các trường học trên thế giới, tác giả đã tổng hợp được một số học thuyết học tập và phương hướng áp dụng các học thuyết này trong đào tạo trực tuyến thời kỳ cách mạng công nghiệp 4.0. Tác giả hi vọng các trường đại học của Việt Nam nói chung và các trường đại học sư phạm nói riêng sẽ tìm ra được mô hình đại học mới với triết lý, học thuyết học tập, phương pháp dạy và học có tính đặc thù với bản sắc văn hóa riêng để đưa nền giáo dục Việt Nam sánh vai với nền giáo dục thế giới.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Anja Richert, Lana Plumanns, Kerstin Gross, Katharina Schuster và Sabina Jeschke ''Learning 4.0: Virtual Immersive Engineering Education''.
Bollhoefer Klaas Wilhelm (2009), 'Microsoft Surface und das Natural User Interface (NUI)', Nhà xuất bản Pixelpark White Paper.
Branko Bognar, Vesna Gajger và Vlatka Ivić (2016), 'Constructivist E-Learning in Higher Education', Tạp chí Croatian Journal of Education, Số 18(1), Trang: 31-46.
Đỗ Đức Thông (2013), 'Vận dụng một số lý thuyết học tập trong môi trường E-Learning', http://trieuson5.edu.vn/247/Van-dung-mot-so-ly-thuyet-hoc-tap-trong-moi-truong-E-Learning.html
Howard Gardner (2011), 'Frames of mind: The theory of multiple intelligence', xuất bản lần thứ 3.
Johansson Daniel (2012), 'Convergence in Mixed Reality-Virtuality Environments Facilitating Natural User Behaviour', Tạp chí Örebro Studies in Technology.
Learning Theories, https://www.learning-theories.com/
Marko Urha, Goran Vukovica, Eva Jereba và Rok Pintara (2015), 'The model for introduction of gamification into E-Learning in higher education', Tạp chí Procedia - Social and Behavioral Sciences, Số 197, Trang: 388-397.
Ruth Colvin Clark và Richard E. Mayer (2011), 'E-Learning and the Science of Instruction: Proven Guidelines for Consumers and Designers of Multimedia Learning', Xuất bản lần thứ 3, Nhà xuất bản Pfeiffer.
Sabina Jeschke (2015), 'Engineering Education for Industry 4.0: Challenges, Chances, Oppotunities', soạn), World Engineering Education Forum 2015.
Scott Winstead (2016), 'E-Learning 4.0: Prospects And Challenges', Tạp chí E-Learning Industry.
The project ELLI - funded by the Federal Ministry of Education and Research in Germany (2016), 'Engineering Education 4.0: Excellent Teaching and Learning in Engineering Sciences', Nhà xuất bản Springer International Publishing AG 2016.
Trần Nguyễn Nguyên Hân (2016), 'Ứng dụng các lí thuyết tâm lí học trong dạy học mầm non', Tạp chí khoa học ĐHSP Tp. Hồ Chí Minh, Số 4(82), Trang: 154-162.
Thuyết kết nối (Connectivism): Một lý thuyết học trong thời đại kỹ thuật số
George Siemens
Dẫn luận
Thuyết Hành vi (Behaviorism), thuyết Nhận thức (cognitivism), và thuyết Xây dựng/ Kiến tạo (constructivism) là ba lý thuyết học lớn thường được sử dụng nhiều nhất trong việc tạo ra các môi trường giảng dạy. Tuy nhiên những thuyết này đã được phát triển trong thời đại mà việc học không được tác động bởi công nghệ. Trong 20 năm qua, công nghệ đã tái tổ chức cách sống, cách giao tiếp/truyền thông, và cách học của chúng ta. Các nhu cầu và lý thuyết học mô tả những nguyên lý và tiến trình học phải phản ánh môi trường xã hội nền tảng. Vaill nhấn mạnh rằng “học phải là một cách hiện hữu – một tổng thể thái độ và hành động của các cá nhân và nhóm, khiến họ tìm cách bắt kịp những sự kiện bất ngờ, mới mẻ, hỗn độn, nổi lên, lặp lại…” (1996, p.42).
