https://phamnguyentruong.blogspot.com/2024/06/thuc-tai-tam-linh-va-con-nguoi-hien-ai-6.html
https://phamnguyentruong.blogspot.com/2024/06/thuc-tai-tam-linh-va-con-nguoi-hien-ai-7.html
(Reality, Spirituality and Modern Man)
David Hawkins, M. D., Ph. D.
Phạm Nguyên Trường dịch
CHƯƠNG 5
Khoa học và tôn giáo: Các tầng sự thật
Dẫn nhập
Xung đột giữa khoa học và tôn giáo là đặc thù của xã hội Mỹ và là trọng tâm của ngay cả các vấn đề tư pháp trong suốt nhiều thập kỷ vừa qua, chẳng hạn như các cuộc tranh luận về thuyết ưu sinh trong những năm 1930, và hiện nay là những xung đột tương tự về nghiên cứu tế bào gốc hoặc lý thuyết của Darwin. Phân loại có giá trị về bản chất của các vấn đề có thể xuất phát từ áp dụng nghiên cứu ý thức vào những yếu tố khác nhau của những lý thuyết này.
Các tầng ý thức về bản chất là phi cá nhân và thể hiện cái được gọi là (trong trường động học phi tuyến) trường “điểm hút” năng lượng (Hawkins, 1995), nguồn năng lượng phi tuyến tính vô biên vô tế của tất cả đời sống được thể hiện và giữ thế thượng phong trong trường này. Để tiện cho quá trình nghiên cứu, các tầng nằm trong phạm vi chung cho mục đích phân loại và miêu tả.
Như chúng tôi đã nhận xét, đường phân giới quan trọng của Sự thật nằm ở tầng 200. Những tầng từ 300 đến 400 biểu thị ảnh hưởng tích cực và tầng từ 400 đến 499 biểu thị logic, lý trí và vương quốc của khoa học, trong đó có hóa học, y học, vật lý học, thiên văn học, toán học, vật lý thiên văn và các lĩnh vực khác. Thú vị nữa là, những thiên tài khoa học vĩ đại qua nhiều thế kỷ có điểm hiệu chỉnh trên 400, cũng như các tác giả của The Great Books of the Western World (không có Marx và Engels), in lại từ Truth vs. Falsehood:
Điểm hiệu chỉnh của
Những cuốn sách vĩ đại của thế giới phương Tây
Aeschylus | 425 |
Apollonius | 420 |
Thomas Aquinas | 460 |
Archimedes | 455 |
Aristophanes | 445 |
Aristotle | 498 |
Augustine | 503 |
Marcus Aurelius | 445 |
Frncis Bacon | 485 |
Berkeley | 470 |
Boswell | 460 |
Cervantes | 430 |
Chaucer | 480 |
Copernicus | 455 |
Dante | 505 |
Darwin | 450 |
Descartes | 490 |
Dostoevsky | 465 |
Epictetus | 430 |
Euclid | 440 |
Euripides | 470 |
Faraday | 415 |
Fielding | 440 |
Fourier | 405 |
Freud | 499 |
Galen | 450 |
Galileo | 485 |
Gibbon | 445 |
Gilbert | 459 |
Goethe | 465 |
Harvey | 470 |
Hegel | 470 |
Herodotus | 440 |
Hippocrates | 485 |
Hobbes | 435 |
Homer | 455 |
Hume | 445 |
Huygens | 465 |
William James | 490 |
Kant | 460 |
Kepler | 470 |
Lavoisier | 425 |
Locke | 470 |
Lucretius | 420 |
Machiavelli | 440 |
Melville | 460 |
Mill, J. S. | 465 |
Milton | 470 |
Montaigne | 440 |
Montesquieu | 435 |
Newton | 499 |
Nicomachus | 435 |
Pascal | 465 |
Plato | 485 |
Plotinus | 503 |
Plutarch | 460 |
Ptolemy | 435 |
Rabelais | 435 |
Rousseau | 465 |
Shakespeare | 465 |
Adam Smith | 455 |
Sophocles | 465 |
Spinoza | 480 |
Sterne | 430 |
Swift | 445 |
Tacitus | 420 |
Thucydides | 420 |
Tolstoy | 420 |
Virgil 445 | 445 |
Những tầng từ 400 tới 499 thể hiện cách tiếp cận miền tuyến tính theo lối trí tuệ, đáng tin cậy, chính trực và xác nhận được và bao gồm những cố gắng cao cả nhất của trí tuệ của con người. Đây là hệ hình của lý trí, logic và thực tại tuyến tính, đặc trưng của hệ hình khoa học/duy lý/logic của trí tuệ và có thể lĩnh hội được của con người. Trong lĩnh vực này, có thể áp dụng những quy tắc và phép biện chứng của logic, cũng như các phạm trù trừu tượng của Kant. Biểu đồ hiệu chỉnh các nhà khoa học vĩ đại nhất trong những giai đoạn rất dài chứng tỏ đặc điểm của các tầng từ 400 tới 499.
