https://phamnguyentruong.blogspot.com/2024/06/thuc-tai-tam-linh-va-con-nguoi-hien-ai-8.html - chương 7
https://phamnguyentruong.blogspot.com/2024/06/thuc-tai-tam-linh-va-con-nguoi-hien-ai-9.html
----
(Reality, Spirituality and Modern Man)
David Hawkins, M. D., Ph. D.
Phạm Nguyên Trường dịch
CHƯƠNG 7
Cái gì là thực?
Protagoras (Hy Lạp cổ đại) là người đầu tiên viết rằng mọi người đều ngây thơ cho rằng nhận thức, ý kiến và sự hiểu biết của họ về đời sống và những sự kiện của nó là “thực, là sự thật, là có thực”, và do đó là “đúng”. Do đó, nếu người khác có quan điểm khác, thì bị coi là “sai lầm, thông tin sai lệch, thành kiến, không phải đạo về chính trị hoặc vô minh”. Sự phù phiếm bẩm sinh của cốt lõi ái kỷ của bản ngã có lợi ích thâm căn cố đế là được là người “đúng”, cùng với nó là cảm giác rằng mình là người quan trọng. Đền lượt mình, nó gia tăng hương vị tinh tế và phẩm chất của sự tự tin, ngay cả khi cơ sở của nó hoàn toàn là vọng tưởng. Vì vậy, là người “đúng” gắn liền với tự hào và tự trọng, sau đó phải bảo vệ nó bằng cuộc đấu tranh chính trị quốc gia và quốc tế căng thẳng vì nền tảng đạo đức cao cả.
Vì hậu quả này của các hệ thống niềm tin và những hành vi cảm xúc mà chúng dẫn tới cũng rất quan trọng đối với hạnh phúc cũng như thành công và thậm chí là sự sống còn, cho nên phân tích những quá trình cơ bản có liên quan là công việc mang lại nhiều lợi ích. Vì đấy là những quá trình rất căn bản, hiểu biết về cơ chế là rất quan trọng.
Có thể khám phá sự kiện dễ dàng quan sát được là tâm trí hoạt động trên cơ sở những giả định, ngay lập tức làm người ta cảm động và được xếp hạng theo thứ tự ưu tiên. Chúng cung cấp cho người ta những mô hình tạm thời để tạo ra niềm tin và hành động, cũng như đồng ý hay không đồng ý. Quá trình xử lý tiếp theo có thể dẫn đến nghi ngờ hay chắc chắn và do đó, làm suy yếu hoặc củng cố nhận dạng cá nhân cũng như nhận dạng nhóm với sự hòa điệu của lòng trung thành và cam kết.
Ý thức về thực tại là tiêu điểm mang tính trải nghiệm, chủ quan về sự phức tạp mang tính tương tác phát sinh từ sự đa dạng của những yếu tố vừa có thể nhận ra, vừa tinh tế. Khi được kiểm tra và liệt kê, bất kỳ khoảnh khắc nào của nhận thức chủ quan đều liên quan đến, theo nghĩa đen, hàng triệu yếu tố đóng góp được xếp hạng ở bên trong về tầm quan trọng và ưu thế. Một số có ảnh hưởng rõ ràng nhất là ý kiến, niềm tin, đức tin và các quá trình tâm trí khác như tuổi tác, giới tính, trình độ học vấn, sinh lý não, trải nghiệm trước đây, quá trình huấn luyện, kỹ năng ngôn ngữ, IQ; chuyên môn và năng lực về tâm lý và trí tuệ. Những yếu tố này là bị chi phối bởi tầng tiến hóa tổng thể của ý thức, mà tầng ý thức lại bị ảnh hưởng bởi ý định, cam kết, mục tiêu đã được nội tâm hóa và “chú ý” (Medina, 2006). Tất cả những yếu tố này tiếp tục bị ảnh hưởng bởi những giả định và tiền đề văn hóa và xã hội đã bị chính trị hóa, được chấp nhận là “thực tại” và nội tại của cơ cấu xã hội.
Thực tại như là giải thích
Từ những điều trình bày bên trên, rõ ràng là cảm giác về thực tại là một giả định thực sự mang tính chủ quan, hữu ích về mặt hoạt động nhưng không “thể chứng minh được” như là những mô tả tuyến tính và kích thước của vật thể vật chất. Tất cả những lời tuyên bố của tâm trí, trong trường hợp đều tốt nhất, cũng là phù du, và nhận thức được sự hạn chế như thế là phẩm chất nội tại của trí huệ. Trí huệ chứng tỏ mức độ khiêm tốn cũng như linh hoạt. Nó cũng ngụ ý thái độ thận trọng, bảo thủ; đấy là nhận thức được rằng cùng với thời gian và trải nghiệm thông tin sẽ được tích lũy thêm. Như vậy là, trí huệ coi tất cả kiến thức đều là phù du và có thể thay đổi, không chỉ về ý nghĩa mà còn về tầm quan trọng và giá trị. Định nghĩa cái gì là “thực” cũng hàm ý sự thật có thể kiểm chứng được, mà cho đến mãi thời gian gần đây vẫn chưa có sẵn; do đó, thực tại/sự thật/tính chân thực có thể kiểm chứng được chỉ mới xuất hiện trong ý thức của con người trong giai đoạn gần đây mà thôi.
Năng lực phân biệt thực tại
Tâm trí của con người tự động cho rằng giá trị của nó là trải nghiệm chủ quan của chính mình, và do đó, hoạt động của nó được xây dựng trên đặc tính bẩm sinh được gọi là “đức tin”. Phẩm chất của chính đức tin trong thời gian gần đây đã những người hoài nghi có tay nghề thể hiện một cách ngược đời đức tin cực đoan vào chính thái độ hoài nghi của họ (điểm hiệu chỉnh 160) và phép ngụy biện đầy ái kỷ tấn công. Như vậy là, những người hoài nghi không thể hoài nghi thái độ hoài nghi của chính mình và do đó, họ thể hiện hệ thống niềm tin ngây thơ mà kết quả là chối bỏ các tầng ý thức cao hơn và không có khả năng phân biệt được ý nghĩa, trừu tượng hóa hoặc bối cảnh (trường) với nội dung tuyến tính (biểu hiện bên ngoài), như biểu đồ Sinh lý não, Chương 4, cho thấy.
Bản chất của chính cấu trúc nền tảng của bản ngã của con người là ngây thơ bẩm sinh, ở chỗ nó tin vào thực tại hay sự thật của các chương trình của nó, mà không biết rằng nó không có năng nội tại để tự sửa chữa. Nguyên nhân cố hữu của việc bản ngã không có năng lực xác minh là do dữ liệu của nó bị giới hạn trong hệ thống xử lý ở bên trong. Cơ chế bên trong của bản ngã không có bất kỳ nguồn tham khảo độc lập, nằm ở bên ngoài nào để có thể tiến hành xác minh.
Tâm trí của con người cũng giống như một con tàu trên biển, nó không thể sửa hướng đi nếu không có la bàn hay nguồn tham khảo ở bên ngoài, ví dụ như các ngôi sao. Quan trọng là phải nhận ra rằng hệ thống chỉ có thể trở thành sửa được khi nó có thể truy cập điểm tham chiếu ở bên ngoài (ví dụ, hệ thống định vị toàn cầu), hệ thống này đóng vai trò là giá trị tuyệt đối, phải so sánh tất cả các dữ liệu khác với nó. (Thuyết tuyệt đối có điểm hiệu chỉnh 650, còn chính cái Tuyệt đối có điềm hiệu chỉnh 1.000.)
Như đã trình bày trong tất cả những cuốn sách xuất bản trước đây (Hawkins, 1995-2007), hiện nay đã có thang đo tham chiếu có thể kiểm chứng, theo đó những tầng dưới 200 là giả dối, những tầng trên 200 là ngày càng tiến dần tới sự thật, còn tầng 1.000 đại diện cho điểm tham chiếu cố định tuyệt đối, so với nó thì tất cả các điểm hiệu chỉnh khác đều có tính tương đối. Lưu ý rằng tương đối luận (thông qua chủ nghĩa hậu hiện đại) phủ nhận thực tại của Tuyệt đối, vì nó tin rằng tất cả sự thật là chỉ được tạo ra về mặt ngôn từ, có tính xã hội (tri giác/định nghĩa), ví dụ, “chỉ là thuật tu từ”. Vì vậy, tương đối luận chỉ nhìn thấy tri giác, và không nhìn thấy bản chất cũng như bối cảnh. Ngược đời là, tương đối luận coi tiền đề của nó là tuyệt đối (cao hơn và ưu tú). Nếu tất cả các tuyên bố chỉ là cấu trúc ngữ nghĩa thì rõ ràng là chính tuyên bố đó không có thực tại cố hữu và cũng chỉ là cấu trúc ngôn ngữ có giá trị mà thôi. Như vậy là, xét theo tiêu chí của chính nó, chủ nghĩa hậu hiện đại là sai lầm (như đã được chứng minh trong quá khứ bằng chiến thắng của Plato trước những luận cứ tự chuốc lấy bại của Protagoras).