Mới 40 năm trước đây, người học chỉ cần hoàn thành chương trình học ở nhà trường rồi vào làm một nghề thường kéo dài suốt đời. Thông tin phát triển chậm. Đời sống của kiến thức đo được bằng thập niên. Ngày nay, các nguyên lý nền tảng đã thay đổi. Kiến thức tăng trưởng theo cấp số nhân. Trong nhiều lĩnh vực, đời sống của kiến thức giờ đây được đo bằng tháng và năm. Gonzalez (2004) mô tả đời sống kiến thức nhanh chóng giảm bớt ra sao:
“Một trong những nhân tố thuyết phục nhất là chu kỳ bán rã (half-life) của kiến thức. Đó là khoảng thời gian kể từ khi kiến thức được tựu thành cho đến khi nó trở nên lỗi thời. Một nửa những điều được biết đến hôm nay đã chưa từng được biết vào 10 năm trước. Theo Hội Huấn luyện và xây dựng tư liệu Hoa Kỳ (American Society of Training and Documentation (ASTD) thì khối lượng kiến thức trên thế giới đã tăng gấp đôi trong 10 năm qua và hiện nay cứ 18 tháng là tăng gấp đôi. Để đối phó với chu kỳ bán rã kiến thức, các tổ chức đã buộc phải phát triển những phương pháp khai triển giảng dạy mới”.
Một số khuynh hướng có ý nghĩa trong việc học:
- Nhiều người học sẽ chuyển qua sự đa dạng các lĩnh vực khác nhau, có thể không liên quan nhau trong suốt cuộc đời mình.
- Việc học không chính thức là khía cạnh có ý nghĩa của trải nghiệm học. Giáo dục chính thức không còn chiếm phần lớn việc học của ta. Giờ đây việc học diễn ra theo nhiều cách đa dạng- qua các cộng đồng thực hành, các mạng lưới cá nhân, và qua việc hoàn tất các nhiệm vụ liên quan đến công việc.
- Học là một tiến trình liên tục, kéo dài suốt đời. Các hoạt động liên quan đến học và làm không còn tách biệt. Trong nhiều tình huống, chúng là một.
- Công nghệ thay đổi não bộ của chúng ta. Các công cụ ta sử dụng xác định và định hình tư duy của ta.
- Tổ chức và cá nhân cả hai đều là các cơ quan học. Sự chú ý ngày càng tăng tới việc quản lý kiến thức tô đậm nhu cầu có một lý thuyết có thể giải thích sự nối kết giữa việc học cá nhân và việc học có tổ chức.
- Nhiều tiến trình trước đây mà các lý thuyết học nắm giữ (đặc biệt trong tiến trình thông tin nhận thức) giờ đây được giao cho hoặc được nâng đỡ bởi công nghệ.
- Biết cách làm thế nào và biết cái gì (know-how and know-what) được bổ sung bằng chỗ để tìm ra nó (know-where: biết tìm ra kiến thức cần thiết ở đâu)
Bối cảnh
Driscoll (2000) định nghĩa học là “sự thay đổi liên tục trong hiệu năng của con người hay tiềm năng của hiệu năng con người… [hiệu năng ấy] là kết quả của kinh nghiệm và sự tương tác với thế giới của người học”. Định nghĩa này bao quát nhiều thuộc tính thường được liên kết với thuyết hành vi, thuyết nhận thức, và thuyết xây dựng/ kiến tạo – có thể kể, học như một trạng trái thay đổi kéo dài (về cảm xúc, tâm trí, sinh lý (tức là các kỹ năng)) được sinh ra như kêt quả của các kinh nghiệm và sự tương tác với nội dung hay với những người khác.
Driscoll (2000, p14-17) thăm dò một số sự phức hợp của định nghĩa cho việc học. Sự tranh luận xoay quanh:
- Các nguồn kiến thức có giá trị – Chúng ta có được kiến thức thông qua kinh nghiệm chăng? Kiến thức là có sẵn bên trong (bẩm sinh)? Chúng ta có được kiến thức thông qua suy nghĩ và lập luận?
- Nội dung của kiến thức – kiến thức có thực sự có thể biết? Kiến thức có thể biết trực tiếp thông qua kinh nghiệm của con người?
- Sự xem xét cuối cùng tập chú vào 3 truyền thống tri thức học liên quan đến việc học: Thuyết Khách thể, Thuyết Thực dụng, và Thuyết Diễn giải
- Thuyết Khách thể (Objectivism – tương tự thuyết Hành vi) nói rằng thực tại là ở bên ngoài và mang tính khách quan, và kiến thức có được thông qua kinh nghiệm.