Lý trí: Các nhà khoa học vĩ đại
Claude Bernard | 450 | David Bohm | 505 |
Neils Bohr | 450 | Lutthe Burbank | 450 |
Adm. Richard Byrd | 420 | Arthur Eddington | 460 |
Thomas Edison | 490 | Albert Einstein | 499 |
Sir Alexander Fleming | 460 | Sigmun Freud | 499 |
Luigi Galvani | 450 | Stephen Hawking | 499 |
Weener Heisenberg | 460 | Hermann von Helmnoltz | 460 |
Thomas Huxley | 460 | Edward Jenner | 450 |
Friedrich Kekule | 440 | Lord (Wm. Thompson) Kelvin | 450 |
Johannes Kepler | 465 | Ernst Mach | 460 |
Thomas Malthus | 480 | Sir Isaac Newton | 499 |
James Maxwell | 460 | Max Plank | 460 |
Louis Pasteur | 465 | Henri Poincaré | 430 |
Dr. Ignaz Semmelweiss | 460 | Pierre Teilhard de Chardin | 450 |
Charles Steinmetz | 460 |
|
|
Khoa học có giá trị trong hệ hình tuyến tính của chính nó, cũng như được ghi lại bằng tầng hiệu chỉnh của các nhà khoa học trong suốt nhiều thế kỉ. Ngoài việc khẳng định tầng sự thật của các nhà khoa học, quá trình hiệu chỉnh các lý thuyết khoa học cũng ghi lại giá trị của lý trí, logic và hệ hình của thực tại tuyến tính của những tầng từ 400 tới 499. Như vậy, cơ sở để cho quan điểm của Clarence Darrow là vững chắc, nhưng là hạn chế, như đã được trình bày trong chương trước.
Khoa học – Lý thuyết
Trường điểm hút (attractor field - phi tuyến tính) | 460 |
Thuyết Big Bang | Sai |
Trường sinh học | 460 |
Thuyết lỗ đen chỉnh sửa 2004 (Hawking) | 455 |
Bootstrap Theory | 455 |
Thuyết hỗn độn | 455 |
Vô thức tập thể (Jung) | 455 |
Ý thức xét như là kết quả của hoạt động của tế bào thần kinh | 140 |
Hiệu chỉnh ý thức | 605 |
Thuyết tiến hóa Darwin | 450 |
Thuyết về sự diệt vong của khủng long | 200 |
Phương trình Dirac | 455 |
Phát hiện cấu trúc xoắn của ADN | 460 |
“Chữa lành từ xa” | Sai |
(Thần tính xét như là cội nguồn của vũ trụ Vô biên vô tế) Phương trình Drake | 350 |
Từ trường trái đất đang yếu đi | Đúng |
Cực từ trường trái đất đang đảo chiều | 460 |
Trái đất đang nóng lên do ô nhiễm | Sai |
Trái đất nóng lên do chu kỳ từ trường trên bề mặt mặt trời | 455 |
E=mc2 | 455 |
Thuyết rối lượng tử | Sai |
Kéo hệ quy chiếu (frame dragging) | 460 |
Gen của “Chúa” | Sai |
Hiệu ứng nhà kính làm Trái đất ấm lên | Sai |
HeartMath (Năng lượng trái ttim) | 460 |
Nguyên tắc bất định Heisenberg | 460 |
Thuyết Hormesis[1] | 180 |
“Vũ trụ toàn ảnh” | 395 |
Thuyết vũ trụ giãn nở (hậu Vụ nổ lớn) | 450 |
Thiết kế thông minh[2] | 480 |
Trên sao Hỏa có vi khuẩn | Đúng |
Trường tâm trí liên quan đến Thần tính | Đúng |
Trường tâm trí liên quan tới người khác | Sai |
Cộng hưởng hình thái | 460 |
Trường tạo hình thái (Sheldrake) | 460 |