Nội dung và bối cảnh
Rõ ràng là tất cả các tuyên bố về sự thật hoặc tuyên bố là thực tại phụ thuộc vào điều kiện giữ thế thượng phong của cả những yếu tố xác định được, cũng như các yếu tố chưa biết. Việc giải thích dữ liệu phụ thuộc vào các yếu tố mang tính tình huống tổng thể, như đã được mô tả trong phân tích trước đây. Đối với người quan sát, một sự kiện có ý nghĩa như thế nào hay “giống”như cái gì phụ thuộc vào điểm quan sát và hoàn cảnh giữ thế thượng phong.
Năng lực quan sát và giải thích chính xác thực ra là hậu quả tất nhiên của tầng ý thức và chức năng của bán cầu não phù hợp. Đến lượt mình, những yếu tố này bị ảnh hưởng bởi ý định và động cơ. Ý định và động cơ có thể là sự minh mẫn được huấn luyện, tinh thế, khách quan và khả năng chuyên môn trong việc phân biệt bản chất với sự thiên vị bị bóp méo và chứa đầy cảm xúc và trá giá có chủ đích, bị chính tri hóa và lời lẽ đao to búa lớn (điểm hiệu chỉnh 180).
Thực tại như là sản phẩm của xã hội
Phân biệt thực tại và sự thật luôn luôn là vấn đề khó khăn đối với tâm trí của con người, dù nó có nhận thức được chuyện này hay không (tức là, chủ đề của nhận thức luận). Hiện nay quá trình này thậm chí còn khó khăn hơn, đấy là do ảnh hưởng của các phương tiện truyền thông đại chúng, nó vừa tinh tế vừa vô thức, vừa nhìn thấy được và rõ ràng. Ảnh hưởng rõ ràng nhất của truyền thông là vì nó có tính chọn lọc, cũng như thời gian dành cho tường thuật, trên tivi, tất cả đều được gia tăng thông qua hình ảnh cũng như âm nhạc. Bóp méo về mặt cảm xúc và chính trị và kịch tính hóa càng làm tăng thêm tác động biên tập, được củng cố bằng trình tự và phong cách trình bày. Nội dung do các phương tiện truyền thông đưa ra có thể có điểm hiệu chỉnh từ thấp nhất là 10 cho đến cao, tới 570, nhưng tâm trí người quan sát lại coi những điều được đưa ra với cùng giả định về thực tại, mặc cho sự khác biệt rất lớn về các tầng sự thật được đưa ra. Tác động tổng thể của các phương tiện truyền thông là họ sản xuất ra “thực tại ảo”, trong đó có các giá trị bị bóp méo.
Trong khi người xem hiện đại, tinh tế là những người có khả năng nhận thức cao, thì những người có tầng ý thức thấp hơn là những người không nhận thức được rõ ràng và, tương tự như trẻ con, họ có xu hướng tin rằng hư cấu là sự thật và sống trong một “thực tế thay thế” (Pitts, 2007; Marzeles, 2007). 50% các blog có điểm hiệu chỉnh dưới tầng 200 (tháng 10 năm 2007). Ở Mỹ, 55% người dân có điểm hiệu chỉnh dưới 200 và do đó, có xu hướng bẩm sinh là bóp méo và giải thích sai. Trên toàn thế giới, 85% dân chúng nằm dưới tầng 200, còn ở một số nền văn hóa và quốc gia, gần như 100%. Như vậy là, giả dối chi phối suy nghĩ và kiểm nghiệm thực tại của đa số người dân trong thế giới ngày nay. Như Bộ trưởng tuyên truyền của Đức Quốc xã, Joseph Goebbels, từng nói, nếu một lời nói dối được nhắc lại liên tục, thì cuối cùng người ta sẽ tin rằng nó là thật (thực tại ảo) vì dân chúng không có năng lực phân biệt thật giả.
Bản chất tiến bộ của sự thật và thực tại
Quá trình xử lý thông tin là quá trình tiến hóa và bộc lộ trong phong cách từng bước một diễn ra theo dòng thời gian. Quá trình xác nhận các sự kiện có thể mất nhiều thập kỷ hoặc thậm chí hàng thế kỷ và đòi hỏi chỉnh sửa mỗi khi nhận được và phân tích được thông tin mới. Có thêm kiến thức, thì ý nghĩa và tầm quan trọng thay đổi, các tiêu chí đánh giá thì cũng thế. Tất cả các lĩnh vực kiến thức của nhân loại đều thay đổi theo thời gian, thậm chí chính những báo cáo lịch sử cũng có thể được sửa đổi do có những khám phá và phương pháp luận mới. Vì vậy, tất cả các niềm tin và thông tin đều không phải là dứt khoát, đều chỉ có tính thăm dò, theo nghĩa là ngay cả khi các sự kiện không thay đổi, thì cùng với thời gian, tầm quan trọng hay ý nghĩa của chúng có thể thay đổi.
Sự hiểu biết về thực tại/sự thật là chủ quan và có thể thay đổi, đấy là do sự khác biệt mang tính cá nhân trong phong cách xử lý thông tin, chẳng hạn như “Tôi biết/suy nghĩ/cảm nhận/cảm giác/tin tưởng/có đức tin vào…,” v.v. Ngoài ra, còn có lòng trung thành không nói ra đối với hệ hình không được xác định về thực tại; do đó, người ta “trực cảm”, “nhận ra”, “nhận thức được”, “hiểu”, v.v. Những điều vừa nói bị ảnh hưởng bởi nhũng yếu tố về học vấn, chuyên môn, tài năng, năng lực bẩm sinh, IQ, giá trị được phóng chiếu ra bên ngoài, ý kiến, cảm xúc, và thành kiến, cũng như địa lý, văn hóa, gia đình, huấn luyện về luân lý và đạo đức.
Có thể nói rằng sự thật và thực tại là tương đương, và hiện nay có thể xác minh giá trị của sự tương đương bằng cách tham chiếu đến thang đo đã được hiệu chỉnh của tầng sự thật, đấy là những tầng khách quan, phi cá nhân và độc lập với quan điểm của người quan sát. Một lần nữa, quan trọng là phải nhận ra rằng, tuyên bố về sự thật đòi hỏi phải xác định bối cảnh.
Tâm linh là “thật”?
Cho đến khi cơ học lượng tử ra đời, mọi người đều cho rằng mô tả của Newton về vũ trụ vật chất là trọn vẹn và chung cuộc. Sự xuất hiện của vật lý hạt hạ nguyên tử (subparticle physics) động lực học phi tuyến, lý thuyết lượng tử và những tiến bộ khác của khoa học chỉ ra rằng phải xem xét lại những giả định trước đó. Mặc dù có sự thay đổi trong nhận thức, thực tại cơ bản của dữ liệu khoa học đã bị người ta nghi ngờ. Tuy nhiên, thực tại tâm linh, vốn liên quan đến với các hệ hình phi vật lý, thì không như thế.
Những thực tại tâm linh không cụ thể hay rời rạc, chúng cũng không phải là tuyến tính hoặc có thể mô tả một cách thỏa đáng vì chúng liên quan đến bối cảnh chứ không liên quan tới nội dung. Các cõi tâm linh là trải nghiệm chủ quan, mang tính ngữ cảnh về mặt khái niệm và phi tuyến tính. Vì vậy, chúng được mô tả là không thể diễn tả được, mang tính tôn giáo, ban sơ, thiên đường, vĩnh cửu, phi thời gian, toàn năng, toàn trí, có mặt ở khắp mọi nơi và Thần thánh (được James viết trong The Varieties of Religious Experience).
Đây cũng là lĩnh vực của những khuynh hướng nghiệp lực mà chúng ta chưa biết, cũng như các cõi trời và Thần tính.
Thực tại phi tuyến lớn hơn đã được các thánh thần giáng thế, các vị thánh, đại giác giả và những thiên tài tâm linh mô tả trong suốt hàng ngàn năm qua; các vị này cùng nhau đồng ý rằng có một Thực tại có thể trải nghiệm được, có thể xác nhận được. Những thực tại này bắt đầu xuất hiện ở các tầng ý thức có điểm hiệu chỉnh trên 200 và sau đó tiến lên đến các trạng thái chủ quan mạnh mẽ hơn, có điểm hiệu chỉnh trong những tầng 500 rồi lên tới các tầng 600 rồi tới 1.000 – những tầng Chứng ngộ.
Những vị thầy tâm linh vĩ đại trong suốt các thời đại đã dạy các quá trình có thể dùng để xác nhận theo lối trải nghiệm và chủ quan các thực tại tâm linh. Những thực tại này có thể được xác minh bằng phương pháp luận của nghiên cứu hiệu chỉnh ý thức, nó tạo điều kiện cho sự xuất hiện chiều kích mới của quá trình đánh giá và điều tra.