- Thuyết Thực dụng (Pragmatism – tương tự thuyết Nhận thức) nói rằng thực tại được diễn giải, và kiến thức được thương lượng thông qua kinh nghiệm và suy nghĩ.
- Thuyết Diễn giải (Interpretivism – tương tự thuyết Xây dựng/ Kiến tạo) nói rằng thực tại là bên trong, và kiến thức được xây dựng nên.
Cả ba lý thuyết học này chủ trương kiến thức là một khách thể (hay một trạng thái) có thể đạt được (nếu không có sẵn bên trong) thông qua lập luận hay kinh nghiệm. Thuyết Khách thể, thuyết Nhận thức và thuyết Hành vi (xây dựng trên các truyền thống tri thức học) muốn nói về việc một người học là như thế nào.
Thuyết Hành vi nói rằng học là điều phần lớn không thể biết, chúng ta không thể hiểu cái gì đi vào bên trong một con người (thuyết “hộp đen”). Gredler (2001) diễn tả thuyết Hành vi như bao gồm nhiều lý thuyết làm nên ba giả định về việc học:
- Hành vi có thể quan sát quan trọng hơn là các hoạt động hiểu nằm ở bên trong.
- Hành vi nên được tập chú vào những yếu tố đơn giản: sự kích thích và đáp ứng cụ thể (chuyên biệt)
- Học là thay đổi hành vi.
Thuyết Nhận thức thường lấy hình mẫu là tiến trình xử lý thông tin của một máy tính. Việc học được nhìn như một tiến trình xử lý các nhập liệu (đầu vào), quản lý trong bộ nhớ ngắn hạn, và mã hoá cho việc nhớ lại dài hạn. Cindy Buell nói chi tiết: “Trong các lý thuyết nhận thức, kiến thức được nhìn như các công trình xây dựng tâm trí tượng trưng, và tiến trình học là phương tiện để những biểu trưng ấy được lưu giữ trong ký ức”.
Thuyết Xây dựng nói rằng người học tạo nên kiến thức khi họ tìm cách hiểu các trải nghiệm của bản thân (Driscoll, 2000, p. 376). Thuyết Hành vi và thuyết Nhận thức xem kiến thức là ở bên ngoài người học và tiến trình học là hành động đưa kiến thức vào nội tâm. Thuyết Xây dựng cho rằng người học không phải là những thùng rỗng để nhồi đầy kiến thức vào. Thay vì thế, người học cố gắng chủ động tạo ra nghĩa. Người học thường chọn và theo đuổi việc học của chính mình. Các nguyên lý của thuyết Xây dựng nhận ra rằng việc học trong đời sống thực là lộn xộn và phức hợp. Các lớp học muốn vượt qua “tình trạng mờ” của việc học này sẽ có hiệu quả hơn khi chuẩn bị cho người học học suốt đời.
Hạn chế của các thuyết Hành vi, Nhận thức, Xây dựng
Một nguyên lý trung tâm của phần lớn các lý thuyết học là: việc học diễn ra bên trong một con người. Thậm chí các quan điểm xây dựng/kiến tạo luận mang tính xã hội cho rằng việc học là một tiến trình hành động mang tính xã hội, vẫn cổ vũ tính chủ yếu của cá nhân (và sự có mặt thể chất của cá nhân ấy – tức là của não bộ). Những lý thuyết này không nói đến việc học diễn ra bên ngoài con người (tức là việc học được lưu giữ và thao tác bởi công nghệ). Cũng không mô tả được việc học diễn ra như thế nào trong các tổ chức.
Các lý thuyết học quan tâm đến tiến trình thực tế của việc học, chứ không đến giá trị của cái được học. Trong một thế giới nối mạng, chính cách thức thông tin mà ta có được đáng để thăm dò. Nhu cầu đánh giá giá trị của việc học có phần là một siêu công cụ được áp dụng trước khi bản thân việc học bắt đầu. Khi kiến thức còn ít ỏi, thì tiến trình đánh giá giá trị được xem như có sẵn trong việc học. Khi kiến thức dồi dào, thì việc đánh giá kiến thức là quan trọng. Trong môi trường hiện nay, ta thường có nhu cầu hành động mà không cần đến việc học của cá nhân – nghĩa là, chúng ta hành động dựa theo thông tin bên ngoài kiến thức cơ sở của mình. Năng lực tổng hợp và nhận ra các kết nối và mẫu thức là một kỹ năng có giá trị. --> mẫu thức là mô thức???