Lý tuyết M (trước đây gọi là lý thuyết dây) | 460 |
Đa vũ trụ | Đúng |
Nguyên lý nhân quả của vật lý học Newton | 460 |
Động lực học phi tuyến | 460 |
Cẩu nguyện gia tăng khả năng chữa lành | Đúng |
Phản ứng phân rã hạt nhân | 200 |
Lý thuyết phân rã hạt nhân | 455 |
Sinh vật trên Sao Hỏa | Đúng |
Thuyết “vũ trụ song song” | Sai |
Gắn kết lượng tử | 460 |
Hấp dẫn lượng tử | 460 |
Cơ học lượng tử | 460 |
Phương trình Schrödinger | 455 |
Điểm kỳ dị | 455 |
Ma trận tán xạ | 455 |
Tâm trí là hậu quả của hoạt động thần kinh | 125 |
Lý thuyết vũ trụ đang nở ra | 405 |
Nghiên cứu tế bào gốc | 245 |
Vật lý hạ nguyên tử | 455 |
Siêu năng lượng | Đúng |
Viễn tải lượng tử | 400 |
Chương trình không gian của Mỹ | 400 |
Quy trình von Neumann | 400 |
Đáng quan tâm là báo cáo gần đây của Đại học California ở Santa Cruz rằng những trận lũ được ghi trong Kinh thánh và những cuốn lịch sử tôn giáo khác xảy ra vào năm 2807 trước Công nguyên, đấy là kết quả của một sao chổi khổng lồ rơi xuống Ấn Độ Dương (điểm hiệu chỉnh là đúng).
Khoa học mang lại cho nền văn minh nhân loại những lợi ích rõ ràng là rất lớn và đụng chạm tới tất cả các khía cạnh của đời sống hiện đại. Niềm tin của Clarence Darrow vào lý trí và logic được xây dựng hoàn toàn dựa trên thực tại có thể chứng minh được. Tuy nhiên, sai sót trong trình bày của ông ta là giả định ngây thơ cho rằng tôn giáo thuộc về cùng một hệ hình của thực tại và do đó, phải đáp ứng được những tiêu chí tương tự của chứng minh theo lối logic của khoa học. Do đó, Darrow đại diện cho hiện tượng mù hệ hình “đấy là tất cả những thứ đang là”, đang giữ thế thượng phong trong xã hội như là quan điểm chính trị của chủ nghĩa thế tục (điểm hiệu chỉnh 165) hay chủ nghĩa duy khoa học hoài nghi (điểm hiệu chỉnh 190) và là sản phẩm của giới hạn của Tâm trí Thấp trước chủ nghĩa duy vật giản lược chán ngắt.
Cuộc tranh luận giữa khoa học và đức tin vẫn tiếp tục mà không hề suy giảm, như được thể hiện trong một bài báo lớn trên tạp chí Time (13 tháng 11 năm 2006) và những cuộc tranh luận công khai lại xuất hiện (Birmingham, Alabama, tháng 10 2007 và những vụ khác). Quan điểm của Darrow hiện đang được khẳng định trong cuộc bút chiến của Richard Dawkins, tự nhận là người vô thần và là tác giả cuốn sách The God Delusion (tạm dịch Ảo tưởng về Chúa - 2006). Cuốn sách có điểm hiệu chỉnh 190. Quan điểm tôn giáo do Francis Collins, người đứng đầu Genome Project (Dự án Gen) và là tác giả cuốn sách The Language of God: A Scientist Presents Evidence for Belief (Ngôn ngữ của Chúa: Một nhà khoa học trình bày bằng chứng cho niềm tin - 2006) có điểm hiệu chỉnh 400.