Thực tại tâm linh và vọng tưởng tâm linh
Vì, trong quá khứ, không có phương tiện phân biệt thật giả, lĩnh vực tâm linh bao gồm một rất nhiều thông tin sai cũng như người ta tin vào những hiện tượng chỉ có thể được mô tả là hư cấu và tưởng tượng mang tính tâm linh. Biểu đồ dưới đây minh họa điều đó. Đây là những thứ được hiệu chỉnh là sai và nằm dưới tầng 200.
Hư cấu và huyền thoại
Người ngoài hành tinh bắt cóc Alien abduction
Cuốn sách (phim) A Million Little Pieces
Tiên tri ngày tận thế
Giáo phái Aquarian
Các thuyết âm mưu xung quanh khu vực 51
Tôn giáo chiêm tinh
Babaji (tên một nhà yogi)
Cuốn sách The Bible Code (Mã kinh thánh)
Sách Khải Huyền (Tân ước)
Truyền dẫn tâm linh (Channeling)
Vòng tròn trên đồng ruộng
Crystal Children
Cuốn sách Mật mã Da Vinci
Tiên tri
DNA Code
Tiên tri ngày tận thế
Người ngoài trái đất
Ma
Gene Chúa
Chiều kích thứ năm đang tới
Phúc âm của Judas
Phật Di Lặc
Những lời tiên tri của lịch Maya
Tác phẩm Natural Healing
Neg. Prayer-Healing Study
(Amer. Heart Journal, 4/06)
New Ageism
Opus Dei Code
Protocols of the Learned
Elders of Zion, The
Raelians
Tái sinh thành những loài thấp kém hơn
Đức Phật tái sinh thành Ram Bahadur Banjan
Vải liệm thành Turin
Cuốn sách The Snake Pit
Thánh đường mặt trời, Order of the
Starseed Children
Transmediumship Lên đồng
Đĩa bay của người ngoài hành thinh
Tôn giáo Đĩa bay
Cuốn sách The Urantia Book
Phân tích những hiện tượng trong quá khứ
Người ta sẽ phát hiện được rằng lĩnh vực được gọi là “tâm linh” bao trùm một phạm vị rộng lớn, bao gồm những tầng rất cao của sự thật có thể được xác nhận được trong những khoảng thời gian kéo dài, ngược hẳn với những tưởng tượng, hư cấu, thần thoại tâm linh sai lầm và giải thích sai. Tuy nhiên, huyền thoại, ngụ ngôn, truyện kể, và truyền thuyết có thể là công cụ giảng dạy nhằm minh họa theo lối ngụ ngôn những khái niệm trừu tượng về sự thật theo phong cách đơn giản. Tương tự như hài hước, thơ ca và nghệ thuật sử dụng theo phong cách giao tiếp ẩn dụ tương tự, cùng với nghịch lý, làm nổi bật các nguyên tắc trừu tượng.
Do đó, kinh sách tôn giáo trong quá khứ, chẳng hạn như Cựu Ước, bao gồm những huyền thoại và câu chuyện không phải là sự thật có thể được xác nhận theo nghĩa đen cùa từ này, mà bao gồm cả văn hóa dân gian. Tương tự như biểu tượng ông già Noel, ông không bay lên mái nhà cùng với tuần lộc hoặc đi xuống theo ống khói, theo nghĩa đen, tuy nhiên truyền thuyết thể hiện tinh thần Giáng sinh theo một phong cách cụ thể mà ngay cả tâm trí của một đứa trẻ cũng có thể hiểu được.
Trong phiên tòa Scopes, những câu chuyện ngụ ngôn trong Kinh Thánh là trọng tâm của cuộc tấn công đặc thù của Clarence Darrow, tương tự việc tấn công vào sự khác biệt giữa câu chữ và tinh thần của luật pháp, đặc trưng của những cuộc tranh luận chính trị hiện nay về quyền tự do thể hiện tôn giáo và sự áp đặt của tôn giáo.
Như đã trích dẫn bên trên, Hiến pháp Mỹ và Tuyên ngôn Nhân quyền thiết lập quyền tự do khỏi những hành động áp đặt tôn giáo do chính phủ (thần quyền) tiến hành, nhưng đồng thời, lại có quyền tự do thể hiện tôn giáo (ví dụ, cây Giáng sinh, ông già Noel, Nến bảy nhánh) là sự phân biệt tinh thường bị những người theo chủ nghĩa thế tục, trong đó có cả ngành tư pháp, lờ đi. Sự thật mà các quan tào bỏ qua là hiến pháp của tất cả 50 bang đều đề cập tới Chúa như là cội nguồn tối thượng của sự tồn tại của con người (G. Williams, 2007); do đó, trung thành với “pháp quyền tự nhiên”.
Thực tại và ý nghĩa
Tầm quan trọng và ý nghĩa được làm rõ là do đã sử dụng những ví dụ cụ thể nhằm minh họa những khái niệm trừu tượng. Sự thật và thực tại tâm linh là kết quả của bối cảnh phi tuyến tính, sau đó bối cảnh tạo ra khó khăn trong việc trình bày bằng ngôn ngữ tuyến tính.
Ý nghĩa không “chứng minh được” vì tác động là chủ quan, khá giống với nghệ thuật, nó là hình thức biểu đạt cao hơn những hạn chế của ngôn từ. Vì vậy, những cái có thể không được chứng minh là “thực” theo lối khách quan lại có thể rất “thực” theo lối chủ quan, mặc cho những khó khăn trong việc thể hiện.
Sự khác biệt giữa sự thật theo nghĩa đen và sự thật trừu tượng là tinh tế và năng lực, đấy là hậu quả của quá trình tiến hóa lên các tầng ý thức cao hơn, thường được gọi là mức độ phức tạp. Biểu tượng được thể hiện qua thơ ca, sử dụng những hình ảnh và khái niệm mang tính biểu tượng để truyền tải sự tô màu của ngữ cảnh, và do đó, truyền tải tầm quan trọng và ý nghĩa. Ví dụ, mặc dù con rồng có thể không có thật theo nghĩa đen, nhưng nó là biểu tượng được mọi người hiểu và công nhận ở tầng nguyên mẫu.
Việc không thể hoặc không có khả năng phân biệt sự khác biệt giữa các biểu tượng và tầm quan trọng hoặc ý nghĩa trừu tượng của chúng được gọi là “hiểu theo nghĩa đen”, hoặc “chán ngắt”, ngụ ý sự hạn chế về khả năng hiểu biết. Bóp méo có mục đích giữa các tầng chân lý theo nghĩa đen và trừu tượng (ví dụ, tinh thần và lời văn của luật pháp) là một cơ chế cơ bản của nhiều tranh luận về chính trị và pháp luật, cũng như tôn giáo. Như vậy là, cơ sở cho tranh luận và xung đột thường là tạo tác vị kỷ (sai) của diễn giải sai được người ta chú ý tới. Nó thường được người ta cố ý dẫn tới sự phóng đại quá mức về tầm quan trọng của những chi tiết thực sự là không liên quan.
Việc nghiên cứu ý nghĩa, được gọi là “thông diễn học”, phản ánh sự tinh tế, quan hệ và sắc thái của quá trình phân loại các tầng tư duy trừu tượng, là kết quả tất yếu của định nghĩa và nhận dạng bối cảnh. Tất cả mọi người sinh ra đều bình đẳng bởi vì cội nguồn Thần thánh của họ là sự thật trừu tượng ở trên cao tầng, nhưng không thể chứng minh được theo nghĩa đen hoặc có thể chứng minh được theo lối khoa học. Mọi người đều “bình đẳng” theo nghĩa nào, mặc dù họ khác hẳn nhau về tài năng, sức khỏe và hoàn cảnh ra đời, giàu nghèo khác nhau?
Nếu nhân quyền là hậu quả tất yếu của Thần tính của quá trình tạo ra con người thì nhân quyền là vốn có và do đó, bất khả xâm phạm. Mặt khác, nếu nhân quyền chỉ là hậu quả của tính thất thường của định nghĩa thế tục, thì những quyền này chỉ có tính tạm thời, tùy tiện và do đó phù du, dễ bị tổn thương và chỉ đơn giản là đối tượng của đàm phán về chính trị và pháp lý (ví dụ, “tiền lớn”).
Là “thực” (real) hàm ý rằng lời xác nhân liên quan đến cái có thực, tồn tại, hiển lộ và đo lường được trong không gian/thời gian và được khoa học xác nhận. Vì vậy, nó là kết luận về một trạng thái của hiện hữu và tồn tại như là “thực”. Do đó, “thực tế” là tuyên bố chủ quan được xác nhận bởi thông tin và mô tả xuất phát từ giác quan. Tuyên bố về thực tại có thực ngụ ý khả năng đánh giá và xác nhận của những người khác, không thể thực sự làm được như thế nếu nó chỉ là thực tại hoàn toàn có tính cá nhân. Tuy nhiên, mức độ của thực tại cũng phản ánh niềm tin và tính liên tục, những cái đó lại phụ thuộc vào giải thích, nghi ngờ hay thiên vị.