Nhiều câu hỏi quan trọng được nêu lên khi các lý thuyết học đã thiết định được thấy qua công nghệ. Toan tính tự nhiên của các lý thuyết gia là tiếp tục xét lại và tiến triển các lý thuyết khi các điều kiện thay đổi. Tuy nhiên, đến một điểm nào đó, những điều kiện nền tảng đã thay đổi đáng kể đến mức sự cải sửa thêm nữa không còn có nghĩa. Cần có cách tiếp cận hoàn toàn mới.
Một số câu hỏi phải thăm dò liên quan đến các lý thuyết học và tác động của công nghệ và các ngành khoa học mới (hỗn mang – chaos – và các mạng Internet) về việc học:
- Các lý thuyết học chịu tác động như thế nào khi kiến thức không còn được thu nạp theo cách tuyến tính?
- Cần hiệu chỉnh thế nào các lý thuyết học khi công nghệ thực hiện nhiều thao tác nhận thức trước kia do người học thực hiện (lưu giữ và lấy ra thông tin)?
- Chúng ta có thể tiếp tục thế nào để cập nhật trong một sinh thái thông tin tiến triển nhanh?
- Các lý thuyết học nói thế nào về những thời điểm cần có việc thực hiện mà không có sự hiểu hoàn toàn?
- Tác động của các mạng liên kết và các lý thuyết phức hợp đối với việc học?
- Tác động của tình trạng hỗn mang như một tiến trình nhận ra mẫu thức phức hợp đối với việc học?
- Với việc nhận biết ngày càng tăng đối với các kết nối tương liên trong các lĩnh vực kiến thức khác nhau, thì các hệ thống và các lý thuyết sinh thái được giác tri ra sao dưới ánh sáng của các nhiệm vụ học?
Một lý thuyết khác có thể có
Đưa công nghệ và sự kết nối vào, sẽ làm cho hoạt động học bắt đầu chuyển các lý thuyết vào thời đại kỹ thuật số. Chúng ta không còn thể dựa vào kinh nghiệm cá nhân để có được việc học mà mình cần có để hành động. Chúng ta có được năng lực từ việc hình thành các mối kết nối. Karen Stephenson nói:
“Kinh nghiệm đã từ lâu nay được coi như người thầy tốt nhất. Kể từ khi chúng ta không thể trải nghiệm mọi thứ, thì trải nghiệm của những người khác, và do đó những người khác trở thành người thay thế ta quản lý (surrogate) kiến thức. “Tôi lưu giữ kiến thức của mình trong kiến thức của bạn bè, đó là phương châm thu thập kiến thức thông qua việc thu thập mọi người (không bị lỗi thời)”.
Hỗn mang là một thực tại mới đối với những người làm việc về kiến thức. Tạp chí Tuần Khoa học ScienceWeek (2004) dẫn định nghĩa của Nigel Calder: Hỗn mang là “một hình thức bí nhiệm của trật tự”. Hỗn mang là sự mất đi tính có thể dự báo, bằng chứng là trong những sự thu xếp phức tạp thoạt tiên sẽ thách đố trật tự. Không như thuyết Xây dựng nói rằng người học tìm cách đạt được sự hiểu biết bằng các nhiệm vụ làm ra nghĩa (meaning making), (thuyết) hỗn mang nói rằng nghĩa vốn tồn tại – thách thức của người học là nhận ra các mẫu thức có vẻ như bị giấu kín. Việc làm ra nghĩa và hình thành những kết nối giữa các cộng đồng chuyên biệt là những hoạt động quan trọng. ---> tạo ra "kết nối giữa các cộng đồng chuyên biệt, kiểu như chia sẻ +nhà trọ; chia sẻ + vận chuyển; chia sẻ + server; chía sẻ + xe tải; ... hay thay thế "chia sẻ" bằng nft, blockchain, ... trong các lĩnh vực hien nay???