Đáng quan tâm là thuyết tiến hóa của Darwin có điểm hiệu chỉnh 450, Thiết kế thông minh có điểm hiệu chỉnh 480, Sáng tạo luận có điểm hiệu chỉnh 245, và Sáng Thế Ký (Kinh Thánh) có điểm hiệu chỉnh 600. Thần tính là Cội nguồn của sự sống và vũ trụ có điểm hiệu chỉnh ở tầng Vô biên Vô tế, và các Thánh thần giáng thế vĩ đại trong lịch sử có điểm hiệu chỉnh 1.000.
Như vậy là, từ tất cả các diễn ngôn lặp đi lặp lại bên trên xuất hiện một kết luận rõ ràng như đã nói trong suốt công trình nghiên cứu này: từ hệ hình tuyến tính của tầng tuyến tính giản lược mang tính tri thức hóa không thể chứng minh, cũng không thể bàn cãi về cái phi tuyến tính. Tuyến tính chỉ mô tả những cơ chế và bỏ qua bối cảnh. Mọi quan điểm khoa học đều đại diện cho res cogitant hay hình thức bên ngoài do Descartes nêu ra, trong khi thực tế tâm linh đại diện cho res externa, hay bản chất (Thực tại).
Công nhận Thần tính là Cội nguồn của sự sống và sáng tạo chỉ xuất hiện ở tầng có điểm hiệu chỉnh 600 và hoàn toàn mang tính chủ quan và vượt ra khỏi tư duy. Nó được trải nghiệm là do chính trường ý thức và không còn ý nghĩ (như được trình bày trong tác phẩm Transcending the Levels of Consciousness và Discovery of the Presence of God, cùng với những bản tóm tắt tự truyện trong những cuốn sách khác trong bộ này [Hawkins, 1995-2007].)
Một dấu hiệu cho thấy sự hạn chế của sự thật trong các cuộc bút chiến được tiết lộ bởi những nỗ lực bị tình cảm chi phối nhằm thuyết phục (ví dụ, các nhà khoa học “phẫn nộ” trước bất kỳ sự tin cậy nào dành cho tôn giáo và đức tin [Van Biema, 2006]). Các cuộc bút chiến hoặc cảm xúc không phải là theo đuổi sự thật một cách chính trực. (Bài tôn giáo có điểm hiệu chỉnh 180). Ép buộc hoặc tuyên truyền quảng bá không tiết lộ được sự thật. Chấp nhận nó là kết quả của sự trong sạch của ý định và tầng của ý thức của người hỏi. Khám phá vùng Viễn Đông của Marco Polo bị những người hoài nghi chế giễu, nhưng được coi là tạm thời và xứng đáng được các nhà điều tra khách quan tiến hành xem xét.
Khuyến khích người ta cải đạo là biểu hiện của sự phù phiếm của bản ngã tìm kiếm địa vị thông qua thỏa thuận hay thống trị. Sự thật là trọn vẹn và toàn bộ bên trong chính nó và do đó không có bất cứ nhu cầu nào. Vì vậy, E=mc2 chỉ là một sự kiện không cần ý kiến cá nhân cũng như những cuộc tấn công ad hominem (lập luận công kích cá nhân, bỏ bóng đá người) mang tính thù địch đối với đời sống riêng tư của Einstein. Cuộc tấn công đầy hoài nghi thường chỉ đơn giản là biểu hiện của ác tâm, đố kỵ, và đố kỵ là dấu hiệu của nghèo nàn về tinh thần, cảm thấy cái vĩ đại làm cho nó nhỏ lại. Vì vậy, Grinch căm thù Giáng sinh, còn bản ngã của người vô thần âm thầm ghét cay ghét đắng Vinh quang Vô biên Vô tế của Thiên Chúa. Bằng những cách đáng khinh, bản ngã tìm cách làm mất uy tín Thực tại Tuyệt đối, nhớ nó mà tất cả năng lượng Sáng tạo từ tiềm năng của Chúa Ba Ngôi xuất hiện trong sự hiển lộ như là Sáng tạo không bao giờ ngưng.