Một lần nữa, mọi giả định về thực tại ở tầng cao hơn lại phụ thuộc vào giới hạn mang tính cá nhân, như trích dẫn từ Protagoras trong Theaetus (Đối thoại) của Plato: “Mỗi sự kiện có ý nghĩa với tôi vì tôi cảm thấy như thế, và có ý nghĩa với bạn vì bạn cảm thấy như thế”. Như vậy là, những tuyên bố về thực tại là chứng thực. Tuy nhiên, luận cứ bên trên lại bị hạn chế thêm bởi nó nói đến biểu hiện bên ngoài/tri giác chứ không phải bản chất. Vì vậy, mặc dù ý kiến là chủ quan, Bản chất của nó không phụ thuộc vào ý kiến, mặc dù người quan sát có thể không có khả năng phân biệt như thế. Vì vậy, quá trình hiệu chỉnh tầng sự thật của Bản chất là phương pháp duy nhất mà cho đến nay người ta đã phát hiện được để có thể siêu việt sai lầm tiềm tàng của tri giác, quan sát và kết luận. Do đó, thực tại là bản sắc chứ không phải là miêu tả.
Có những thực tại thuần túy chủ quan, người khác không thể xác nhận bằng trải nghiệm, chẳng hạn như giấc mơ, trí tưởng tượng, hình ảnh, ký ức, v.v. Ngay cả khi dữ liệu được xác nhận, thì sau đó ý nghĩa, tầm quan trọng, giá trị của nó lại được xếp chồng lên, như một yếu tố góp phần vào bối cảnh tổng thể. Kết luận rút ta từ nghiên cứu ý thức là, ví dụ, ở Mỹ, khoảng 55% của người dân thực sự không có khả năng nhận thức được cái gì thực sự là “thật”. Bằng chứng là, kinh nghiệm của tòa án cho thấy khoảng 50% những người bị coi là tội phạm được xác định qua ảnh hoặc đứng vào hàng cho người ta nhận diện là sai. Do đó, ngay cả một tuyên bố duy nhất, chẳng hạn như, “Vâng, người mà tôi thực sự nhìn thấy đã phạm tội” là sai tới 50%. (Cũng xin lưu ý rằng khoảng 50% thông tin trên Internet có điểm hiệu chỉnh dưới tầng 200).
Dữ liệu có thể được chính tâm trí con người xử lý với số lượng lớn. Ví dụ, một số người làm “giảm” đi, còn những người khác thì “tăng” lên, do đó thậm chí cường điệu về tầm quan trọng hay bỏ qua ý nghĩa tạo được ảnh hưởng tới năng lực kiểm nghiệm thực tại. Đối với tâm trí đầy ảo tưởng, tất cả các loại niềm tin đều là “thực” trong khi sự kiện có thực lại bị coi là không đúng. Như vậy là, hư cấu trở thành “thực” vì ý định cơ bản của nó là để nó phục vụ ý định ái kỷ (ví dụ, đúng đối đầu với sai).
Do đó, tâm trí trưởng thành nhận thức được khả năng mắc sai lầm, do đó nhìn thấy giá trị của thái độ khiêm tốn. Như với câu châm ngôn “Tôi tư duy cho nên tôi tồn tại”, tất cả những phát biểu khác về thực tại đều là phù du.
Tổng kết
Trong phân tích cuối cùng này, những cái được coi là “thực” là kết luận mang tính chủ quan, giả định, là kết quả tất yếu của quá trình xử lý nội dung trên nhiều tầng thứ, trong bối cảnh nhất định, đến lượt mình, bối cảnh lại phụ thuộc vào tầng ý thức. Các tầng ý thức tương quan với năng lực và hoạt động của não và có hay không có năng lượng tâm linh, trong đó ý định có vai trò chủ đạo. Do đó, kiêu hãnh hay vị kỷ hạn chế khả năng công nhận sự thật/thực tại, trong khi thái độ khiêm tốn và tôn trọng sự thật chính trực làm cho người ta ít mắc sai lầm và gia tăng khả năng phân biệt hình thức bên ngoài với bản chất. Quá trình xử lý ý nghĩa, tầm quan trọng, sự thật và thực tại liên quan đến việc nhận ra sự khác biệt của các tầng trừu tượng của sự thật và không trộn lẫn các tầng này, làm thế thường dẫn đến giải thích sai. Vì quá trình vừa nói là rất phức tạp, rất nhiều sách báo đã được chấp bút trong suốt nhiều thế kỷ để nói về triết học, thần học và bản thể luận, cũng như các nhánh của triết học gọi là siêu hình học và nhận thức luận. Ví dụ, làm sao chúng ta biết và làm sao chúng ta biết rằng chúng ta biết?
Trong suốt nhiều thế kỷ, đa phần nhân loại đều dựa vào nhà cầm quyền, chờ đợi họ cung cấp câu trả lời cho những điều dường như là sự phức tạp, đa nghĩa. Câu hỏi của xã hội hiện nay là “Thẩm quyền lực đạo đức thực sự nằm ở đâu?” Thẩm quyền thực sự là hệ quả tất yếu của tầng sự thật mà người ta nhận thức được, nó là hạu quả tất yếu của tầng tiến hóa của ý thức. Nhiều sự mơ hồ đã tồn tại cùng với thời gian giờ đây có thể được giải quyết bằng cách hiệu chỉnh tầng ý thức/sự thật theo một điểm tham chiếu chung, chẳng hạn thang đo có thể hiệu chỉnh phi cá nhân đại diện cho cái Tuyệt đối, hệt như nhiệt kế, phong vũ biểu hoặc máy đo độ cao.
Tầng hiệu chỉnh là hậu quả tất yếu của tầng thực tại của bản chất và do đó, bác bỏ thẳng thừng chủ nghĩa giải cấu trúc và tương đối luận của chủ nghĩa hậu hiện đại, cho rằng tri giác và tên gọi bằng ngôn từ chính là thực tại. Với phỏng đoán khéo léo như thế, hiểu biết về hiện thực nhờ lý trí dần dần bị xóa bỏ và giảm xuống bên dưới tầng 200 (nguyên thủy).
Phải nhấn mạnh một lần nữa rằng sự phân biệt thực tại với bóp méo và ngụy biện triết học không chỉ là một vấn đề trí tuệ đã bị chính trị hóa mà có vai trò quan trọng đối với khả năng sống sót. Trong suốt hàng thế kỷ, hàng triệu người đã chết vì không có khả năng phân biệt sự thật với những điều dối trá được người ta tuyên truyền, và trong thế giới ngày nay họ cũng đang làm như thế mỗi ngày. Trong thời đại nguyên tử, không có khả năng xác định sai lầm về quân sự có thể phải trả giá bằng sinh mạng của hàng chục triệu người.
Ai kỷ theo lối cứu thế ác tính (điểm hiệu chỉnh 30) vẫn là nguồn gốc chính của thảm họa tiềm tàng, đấy là do người ta không nhận ra rối loạn, vì ngụy biện và những lời đao to búa lớn của tương đối luận (ví dụ, Neville Chamberlain trước Thế chiến thứ hai; Chương 15, Truth vs. Falsehood). Mặc dù hiện nay “khoan dung” với dối trá hay những xu hướng thoái trào có tính hủy diệt về mặt xã hội đang được người ta ưa chuộng, giá phải trả là không còn sức mạnh và khả năng nhận biết “con sói đội cừu”. Có thể nói rằng là người có đầu óc thực tế đang sống thì tốt hơn là người theo tương đối luận đã chết.
Mặc dù con người hiện đại có vùng vỏ não trước trán phát triển nhất so với tất cả các loài động vật có vú (điểm hiệu chỉnh 200), nhưng logic, lý trí và duy lý thường xuyên và nhanh chóng bị cảm xúc che lấp. Dưới tầng ý thức 200, cảm xúc dựa trên bản năng động vật (hệ thống đường biên nào có điểm hiệu chỉnh ở tầng 120) và sự tiêu cực của chúng cản trở việc sử dụng một cách hiệu quả lý trí và duy lý. Vì vậy, “cảm xúc” có thể xóa sạch năng lực nhận thức mang tính trí tuệ về thực tại mà khó khăn lắm con người mới có. Đam mê có thể gắn vào bất kỳ hấp dẫn nào, rồi sau đó nó sẽ được đánh giá rất cao.