Hỗn mang, như một môn khoa học, thừa nhận sự kết nối giữa mọi thứ. Gleick (1987) nói: “Chẳng hạn, trong thời tiết, điều này được dịch thành cái mà chỉ được biết kiểu nừa đùa nửa thật là Hiệu ứng Cánh bướm (Butterfly Effect) – ý niệm cho rằng một cái đập cánh của con bướm ở Bắc Kinh hôm nay có thể biến đổi các hệ thống bão tố ở New York vào tháng sau”. Sự tương tự này tô đậm một thách thức có thật: “sự phụ thuộc mang tính giác cảm vào các điều kiện ban đầu” tác động sâu xa đến cái ta học và cách thức ta hành động dựa trên việc học của ta. Việc làm ra quyết định là chỉ dấu của điều đó. Nếu điều kiện nền tảng được sử dụng để thay đổi các quyết định, thì bản thân việc quyết định không còn đúng như vào lúc nó được làm ra. Năng lực nhận ra và hiệu chỉnh những chuyển đổi về mẫu thức là một nhiệm vụ then chốt của việc học.
Luis Mateus Rocha (1998) định nghĩa việc tự tổ chức (self-organization) là việc “hình thành tự phát các cấu trúc, mẫu thức, hay hành vi được tổ chức tốt, từ các điều kiện tình cờ ban đầu”. Việc học, như một tiến trình tự tổ chức đòi hỏi hệ thống (các hệ thống học cá nhân và có tổ chức) “mở về thông tin, nghĩa là, để có thể xếp loại sự tương tác của chính nó với một môi trường, nó phải có năng lực thay đổi cấu trúc của nó”. Wiley and Edwards thừa nhận tầm quan trọng của việc tự tổ chức như một tiến trình kiến thức: thay vì hằng ngàn con kiến đi ngang những lối pheromone của nhau và thay đổi hành vi của chúng theo đó, thì hằng ngàn con người đi qua nhau trên vỉa hè và thay đổi hành vi của họ theo đó”.
Việc tự tổ chức ở trình độ cá nhân là một tiến trình vi mô của những kiến trúc kiến thức do việc tự tổ chức rộng lớn hơn được tạo ra trong những môi trường liên kết hay mang tính định chế. Năng lực hình thành các kết nối giữa những nguồn thông tin, và từ đó tạo ra các mẫu thông tin hữu dụng là phải có để học trong nền kinh tế tri thức của chúng ta.
Các mạng lưới, các thế giới nhỏ, các liên kết yếu (weak ties)
Một mạng lưới có thể được định nghĩa đơn giản là những kết nối giữa các thực thể. Các mạng máy tính, lưới điện và mạng xã hội tất cả đều vận hành theo nguyên lý giản dị là: mọi người, nhóm, hệ thống, đầu mối, thực thể có thể kết nối để tạo ra một tổng thể tích hợp. Những thay đổi trong phạm vi mạng lưới có các hiệu ứng trồi sụt đối với tổng thể.
Albert-László Barabási nói rằng “các đầu mối luôn luôn cạnh tranh để kết nối, vì những sự liên kết thể hiện sự sống sót trong một thế giới liên kết với nhau”. (2002, p.106). Sự cạnh tranh này phần lớn mờ nhạt trong khuôn khổ một mạng lưới học cá nhân, nhưng việc đặt giá trị vào một số đầu mối hơn là những đầu mối khác là một thực tế.
Các đầu mối thành công trong việc đạt được hình ảnh tốt hơn sẽ thành công hơn trong việc có được thêm nhiều kết nối. Các đầu mối (có thể là lĩnh vực, ý tưởng, cộng đồng) chuyên môn hoá và được nhận ra về tính chuyên môn cao thì có nhiều cơ may hơn để được nhận ra, do đó có sự thụ phấn chéo (cross-pollination) của các cộng đồng học.
Các liên kết yếu là những đường liên kết hay những cây cầu cho phép kết nối ngắn giữa các thông tin. Các mạng lưới trong thế giới nhỏ bé của chúng ta thường đầy những người có mối quan tâm và kiến thức tương tự chúng ta. Chẳng hạn, việc tìm một việc làm mới, thường diễn ra thông qua các liên kết yếu. Nguyên lý ấy rất có giá trị trong ý niệm về sự khám phá ăn may (serendipity), sự cách tân, và óc sáng tạo. Các kết nối giữa những ý tưởng và lĩnh vực xa nhau có thể tạo ra những sự cách tân mới.