Tâm lý học tiến hóa (điểm hiệu chỉnh 210) ủng hộ học thuyết Darwin thông qua cơ chế nhận thức mà đại diện là công trình của Daniel Dennett (2006), có điểm hiệu chỉnh 250. Những luận cứ này đại diện cho những nỗ lực của chính nhận thức nhằm cố tìm hiểu được những thực tại có chiều kích cao hơn hẳn. Quan trọng là họ nhầm lẫn nội dung tuyến tính của ý thức với trường ý thức phi tuyến tính, chẳng khác gì nhầm lẫn các hành tinh với vũ trụ, hay mây với bầu trời.
Chủ nghĩa vô thần (điểm hiệu chỉnh 165) hiện đang rất phổ biến trong lĩnh vực học thuật, rất “nhiều thông tin”, trong “Hollywood”, rất thời thượng, sang trọng, sành điệu, hiểu biết, và “hiện đại”. Trong giới tinh hoa, Chúa là kẻ lạc hậu, là chiếc mũ cũ, và là đồ ngốc nghếch. Thuyết tuyệt đối và Thực tại bị định vị ái kỷ của thuyết tương đối luận đem ra chế giễu, họ cho rằng tất cả các quan điểm đều có giá trị như nhau (như trong Alice in Wonderland của Lewis Carroll). Tương đối luận là tiếng nói thực sự đại diện cho suy nghĩ và ảo tưởng nóng nảy, ích kỷ của trẻ con (ví dụ, “Mọi chuyện chỉ đúng là cái mà tôi nói”).
Trong khi luận cứ giản lược “từ dưới lên” dường như uyên bác đối với những người không tinh tế, chúng rất tẻ nhạt và tầm thường đối với những người có học thức, thông qua nền giáo dục khai phóng thực sự, đã làm quen với sự uyên bác của các tác phẩm kinh điển vĩ đại của nền văn minh phương Tây, xác định rõ ràng các tầng trừu tượng và phân loại ý nghĩa. Nói chung, cái lớn hơn bị không thể bị cái nhỏ hơn bác bỏ. Khi chuyển đổi các tầng ý thức, những người ở tầng dưới 200 không thể hiểu được những hệ hình cao hơn. Do đó, ví dụ có môn số học, hình học, lượng giác, và sau đó phương trình vi phân, cơ học lượng tử (Nguyên lý bất định Heisenberg), v.v... Có nhiều tầng khác nhau. Như vậy, giản hóa luận cơ học (các lý thuyết “từ dưới lên” có điểm hiệu chỉnh 185) thậm chí còn không đạt đến những lĩnh vực mà nó định chối bỏ. Ngay cả “quan hệ nhân quả” cũng chỉ liên quan đến tầng hiệu chỉnh tới những tầng khoảng 450 mà thôi. Thực tại của Sáng tạo, Thần tính và sự thật tâm linh có điểm hiệu chỉnh từ 600 trở lên và điểm hiệu chỉnh của định vị với điểm hiệu chỉnh 190-250 không thể nào bác bỏ được.
Người ta nhìn thấy thành kiến phi chính trực này trong các biểu hiện của những người chống tôn giáo đang “tức giận”, “buồn bã”, “phẫn nộ”, v.v., mà sáng tạo luận gây ra cho họ. Ngược lại, người tìm kiếm sự thật thực sự là người khách quan, không có quan điểm cố định và quan tâm đến sự chắc chắn có thể xác nhận được, có nghĩa là xác nhận bằng trải nghiệm chứ không phải bằng cảm xúc.