Lý trí và sự thật chệch hướng: Đam mê
Nếu chính đam mê được đánh giá cao (và thậm chí được thúc đẩy) vì lợi ích của chính nó, thế thì tại sao lại như thế, đặc biệt là nếu xem xét tổng thể những thảm họa của nhân loại là do hậu quả tất yếu của đam mê bị kích động quá mức (ví dụ, Đức Quốc xã, Ku Klux Klan và những kẻ khủng bố)? “Đam mê” được thế giới động vật thể hiện trong cuộc đấu tranh giành sự sống và tồn tại. Như vậy là, đam mê có giá trị thực dụng trong những hoàn cảnh nhất định, nhưng sẽ trở thành tiêu cực nếu không được trí thông minh kiềm chế. “Đam mê” thường chỉ có nghĩa là không kiềm chế được cảm xúc ái kỷ và do đó, là định lượng, chứ không phải chất lượng. “Ngôn luận tự do” có nghĩa là quyền tự do tư tưởng và bày tỏ quan điểm, không quá xúc động và không có những hành động ấu trĩ.
Trong quá trình tìm kiếm Chứng ngộ, thái độ vô tư trở thành nhu cầu thiết yếu, đòi hỏi phải từ bỏ chấp trước và cảm xúc thái quá. Do đó, xuất hiện của câu châm ngôn, “Hãy chỉ đam mê Chúa” (Hawkins, 2006).
Kiểm nghiệm thực tại và chức năng của não: Rối loạn tâm thần
Các công trình nghiên cứu khoa học và kinh nghiệm chuyên môn chỉ ra rằng rối loạn nhân cách và thậm chí cả những bệnh tâm thần nghiêm trọng đang phổ biến trong xã hội đều là do rối loạn sinh hóa mang tính di truyền của chức năng não. Tỷ lệ mắc bệnh tăng nhanh nhất kể từ khi đóng cửa hệ thống bệnh viện tâm thần công lập/nhà nước từng cung cấp những biện pháp bảo vệ cho cả bệnh nhân lẫn xã hội. Đóng cửa là do người ta đã mô tả sai sự thật về hệ thống bệnh viện tâm thần trong những bộ phim như The Snake Pit (Bệnh viện tâm thần và One Flew Over Cuckoo’s Nest (Bay trên tổ chim cúc cu). Những bộ phim này tiếp thêm năng lượng cảm xúc cho việc áp dụng phép biện chứng Marxist (nạn nhân và thủ phạm) vào ý thức hệ chính trị khi bệnh tâm thần thậm chí còn được gọi là “huyền thoại về đặt tên và dán nhãn”. “Sự nghiệp lớn” dẫn đến kết quả là đóng cửa toàn bộ hệ thống bệnh viện tâm thần và được báo trước như là “bước tiến lớn” do các nhà tư tưởng tạo ra.
Trong thực tại, kết quả là thảm họa xã hội lan rộng. Những người bị bệnh tâm thần lang thang trên đường phố và gây thêm tội ác, nghèo đói, tình trạng vô gia cư, mại dâm và những tội ác kỳ quái, trong đó có thường xuyên giết bạn cùng lớp (kẻ giết người như thế có điểm hiệu chỉnh 5), tra tấn và xâm hại tình dục trẻ em, thậm chí chôn sống nạn nhân.
Hậu quả ít kịch tính hơn nhưng cũng có tính hủy diệt không thể nào mô ta được, là những câu chuyện bị bóp méo nghiêm trọng, những quan điểm và “sự kiện” giả dối lan tràn trên Internet và trên các phương tiện truyền thông nhồi nhét vào đầu công chúng những đòn tấn công bất tận của những điều dối trá và giải thích sai về các sự kiện và tầm quan trọng của chúng. Công chúng bị cuốn vào những “sự nghiệp lớn lao” có điểm được hiệu chỉnh dưới 200. Dưới bộ quần áo cừu “ngôn luận tự do’, thông tin sai lệch ngày càng giữ thế thượng phong, làm cho tầng thức của nhân loại rơi rụng dần, nền văn minh phương Tây và nước Mỹ cũng không tránh được.
Một hậu quả khác là đời sống cá nhân và đời sống xã hội này càng mất an toàn hơn trước và bất kỳ công dân vô tội nào cũng có thể bị người ta tùy tiện biến thành nạn nhân của ác ý có chủ đích và dối trá trắng trợn. Nó càng trở thành trầm trọng hơn, là do chúng ta đã mất quyền riêng tư và những biện pháp bảo vệ về mặt pháp luật, vì vu khống, bôi nhọ và quanh co trắng trợn đều được pháp luật bảo vệ một cách bình đẳng. Mặc dù “cái giá của tự do là cảnh giác”, người công dân ngày nay thực sự không biết phải “cảnh giác” về “cái gì”.
Đạo đức truyền thống, luân lý và thái độ lịch sự mà mọi người cùng chia sẻ đang sụp đổ, xã hội nói chung dường như đang ở trong trạng thái chuyển tiếp “rơi tự do”. Sự biến động như thế tái diễn trong suốt lịch sử nhân loại và phản ánh sự đa dạng của các đường cong học tập tổng thể trong quá trình tiến hóa của loài người. Không có la bàn, xã hội loài người thậm chí không thể phân biệt được tiến bộ chính trị với thảm họa xã hội.
CHƯƠNG 8
Tiên đề văn hóa và sự thật
Dẫn nhập
Cả cá nhân lẫn tập thể, việc quyết định cái gì là “thực” hoặc “đúng” và do đó, “quan trọng” thống trị tất cả các giai tầng xã hội và quyết định phong tục tập quán, đạo đức và luân lý, cũng như chính trị và pháp luật. Nó xác định nghĩa vụ, quyền tự do và trách nhiệm, cùng với các tùy chọn và lựa chọn thay thế. Sau đó, những niềm tin này trở thành nền tảng của nền văn hóa giữ thế thượng phong và dẫn đến những kỳ vọng về hành vi, thành quy tắc ứng xử thành văn hoặc bất thành văn, phản ánh những khác biệt rất lớn của các hệ thống giá trị. Huyền thoại văn hóa tạo được ảnh hưởng và thậm chí là xác định các mối quan hệ của dân chúng, cũng như cơ cấu và chức năng của chính phủ.
Tâm trí con người cho rằng điểm chung của hệ thống niềm tin là bằng chứng về sự thật, và tất nhiên là, lịch sử chứa đầy những ví dụ rõ ràng ngược lại (ví dụ, tác phẩm Extraordinary Popular Delusions của Mackay). Cách đây vài thế kỷ, mọi người đều tin rằng mặt trời quay quanh trái đất còn trái đất thì vuông. Những ví dụ này chỉ đơn giản là chứng minh rằng tất cả các thông tin đều mang tính giả định và không tuyệt đối, vì ngay cả “các quy luật” của khoa học cũng luôn luôn thay đổi (ví dụ, hiện nay chỉ có tám hành tinh chứ không phải chín hành tinh như người ta tưởng tượng trước tháng 8 năm 2006[1]).
Nền tảng của chính phủ và xã hội phản ánh sự khác biệt sâu rộng giữa các hệ thống niềm tin mang tính vị tha được xây dựng trên thực tại lại tạo ra các chính phủ nhân từ, hay ngược lại, tức là các chính phủ áp bức và bóc lột.
Trong quá khứ, các nền văn hóa giữ thế tượng phong được thiết lập bằng lực lượng chinh phục và quân sự và được cai trị bởi cảm hứng thất thường của các ông vua. Lúc đó, cũng như hiện nay, tôn giáo cũng được thiết lập và thực thi bằng gươm giáo và các liên minh chính trị của những người cầm quyền.
Trong mỗi nền văn hóa đều xuất hiện nhu cầu xác định quan hệ giữa người cai trị và dân chúng, cũng như giữa tôn giáo và nhà nước, và xác định những giới hạn của quyền lực. Bổn phận giữa nhà nước và tôn giáo luôn luôn xảy ra xung đột, và việc không giải quyết được những cuộc xung đột này thường dẫn đến hậu quả nghiêm trọng như rút phép thông, chặt đầu hoặc bị thiêu sống. Tòa án dị giáo (điểm hiệu chỉnh 35) là ví dụ cực đoan về cuộc xung đột mà chế độ toàn trị thần quyền sử dụng, đây là hình thức áp bức cao nhất, nó làm cho người ta mất hết lòng tin vào quyền lực của giáo hội. Thái độ này được phản ánh một cách rõ ràng nhất trong Hiến pháp Mỹ - không những cho phép tự do không theo tôn giáo do chính phủ áp đặt, mà còn đảm bảo quyền tự do theo tôn giáo.
Không thể bỏ qua vai trò quan trọng của tôn giáo trong việc thành lập Hợp Chúng Quốc (Gingrich, 2006), vì, về mặt lịch sử, mục đích chính của những người cha lập quốc theo Thanh giáo là tìm kiếm tự do tôn giáo và tự do thể hiện, do đó, đấy là thực chất bên trong của quá trình thành lập chế độ dân chủ, như được viết trong Hiến pháp. Hiện nay người ta vẫn tiếp tục tranh luận về ý nghĩa của việc “thiết lập” tôn giáo hay “không cho” thể hiện tự do tôn giáo.