Thuyết kết nối Connectivism
Thuyết kết nối là sự tích hợp những nguyên lý được thăm dò bởi cái hỗn mang, các mạng lưới và các lý thuyết về phức hợp và tự tổ chức. Việc học là một tiến trình diễn ra trong những môi trường mây mờ của sự chuyển đổi các yếu tố cốt lõi – không hoàn toàn dưới sự kiểm soát của cá nhân.
Việc học (được định nghĩa như kiến thức có thể sử dụng) có thể nằm bên ngoài bản thân chúng ta (trong phạm vi một tổ chức hay cơ sở dữ liệu), tập chú vào việc kết nối các bộ thông tin chuyên biệt, và các kết nối cho ta khả năng học ngày càng quan trọng hơn tình trạng kiến thức hiện tại của ta. ---> "tập chú" là từ mà GS John Vũ science technology hay dịch là "hội tụ"????
Thuyết kết nối được dẫn dắt bởi sự hiểu rằng các quyết định là dựa trên những nền tảng thay đổi nhanh chóng. Thông tin mới được thu nạp liên tục. Năng lực phân biệt giữa thông tin quan trọng và không quan trọng mang tính sống còn. Năng lực nhận ra khi nào thông tin mới làm thay đổi những cảnh quan dựa trên các quyết định làm ra ngày hôm qua, cũng có tính quyết định.
Các nguyên lý của Thuyết Kết nối:
- Việc học và kiến thức dựa trên sự đa dạng các ý kiến.
- Việc học là một tiến trình kết nối các đầu mối chuyên biệt hay các nguồn thông tin.
- Việc học có thể nằm trong những thiết bị không phải là con người.
- Năng lực biết nhiều hơn có tính quyết định hơn là kiến thức hiện đã được biết.
- Cần nuôi dưỡng và duy trì các kết nối để tạo thuận lợi cho việc học liên tục.
- Năng lực coi các kết nối giữa các lĩnh vực, ý tưởng và khái niệm là kỹ năng cốt lõi.
- Tính hiện thời (kiến thức chuẩn xác, cập nhật) là nội dung của mọi hoạt động học theo thuyết kết nối.
- Bản thân việc làm ra quyết định là một tiến trình học. Chọn cái để học và nghĩa của thông tin thu được được nhìn thông qua lăng kính của một thực tại chuyển đổi. Tuy lúc này ta có câu trả lời đúng, ngày mai nó có thể sai do những thay đổi của khí hậu thông tin ảnh hưởng đến quyết định.
Thuyết Kết nối cũng nói đến những thách thức mà nhiều công ty đối mặt trong các hoạt động quản lý kiến thức. Kiến thức nằm ở cơ sở dữ liệu cần được kết nối với đúng người trong đúng hoàn cảnh để được xếp vào phạm trù học. Các thuyết Hành vi, Nhận thức, và Xây dựng không muốn đề cập đến những thách thức của kiến thức có tổ chức và việc chuyển giao.
Dòng chảy thông tin trong một tổ chức là một yếu tố quan trọng trong tính hiệu quả của tổ chức. Trong một nền kiến thức tri thức, dòng chảy thông tin tương đương với ống dẫn dầu trong kinh tế công nghiệp. Dòng chảy của việc tạo ra, bảo tồn và sử dụng thông tin phải là hoạt động tổ chức then chốt. Dòng chảy kiến thức có thể giống như một con sông quanh co qua sinh thái của một tổ chức. Trong một số địa hạt, con sông tụ nước và trong những địa hạt khác nó rút nước. Sức khoẻ của sinh thái học tập của tổ chức phụ thuộc vào việc nuôi dưỡng hiệu quả dòng chảy thông tin.
Phân tích mạng xã hội là một yếu tố thêm vào những hình mẫu học & hiểu trong một kỷ nguyên kỹ thuật số. Art Kleiner (2002) thăm dò “thuyết lượng tử về sự tin cậy” của Karen Stephenson (“quantum theory of trust”), thuyết này “không chỉ giải thích làm thế nào nhận ra năng lực nhận thức tập thể của một tổ chức, mà còn giải thích làm thế nào vun trồng và gia tăng nó”. Trong lòng các mạng xã hội có những trung tâm là những người được kết nối nhiều, những người có năng lực nuôi dưỡng và duy trì dòng chảy kiến thức. Sự tương thuộc của các trung tâm này đưa đến kết quả là dòng chảy kiến thức có hiệu quả, cho phép cá nhân hiểu được tình trạng của những hoạt động có tổ chức.