Sự phù phiếm của bản ngã (điểm hiệu chỉnh 190) là vô tận và kiêu ngạo trong ảo tưởng lớn lao của nó vì nó cho rằng có thể bác bỏ sự tồn tại của Chúa. Nhận thức chỉ là giả định của ngôn ngữ giới hạn trong những ký hiệu tuyến tính, trong nội dung tư duy đầy hạn chế. Bất kỳ thực tế khách quan nào mà nó nghĩ là mình có cũng chỉ là giả định hoàn toàn chủ quan mà thôi.
Ngôn ngữ, trong trường hợp tốt nhất, cũng chỉ có tính mô tả chứ không phải ở cùng phạm trù với bản chất. Trải nghiệm ở các tầng khác với các biểu tượng. Vì vậy, bản tổng phổ của vở opera hay bản giao hưởng không tạo ra niềm vui thẩm mỹ mà chỉ có chính âm nhạc mới mang lại niềm vui, vì nó nằm ở tầng hệ hình khác và cao hơn là bản tổng phổ của những biểu tượng âm nhạc trên giấy.
Tại sao tâm trí lại đấu tranh quyết liệt đến như thế nhằm tìm cách thế chỗ cho Thần tính? Câu trả lời là tâm trí thực sự bác bỏ và âm thầm thù ghét bất kỳ chủ quyền nào khác ngoài chủ quyền của chính mình. Đó là cốt lõi của sự tồn tại của ái kỷ. Tâm trí có thể tạo ra quan điểm về vũ trụ, nhưng nó không thể tạo ra vũ trụ hay thậm chí là sự sống, chứ chưa nói tới tạo ra chính ý thức, vốn là “Ánh sáng” của Sáng tạo, như Sáng thế ký (tuyên bố này có điểm hiệu chỉnh Vô biên Vô tế). Những người chỉ trích Chúa không nói tới chính Ánh sáng (Chúa Ba Ngôi), nằm cách rất xa so với phạm vi giới hạn của suy nghĩ đơn giản.
Ngược lại với hệ hình tuyến tính mang tính mô tả khách quan của thực tại được đại diện bằng các tầng 400, thực tại phi tuyến tính tâm linh bắt đầu thể hiện các tầng từ 450, rồi trở thành giữ thế thượng phong ở tầng 500 (Tình yêu) và lên tới 1.000, đấy là nội lực của năng lượng cao nhất có thể có trong vương quốc của con người.
Biểu đồ các tôn giáo, các bậc thầy tâm linh và giáo lý trên thế giới thể hiện một hệ hình khác, trong đó thực tại giữ thế thượng phong là chủ quan và trải nghiệm chứ không phải là khách quan và có thể chứng minh được, vốn là đặc điểm của những hạn chế của những tầng 400. (Phần sau được in lại từ tác phẩm Truth vs. Falsehood)
Các bậc thầy tâm linh
Abhinavagupta | 655+ | Acharya | 480 |
James Allen | 505 | Thánh Augustine | 550 |
Sri Aurobindo | 605 | Ludwig van Bartaleffy | 485 |
Annie Besant Annie | 530 | Wallace Black Elk | 499 |
Bồ Đề Đạt Ma | 795 | Jakob Bohm | 500 |
Richard M.Bucke | 505 | Swami Buddhananda | 485 |
Eric Butterworth | 495 | John Canvil | 580 |
Ram Chandra | 540 | Khổng tử | 590 |
Đạt Lai Lạt Ma | 570 | Teilhard de Chardin | 500 |
Dilgo Khantsa Rinpoche | 575 | Arcopagite Dionysius | 490 |
Dogen | 740 | Druckchen Rinpoche | 490 |
Dzogchen Rinpoche | 510 | Meister Eckhart | 705 |
Erasmus | 500 | Charles Fillmore | 515 |
Myrtle Fillmore | 505 | Fox Emmett | 470 |
Gadenshartsa | 490 | Gangaji | 475 |
Mahatma Gandhi | 760 | Joel Goldsmith | 489 |