Do đó, cơ cấu chính trị phản ánh tổ chức và sự thể hiện của hệ thống niềm tin, chúng cho thấy vị trí chính xác của sức mạnh bên trong. Chính phủ chỉ là kho chứa chính thức các tư tưởng trong cơ cấu pháp lý nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho việc đưa những tư tưởng mang tính khái niệm vào ứng dụng cụ thể mà thôi. Tuy nhiên, cội nguồn sức mạnh bên trong và thẩm quyền thực sự là niềm tin của dân chúng vào sự thật của những tiền đề cơ bản mà người ta dựa vào. Như vậy là, chính phủ là cơ chế chuyển đổi thực tại của sự thật phi tuyến tính hay vọng tưởng của dối trá thành biểu hiện có tính thực dụng, chỉ hoạt động trong miền tuyến tính mà thôi.
Các hình thức và biểu hiện của chính trị thể hiện cốt lõi tinh túy các tiền đề đạo đức/tâm linh/tôn giáo phù hợp với quá trình áp dụng trên thực tế, thông qua pháp luật trong đời sống hàng ngày. Như vậy là, không có cách nào tránh được yêu cầu chung của con người trong việc phân biệt giữa “đúng và sai”; thậm chí, kể cả những người bài xích tôn giáo một cách cực đoan hoặc tội phạm trung thành với phân biệt nguyên thủy này. Các băng nhóm tội phạm và cả trong thế giới động vật cũng không được vi phạm quy tắc ứng xử đúng/sai. Ngược đời là, ngay cả những người chống lại đạo đức cũng bị vướng mắc trong thái độ lưỡng phân: nói rằng luân lý và đạo đức là “sai” (ví dụ, “không phải đạo về chính trị”).
Như lịch sử đã chứng tỏ một cách khéo léo, quá trình xử lý các khái niệm trong đối thoại chính trị thường nóng bỏng đến mức hàng triệu người đã bị thiêu chết trong cuộc xung đột. Sự điên cuồng trong lĩnh vực chính trị tạo ra bạo lực, cuồng tín và những hệ thống niềm tin cực đoan, trong đó việc tôn thờ nhà nước trở thành tôn giáo vì chính nó, được thể hiện bằng sự tôn thờ Mao Chủ tịch, Kim Jong-il, Ayatollah, Adolf Hitler, và nhiều người khác trong quá khứ cũng như trong thế giới ngày nay. Căn bệnh đặc trưng của chủ nghĩa toàn trị phát xít là những cuộc duyệt binh, điểm hiệu chỉnh 90. (Xin lưu ý những vụ trình diễn quân sự hiện nay ở Iran).
Trong khi những xã hội đó vẫn có thể chỉ nói suông về Chúa hay tôn giáo, thì những cuộc biểu tình rầm rộ thực sự được tổ chức là hậu quả không thể tránh được của tính ái kỷ theo lối cứu thế ác tính của lãnh tụ đã thế chỗ cho Chúa, trước mặt ông ta đám đông gào khóc cùng với những cảm xúc và kính sợ quá mức được thể hiện một cách công khai.
Như đã nhận xét, Hiến pháp và cơ cấu cơ bản của chính phủ Hoa Kỳ là do những người theo tự nhiên thần giáo và hữu thần luận, chứ không phải do những người theo tôn giáo hoạt động trong lĩnh vực chính trị tạo ra. Như vậy là, Thần tính đã được chính thức công nhận là cội nguồn duy nhất của bình đẳng và tự do (“thông luật”) mà không cần coi bất kỳ tôn giáo cụ thể nào là ưu việt, có thể dẫn đến chế độ thần quyền.
Mệnh đề căn bản: “Ngôn luận tự do là nguồn gốc nữa của quyền thể hiện hay thể hiện tôn giáo như là thực tại văn hóa/xã hội”. Trong một số quyết định, tòa án đã mở rộng cửa, theo đó ngôn luận tự do được mở rộng đến mức thậm chí bao gồm cả những hành vi hoặc hành động của các bộ phận trong cơ thể người, được coi là “lối nói tượng trưng”. Nực cười là, phóng khoáng đến mức cực đoan như thế lại không cho phép ngôn luận tự do nhắc đến từ “Chúa” ở chỗ công cộng. Một lần nữa, đây lại là quan điểm ngược đời, ở chỗ tất cả các quan chức cấp cao, trong đó có Tổng thống và Chánh án Tòa án tối cao, theo truyền thống, trong suốt nhiều thế kỷ vừa qua, đều tuyên thệ nhậm chức với bàn tay đặt tay lên cuốn Kinh Thánh.
Những phán quyết khác nhau như thế được đặt cạnh nhau sẽ dẫn đến câu hỏi về chủ quyền mang tính quy định của định kiến, lệch lạc và đao to búa lớn bất thường trong chính trị nhằm giành lợi ích. Những biến dạng như vậy xảy ra là do hậu quả tất yếu của việc thao túng một cách cố ý những cách giải thích nhằm khẳng định lời văn của luật pháp, nhưng đồng thời lại vi phạm tinh thần của luật pháp, bất kỳ người chính trực nào, những người mà sự ngây thơ chưa bị định vị lập trình cũng nhận ra ngay mục đích của nó. Có thể ngây thơ cho rằng bộ tư pháp sẽ cao hơn các meme hấp dẫn hoặc sự phổ biến nhất thời của các hệ tư tưởng của tương đối luận, có điểm hiệu chỉnh ý thức chỉ ở tầng 160.
Vừa nhún vai khi nhận ra mức độ quan trọng của những sai lầm chính trị xã hội, người ta vừa có thể hỏi, “Liệu bạn có muốn bác sĩ phẫu thuật có điểm hiệu chỉnh 160 mổ bụng bạn hay không?” Hay thậm chí làm thợ sửa xe, hoặc người đại diện hợp pháp của bạn?
Các nhà sử học đã nhận xét rằng, các chế độ dân chủ hiếm khi tồn tại quá vài trăm năm, vì chính những lý do mà Socrates là người đầu tiên chỉ ra. Ông nhìn nhận rằng tính chính trực sẽ khó có thể giữ thế thượng phong, vì quần chúng cử tri tự thưởng cho mình ngày càng nhiều lợi ích đến mức, cuối cùng, họ mất tự do. Về mặt này, đáng chú ý là, như đã nói trước đây, vào thời điểm này, khoảng 85% người dân trên thế giới có điểm hiệu chính dưới tầng 200 (ở Mỹ khoảng 15%), chứng tỏ biên độ an toàn đã bị thu hẹp đáng kể.
Những biểu hiện xã hội của thực tại tâm linh như những tầng của ý thức đã được ghi lại trong những tác phẩm trước (ví dụ, Truth vs. falehood, Chương 9). Các phương tiện truyền thông đã tạo được ảnh hưởng sâu sắc lên con người hiện đại, những cái mà bên ngoài tưởng là sự thật lại chứa đựng cả những điều dối trá cùng cực, sau đó, được quảng cáo như thể nó có giá trị chính trực và tương đương với sự thật. Do vai trò quan trọng của nó, cho nên chủ đề này sẽ được thảo luận kỹ hơn trong chương sau. Bởi vì tâm trí, về bản chất, không thể phân biệt được tri giác với bản chất hay sự thật với giả dối (như được trình bày chi tiết trong Truth vs. Falsehood, Phần 1), tâm trí ngây thơ thường giả định là nhiều người tin, nhiều người đồng ý là sự thật. Như vậy là, tâm trí tìm kiếm xác nhận và tìm kiếm thông tin đáng tin cậy.
Về khía cạnh này, quan trọng là cần lưu ý rằng Encyclopedia Britannica (Bách khoa toàn thư Anh) có điểm hiệu chỉnh 465, trong khi 50% thông tin trên Internet (cũng như 50% các blog) có điểm hiệu chỉnh bên dưới tầng tới hạn, 200. Do đó, ngay cả việc tìm kiếm một cách chính trực sự thật cũng dẫn đến thông tin sai. Lỗi tổng thể trong Britannica chỉ khoảng 5%. Không có gì ngạc nhiên, vì Britannica có những yêu cầu khắt khe và được thiết lập từ lâu.