Điểm xuất phát của thuyết kết nối là cá nhân. Kiến thức cá nhân bao gồm một mạng lưới cung cấp thông tin vào các tổ chức và thiết chế, đến lượt chúng, những tổ chức và thiết chế này cung cấp thông tin vào mạng lưới, từ đó tiếp tục cung cấp việc học cho cá nhân. Chu trình này phát triển (từ cá nhân đến mạng lưới và tổ chức), cho phép người đọc duy trì sự cập nhật với lĩnh vực của mình thông qua những kết nối mà mình đã hình thành.
Landauer and Dumais (1997) thăm dò hiện tượng “người ta có nhiều kiến thức hơn là được nhìn thấy bên ngoài, [cho phép ta] nắm được thông tin bày ra trước mắt mình”. Hai ông cho ta một tiêu điểm theo thuyết kết nối khi tuyên bố rằng “ý niệm giản dị là một số lĩnh vực kiến thức chứa rất nhiều mối tương liên yếu ớt, nếu được khai thác đúng mức, sẽ có thể mở rất rộng việc học bằng một tiến trình suy luận”. Giá trị của việc nhận ra mẫu thức và kết nối “các thế giới kiến thức nhỏ bé của chúng ta” là rõ rệt trong sự tác động cấp số nhân tới việc học của cá nhân ta.
John Seely Brown đưa ra một ý niệm thú vị là internet thúc đẩy những nỗ lực nhỏ bé của nhiều người bằng những nỗ lực lớn lao của một số ít người. Tiên đề trung tâm là các kết nối được tạo ra với những đầu mối lạ thường, nâng đỡ và tăng cường các hoạt động nỗ lực lớn lao đang có. Brown cho ta ví dụ về dự án của hệ thống Maricopa County Community College kết nối các công dân cao tuổi với học sinh tiểu học trong một chương trình phụ đạo. Trẻ em “nghe lời những “ông nội/ngoại” này nhiều hơn là nghe lời cha mẹ chúng, việc phụ đạo thực sự giúp cho thầy cô giáo… những nỗ lực nho nhỏ của nhiều người – các cụ già – bổ túc cho những nỗ lực lớn lao của một số ít người – thầy cô giáo” (2002). Việc khuyếch đại việc học, biết, và hiểu thông qua sự khuyếch trương một mạng lưới cá nhân là hình ảnh thu nhỏ của thuyết kết nối.
…
Kết luận
Ống dẫn quan trọng hơn cái chứa trong ống. Năng lực học điều cần thiết cho ngày mai quan trọng hơn những gì ta biết hôm nay. Một thách thức thực sự cho bất kỳ lý thuyết học nào là thúc đẩy kiến thức đã biết khi đưa vào áp dụng. Tuy nhiên, khi cần đến kiến thức chưa biết, thì năng lực bắt vào những nguồn để gặp được những gì cần có trở thành một kỹ năng sống còn --> có nghĩa là "năng lực" tìm được, có cách tiếp cận "kiến thức chưa biết" là "kỹ năng sống còn"????. Vì kiến thức tiếp tục tăng trưởng và tiến hoá, việc tiếp cận được những kiến thức cần có quan trọng hơn là những kiến thức người học hiện có.
Thuyết kết nối thể hiện một hình mẫu học nhận ra những chuyển đổi chấn động trong xã hội, khi việc học không còn là một hoạt động nội tâm, mang tính cá nhân. Cung cách làm việc và vận hành của mọi người đã thay đổi khi các công cụ mới được sử dụng. Lĩnh vực giáo dục đã chậm trễ để nhận ra cả tác động của các công cụ học mới mẻ lẫn những thay đổi về môi trường trong việc định nghĩa học là gì. Thuyết kết nối cho ta nhìn sâu vào các kỹ năng học và các nhiệm vụ cần thiết của người học để đơm hoa kết trái trong kỷ nguyên kỹ thuật số.
Bản dịch của Tâm lý học Giáo dụ
Nguồn bản tiếng Anh: http://itdl.org/journal/jan_05/article01.htm

.png)



0 Comments