Mahendranath Gupta | 505 | Lamchen Rinpoche Gyalpo | 460 |
Manley P. Hall | 485 | Ernest Holmes | 485 |
Emma Curtis Hopkins | 485 | Chungliang Al Huang | 485 |
Aldous Huxley | 485 | John Paul II (Giáo hoàng) | 570 |
Saint John of the Cross | 605 | Karmapa | 630 |
Kasyapa | 695 | JamyungKhantsa | 495 |
Jean Kline | 510 | Gopi Krishna | 545 |
Brother Lawrence | 575 | Leadbeater C. W. | 485 |
Kusum Linpa | 475 | Martin Luther | 580 |
Sri Madhva Charya | 520 | Mechthild von Magdeburg | 640 |
Maharaj Nisargadatta | 730 | Ramana Maharshi | 720 |
Hakuyu Taizan Maizumi | 505 | Thomas Merton | 515 |
Rabi Moses de Leon of Granada | 720 | Radhakamai Mukerjee | 475 |
Muktananda | 655 | Robert Munroe | 485 |
Nanak | 495 | Claudio Naranjo | 465 |
Bhagaven Nityananda | 500 | Origen | 515 |
Rudolphm Otto | 485 | Padmasambhava | 595 |
Sotaesan Pak Chung-Bih | 510 | Tanzin Palmo | 510 |
YoganandaParamahansa | 540 | Patanjali | 715 |
Saint Patrick | 590 | Khampo Phuntsok | 510 |
Father Pio | 585 | Giáo hoàng Paul John | 570 |
Plotinus | 725 | Hoàng Bá | 960 |
Poonjai-Ji | 20 | Robert Powell | 525 |
Swami Prabhavananda | 550 | Swami Prejnehpad | 505 |
Gantey Rinpoche Pulku | 499 | Ramakrishna | 620 |
Swami Ramdas | 570 | Sri Samanuja Charya | 530 |
Rumi | 550 | Shirdi Sai Baba | 485 |
Lee Sannella | 505 | Swami Satchidananda | 605 |
Shankara (Sankara Charya) | 710 | Joseph Smith | 510 |
Socrates | 540 | Rudolf Steiner | 475 |
Suzuki, Master Roshi | 565 | Emanuel Swedenborg | 480 |
Rabindranath Tagore | 475 | Johann Tauler | 640 |
Mẹ Theresa | 710 | Theresa, Thánh xứ Avila | 715 |
Paul Tillich | 480 | Trang tử | 595 |
Lão tử | 610 | Evelyn Underhill | 460 |
Vivekananda | 610 | Alan Watts | 485 |
White Brotherhood | 560+ | White Plum Asanga | 505 |
Sri Yukteswar | 535 |
|
|
Thú vị là, mặc dù chính phiên tòa xử Scopes (“khỉ”) là giả tạo, những người tranh cãi chính trong phiên tòa là những người đại diện đích thực cho định vị riêng của mình. Bài tranh luận của William Jennings Bryan có điểm hiệu chỉnh 505, còn của Clarence Darrow có điểm 450; do đó, cuộc xung đột là không thể giải quyết được, vì mỗi bên đại diện cho hệ hình khác nhau về thực tại. Ngoài ra, Darrow về mặt trí tuệ là người theo chủ nghĩa thế tục, trong khi Bryan là người có đức tin tôn giáo và tâm linh.
Bằng cách đối chiếu các hệ hình khoa học (các tầng 400-499) với hệ hình của đức tin tâm linh và thực tại tôn giáo (từ tầng 500 trở lên), ta sẽ thấy rõ ràng là không thể giải quyết được những vấn đề này nếu chỉ dựa vào tầng của chính chúng, chỉ có thể giải quyết bằng cách thừa nhận rằng chúng đại diện cho những quan điểm khác nhau của các hệ hình khác nhau của thực tại. “Khoa học và tôn giáo tồn tại trong những chiếc hộp khác nhau” (Gould, 2002).