Việc các phương tiện truyền thông chứa đụng thông tin sai là hậu quả của vọng tưởng là do meme dễ nhớ, dễ thuộc, “Công bằng và cân bằng”, tạo ra. Tất nhiên, hàm ý là, theo tương đối luận, dối trá có giá trị chẳng khác gì sự thật, đây là giả định vô lý chỉ dựa trên giá trị bề ngoài. Ví dụ, chúng ta có thể coi trái đất là phẳng như một lời khẳng định công bằng và cân bằng với quan điểm cho rằng trái đất hình cầu. Nó lại có thể được chau truốt thêm trên cơ sở meme giả dối, “Câu hỏi nào cũng có hai mặt”. (Câu này được hiệu chỉnh là sai và thực ra là nhận xét của một quan chức nhà nước bị bắt quả tang, trên băng video, khi đang ăn trộm tiền và giấu nó trong những chiếc hộp thiếc ở tầng hầm nhà ông ta).
Do đó, sự công nhận của xã hội ít có giá trị, đấy là nói trong khi ta cố gắng tìm sự thật. Ngay cả những kinh văn tôn giáo nền tảng cũng có khác biệt rất lớn trong các tầng sự thật trong những câu văn khác nhau, một số chỉ có điểm hiệu chỉnh ở tầng thấp, 70 (xem Chương 16, Truth vs. Falsehood), một số hệ thống niềm tin phổ biến thì cũng thế (xem Chương 17). Thật chẳng có đạo lý gì khi nói rằng sự thật trong chính trị/kinh tế/xã hội phụ thuộc nhiều vào giá dầu chứ không dựa vào bất kỳ thước đo giá trị có thể kiểm chứng được nào khác. Xem xét việc khoan dầu ở Mỹ tự nó đã tạo ra cuộc chiến khốc liệt giữa các hệ tư tưởng, ở nước này, phái môi trường luận thích kiện tụng đã ngăn chặn việc khoan bất kỳ giếng mới nào hoặc xây dựng bất kỳ nhà máy lọc dầu mới nào. Kết quả là người ta đã ném một khoản tiền khổng lồ vào những khu vực căm ghét nước Mỹ nhất trên thế giới. Quá trình dịch chuyển quyền lực như thế tạo điều kiện cho những kẻ khủng bố trở thành thậm chí là hung hăng hơn, làm gia tăng sự căng thẳng của cuộc đụng độ giữa các nền văn minh, giữa thái độ hân hoan chiến thắng của Hồi giáo và giá trị truyền thống của nền văn minh phương Tây.
Các xu hướng văn hóa hay hệ thống niềm tin có chính trực hay không chính trực thực ra là phụ thuộc vào nhiều yếu tố - ý định và bối cảnh cũng như nội dung. Sự kiện là sự thật thường bị bóp méo và được sử dụng nhằm thực hiện và ngược đời là, ủng hộ dối trá cho chúng ta biết điều đó. Bằng cách làm lạ lùng như thế, một sự kiện có thể chứng minh được lại được diễn giải theo cách sao cho dường như là bằng chứng ủng hộ cho ý kiến hoàn toàn ngược lại, sau đó được sử dụng nhằm ủng hội những cáo buộc sai trái (ví dụ, ngụy biện “người rơm”). Ác ý thường được ngụy trang dưới dạng vô tội giả tạo.
Trái ngược với việc bóp méo sự thật vì những mục đích lén lút, trung thực công khai bao gồm cả bối cảnh lẫn nội dung. Đây là cơ sở của đạo đức mang tính tình huống, trong đó thừa nhận rằng một hành động được đánh giá là đúng hay sai và đúng sai đến mức độ nào phụ thuộc vào bối cảnh, trong đó có hoàn cảnh và quan trọng là ý định. Nó được minh họa bằng việc áp dụng chứng cứ diễn ra mỗi ngày trong phòng xử án hình sự, đấy là xác định động cơ, cũng như luật pháp Liên bang nhằm bảo vệ công dân trong thời chiến.
Mặc dù niềm tin được nhiều người chia sẻ có sức thuyết phục, nhưng nó không chứng tỏ là sự thật. Như sẽ được chỉ ra trong phần sau, các phương tiện truyền thông chơi trò chơi thao túng qua lại này như là con “quay” đã bị chính trị hóa. Những đe dọa tấn công của các phương tiện truyền thông hiện đang được sử dụng bằng những cuộc tấn công của các “blog”, phối hợp với những dối trá ác độc được dàn dựng một cách khéo léo (tức là hăm dọa tống tiền). Dưới khẩu hiệu “ngôn luận tự do”, cộng với việc tuyên truyền qua Internet, những trang web “thù hận” có được chỗ đứng và làm cho văn minh phương Tây ngày càng suy thoái thêm.
Không phụ thuộc vào lập trình xã hội
Những biện pháp nhằm bảo vệ để không bị xã hội lập trình: (1) về cảm xúc nên đứng tách ra, coi tất cả thông tin đều là vô thường, chóng qua, (2) nhận thức rằng, suy nghĩ bình thường không thể phân biệt được tri giác với bản chất, và (3) biết rằng sói thường đội lốt cừu. Đây là áp dụng vào thực tế nguyên tắc cơ bản của câu châm ngôn “mặc thế giới như thể đấy là bộ quần áo mỏng manh”. “Sống trong thế gian nhưng không thuộc về thế gian” là một cách sống, nó tạo điều kiện cho tương tác và hoạt động theo lối tự phát.
Để không bị thế gian lôi kéo, nhiều người có xu hướng tâm linh thường tìm nơi ẩn dật, một số thậm chí còn từ bỏ công việc thế gian và gia nhập các cộng đồng tôn giáo. Về khía cạnh này, cần chỉ ra rằng, từ bỏ thực sự thực ra là thái độ và kỷ luật ở bên trong, không phải là từ bỏ những biểu hiện ở bên ngoài mà là từ bỏ sức cuốn hút của những phóng chiếu của chính bản ngã. Theo truyền thống, ngày Sabbath là ngày suy ngẫm và tách khỏi những hoạt động bình thường, bằng cách đó, vai trò quan trọng vượt trội của đời sống tâm linh lâu dài đã được chính thức công nhận và thực hiện bằng thái độ tận tâm và rút lui khỏi công việc trần thế và lo lắng về tiền bạc, ví dụ như hoạt động kinh doanh.
Người ta mong muốn tiếp tục tham gia vào công việc thế gian và tham gia theo phong cách nào là kết quả của tầng ý thức giữ thế thượng phong và ý định tâm linh tổng thể, cũng như mức độ tận tâm của người đó. Thế giới cung cấp cơ hội tối đa cho quá trình phát triển tâm linh và động lực, thể hiện bằng thiện nghiệp và xóa bỏ ảnh hưởng của ác nhiệp đã làm trong quá khứ và những hậu quả mang tính tâm linh của chúng.
Một con đường truyền thống là thông qua những việc làm nhân đạo và phụng sự vô ngã vị tha (Karma Yoga). Những thảm họa lớn thường cho thấy những biểu hiện dồi dào của nhận thức tâm linh bên trong mỗi người, trong đó tâm từ bi và vị tha được mọi giai tầng trong xã hội, và thậm chí cả chính phủ, thể hiện một cách chân thực. Như vậy là, dưới cái vẻ bề ngoài dường như là hoài nghi, chủ nghĩa duy vật, thích những thứ giật gân, vẫn còn đó trái tim năng động, có sức mạnh của tình người.
Mặc cho tất cả những lời chỉ trích và phản đối, đã được nhắc tới bên trên, nước Mỹ là quốc gia hào phóng nhất trên thế giới và những khoản viện trợ nhân đạo của nước này gấp hàng trăm lần bất kỳ quốc gia nào khác. Đây là kết quả của những nỗ lực cá nhân (89% hộ gia đình ở Mỹ), cộng với các tổ chức nhân đạo, doanh nghiệp và các tổ chức từ thiện, trong đó có các tổ chức phi lợi nhuận, nhà thờ, và những tổ chức tương tự khác (Philanthropic Research, 2006). Phẩm chất độc đáo này của xã hội Mỹ đã được ghi nhận từ lâu, ngay từ năm 1835, trong tác phẩm nổi tiếng Democracy in America (Nền dân trị Mỹ) do Alexis de Tocqueville chấp bút. Cũng xin lưu ý rằng, Mỹ đã xây dựng lại toàn bộ châu Âu bị chiến tranh tàn phá, sau Thế chiến II và hiện nay vẫn trả 27% tổng chi phí của Liên hợp quốc.
Trái ngược với những điều vừa nói, những nước có thái độ thù địch nhất với Mỹ luôn cung cấp rất ít hoặc thậm chí là chẳng cung cấp gì cho những khu vực nghèo đói hoặc những khu vực cơ cực trên thế giới, mặc dù họ thu được những món lợi khổng lồ từ dầu mỏ và tích lũy được rất nhiều tài sản. May mắn là, sự hào phóng, nhân từ và hoạt động từ thiện, nói chung, thường không được dán nhãn hoặc được coi là các giá trị “tâm linh”, nếu không, có lẽ những hoạt động này cũng bị những người theo chủ nghĩa thế tục cực đoan tấn công, vì họ có thể khẳng định rằng, bằng cách thực hiện các chương trình nhân đạo, chính phủ Mỹ đã hỗ trợ các hoạt động tôn giáo/tâm linh một cách bất hợp pháp.
Trí tuệ và sự nổi tiếng
Chính phủ là biểu hiện của hệ tư tưởng gắn liền với các hệ thống chính trị, chúng khác nhau rất nhiều, từ những chế độ và nền quân chủ man rợ, áp bức, toàn trị đến những người cai trị ôn hòa, mang lại hòa bình và thịnh vượng. (Bảng sau đây được in lại từ Truth vs. Falsehood).
Các hệ thống chính trị
Chủ quyền nhân từ | 500 | Chủ nghĩa tập thể | 175 |
Chế độ quả đầu | 450 | Chế độ dân chủ/Cộng hòa | 410 |
Dân tộc Iroquois[2] | 399 | Liên minh | 345 |
Chủ nghĩa xã hội | 305 | Chế độ quân chủ | 200 |
Chế độ phong kiến | 145-200 | Bộ lạc | 200 |
Chế độ thần quyền | 175 | Chủ nghĩa cộng sản | 160 |
Chế độ độc tài | 135 | Chủ nghĩa phát xít | 125 |
Vô chính phủ | 100 |
|
|
Như có thể thấy, các chính phủ có lợi nhất đều xuất phát từ những người cai trị nhân từ, chẳng hạn như những người chịu trách nhiệm trong nhiều thế kỷ cho hòa bình và thịnh vượng ở Trung Quốc cổ đại, nơi xã hội hòa hợp và hợp tác là kết quả của sự tôn trọng trí tuệ chính trực. Lãnh đạo thông qua ban cố vấn gồm những người có học và có tài là tin cậy vào trí tuệ đã được chứng minh, như người Mỹ da đỏ cũng như các bộ lạc khác đã làm trong suốt nhiều thế kỷ. Quốc gia Iroquois được coi là hình mẫu cho chế độ dân chủ và đã tạo được ảnh hưởng đáng kể lên nền tảng của cơ cấu của Chính phủ Mỹ. Nội các của Tổng thống Mỹ cũng tương tự như ban cố vấn gồm những người có học và có tài. (Chính phủ Mỹ có điểm hiệu chỉnh 455).
Như đã nhận xét bên trên, mặc cho những lời chỉ trích của phái dân túy, trí tuệ tạo được những kết quả vững chắc đầy giá trị và đưa đến kết quả là Hoa Kỳ là quốc gia từ thiện nhất thế giới, đấy là do thái độ hào phóng của các công dân Mỹ, cộng đồng doanh nghiệp, chính phủ Hoa Kỳ và những quỹ từ thiện khổng lồ. (Buffett, Carnegie, Gates, Ford, Rockefeller và những quỹ từ thiện khác đã quyên góp được nhiều hơn tất cả các nước thành viên còn lại của Liên Hiệp Quốc cộng lại).
Xã hội Mỹ có điểm hiệu chỉnh 421 (Tháng 11 năm 2007). Ngược lại, những người phê phán theo lối dân túy (ví dụ, Hollywood) có điểm hiệu chỉnh tập thể là 190. (Liên hoan phim Sundance gần đây nhất có điểm hiệu chỉnh 165). Như vậy là, trong khi chủ nghĩa dân túy kêu gọi ái kỷ, không ai muốn - như đã chỉ ra bên trên - bác sĩ phẫu thuật, kế toán viên, luật sư, hay thậm chí là một tài xế xe buýt chỉ có điểm hiệu chỉnh 190. Thú vị là, trong khi tầng ý thức của nước Mỹ là 421, Singapore, xuất phát chế độ quả đầu, có điểm hiệu chỉnh 440, và gần như không có tội phạm.
Áp dụng các nguyên tắc cơ bản của trí tuệ đòi hỏi kỷ luật tự giác, tính chính trực cá nhân, làm việc chăm chỉ, tôn trọng mình và tôn trọng người khác, và thường là hy sinh chính mình, nghĩa là trì hoãn thỏa mãn ngay lập tức nhằm giành được các mục tiêu dài hạn (“đạo đức Tin lành”).
Những nhà lãnh đạo chính phủ gây ra những vụ phá hoại lớn nhất là những kẻ độc tài, ảnh hưởng cả họ đối với đất nước mình là tàn phá. Tình trạng chung như thế là do các giá trị bị sự cuồng loạn của đám đông và việc thúc đẩy tệ sùng bái cá nhân thổi phồng lên. Do đó, chế độ tập thể của Mao Chủ tịch, có điểm hiệu chỉnh 175 và làm cho 30 triệu người chết đói. Trung Quốc hiện có điểm hiệu chỉnh 385, và kỳ lạ là, nó thể hiện lợi ích của việc thiết lập nguyên tắc kinh doanh thực dụng (như được minh họa bằng cách làm của Sam Walton). Như vậy là, câu châm ngôn xưa cũ đã chứng minh rằng con đường dẫn đến thành công là bắt chước nó chứ không ghen tị hay ma quỷ hóa nó.
Những biện pháp đối phó với vọng tưởng văn hóa
Công trình nghiên cứu về nền văn minh phương Tây chỉ ra rằng tầng tổng thể của ý thức của nó đang bị suy giảm vì những lý do đã được Đức Giáo Hoàng Benedict tuyên bố một cách ngắn gọn (tương đối luận cộng với cuộc xâm lược của Hồi giáo và “Thánh chiến bằng văn hóa”; xem Burton và Stewart, 2007.) Suy giảm là kết quả của những ảnh hưởng xã hội và trí tuệ thông qua các phương tiện truyền thông, giới hàn lâm và quá trình chính trị hóa từ những tầng ý thức thấp hơn, được tài trợ hậu hĩnh từ những các nguồn có điểm hiệu chỉnh dưới tầng ý thức tới hạn, 200 (“kẻ môi giới quyền lực”). Kết quả chung cuộc là tính ái kỷ ngày càng giữ thế thượng phong, nó lại được người ta rêu rao là “tiến bộ”, “ngôn luận tự do” hay “nhân quyền” và hướng tới tính ích kỷ. Như vậy là, ngay cả giáo dục chính quy cũng không còn là biện pháp bảo vệ nhằm chống lại thái độ phi chính trực trắng trợn và dối trá tràn lan nữa.
Sau đây là những biện pháp đối phó thiết thực nhất:
1. Hòa điệu về mặt tâm linh với sự thật (tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình thay đổi thuận lợi trong hóa học não).
2. Tinh tế về trí tuệ nhờ làm quen với Great Books of the Western World.
3. Nhận thức về Bản đồ ý thức.
4. Nâng cao tầng ý thức của chính mình bằng cách làm theo và thực hành những giáo lý tâm linh đã được xác minh và các nguyên tắc phân biệt thật giả.
Những hạn chế của trí tuệ và sự thật xã hội có giá trị
Mặc dù chính trực và trí tuệ tập thể hỗ trợ hạnh phúc và sự sống còn, nhưng đấy không phải là đảm bảo rằng chúng biết tuốt hay có khả năng không mắc sai lầm hoặc khiếm khuyết. Nhân loại nói chung đang bước đi trên con đường tiến hóa, và đời sống trên trái đất không phải là thiên đàng. Giá trị bẩm sinh của đời sống của con trên trái đất là mang lại cơ hội cao nhất cho quá trình phát triển tâm linh thông qua cơ chế tự do ý chí - tùy chọn và lựa chọn. Như vậy là, đời sống con người là cơ hội cao nhất cho quá trình siêu việt ác nghiệp và tích thiện nghiệp. Chấp nhận giới hạn của con người, cả về mặt cá nhân lẫn tập thể, tạo điều kiện cho thái độ nhẫn nại, tha thứ và từ bi chứ không lên án. Sự tiến bộ của con người là quá trình tiến hóa, và do đó, sai lầm và lầm lỗi là không thể tránh được. Bi kịch thực sự duy nhất là già đi nhưng không khôn ngoan hơn.
[1] Trước đây có cả sao Diêm Vương, nhưng đã bị loại ra do không đáp ứng được tiêu chí ba trong định nghĩa của IAU 2006 – ND.
[2] Iroquois còn được gọi là Liên đoàn Iroquois và sau đó là Liên minh Iroquois, là liên minh bản địa ở đông bắc Bắc Mỹ. Nó tồn tại như một hiệp định hòa bình được ký kết giữa các bộ tộc hùng mạnh người Iroquois (người Mỹ bản địa) vào thế kỳ XVII, nhằm ngăn chặn các cuộc chiến tranh giữa các bộ lạc, từ nền tảng đó các bộ lạc giúp đỡ nhau, liên kết và phụ thuộc lẫn nhau nhằm chống lại sự hiện diện ngày càng đông của thực dân châu Âu có mặt ở bờ biển phía Đông - ND.

%20(9).png)
.png)



0 Comments