Tuyến tính là vô thường, hạn chế, hợp lý, có thể chứng minh được và khách quan. Phi tuyến tính là tạo được ảnh hưởng, mang tính chủ quan, trải nghiệm, không hạn chế và là bối cảnh chứ không chứng minh được. Các tầng dưới 200 thực sự là có tính phá hoại, nhưng các tầng 400-499 là có tính xây dựng. Từ tầng 500 trở lên là những tầng nâng đỡ, truyền cảm hứng và trao quyền. Do đó dường như kết hợp mang lại nhiều lợi ích nhất là giữa tình yêu và đức tin, cộng với lý trí, trong đó logic và lý trí được lập ra nhằm phục vụ cho tình yêu dành cho chính mình và người khác, cũng như phụng sự Thần tính (theo Thánh Thomas Aquinas). Dấu hiệu của sự kết hợp này là tâm từ bi, nhìn thấy sự ngây thơ, hạn chế và gót chân Achilles của nhân loại – thậm chí không biết bản chất của chính tâm trí.
Cuối những năm 1980, ý thức tổng thể của nhân loại mới vượt qua tầng 200. Khó khăn đầu tiên của đời sống của con người đã và đang là những nhóm dân cư thuộc các tầng ý thức khác nhau được gom lại cùng một chỗ, cho nên xung đột là không thể tránh khỏi, như đã được chứng minh bằng sự kiện được trích bên trên, nói rằng con người đã đánh nhau trong 93% giai đoạn lịch sử thành văn. Có thể cho rằng trong 7% thời gian còn lại, không có chiến tranh có lẽ là do đã xảy ra một số thảm họa khác (ví dụ, Dịch hạch, nạn đói, v.v.).
Như đã thấy bên trên, những lời giải thích về nguồn gốc và bản chất của vũ trụ thể hiện những khái niệm xuất phát từ các tầng ý thức khác nhau, cũng như những hệ hình đang tiến bộ, từ chán ngắt theo đúng nghĩa đen của từ này đến những tầng ý thức cao cấp của Chứng ngộ và mặc khải được giảng dạy bởi những vị thầy tâm linh vĩ đại trong lịch sử.
Phẩm chất bẩm sinh của sáng tạo là tiến hóa, như được thể hiện bằng những biểu hiện mang tính hữu cơ của sự sống. Dù còn tranh luận về việc cội nguồn sự sống được coi là sự ngẫu nhiên của các phản ứng hóa học (lý thuyết từ dưới lên), hay Thần tính (lý thuyết từ trên xuống), nhưng sự kiện là nó có tính tiến hóa là rõ ràng, có thể được ghi lại một cách chắn chắn và tạo được ấn tượng mạnh mẽ.
Thuật ngữ “sáng tạo” là trừu tượng, hàm ý sự nảy sinh, sự xuất hiện và sự tồn tại ngày càng phức tạp và hiệu quả hơn. Tất cả các lĩnh vực nghiên cứu của con người đều có tiến bộ; đồng thời, vũ trụ cũng mở rộng theo vô số hướng với tốc độ của ánh sáng. Chỉ cần suy ngẫm một chút thì dường như thực sự là không có xung đột giữa Tiến hóa và Sáng tạo, vì về bản chất chúng là một và là cùng một quá trình (ví dụ, Sáng tạo là nảy sinh, là mở ra liên tục, từng bước một như là Tiến hóa).
Luận cứ của Darrow có xu hướng tập trung vào các đoạn Kinh Thánh bao gồm những huyền thoại và truyền thuyết nguyên thủy mang tính ngụ ngôn và có giá trị đạo đức văn hóa chứ không phải là những phát biểu khoa học có thể chứng minh được. Bằng đức tin, người ta có thể tin rằng những đoạn Kinh Thánh này có thể được coi là sự thật lịch sử theo nghĩa đen của từ này, mặc dù chúng dường như là sai lầm trước logic và lý trí. Thực ra là, việc hiện thực hóa Thần tính như là Cội nguồn của Sáng tạo không phụ thuộc vào niềm tin theo nghĩa đen trong văn hóa dân gian đi kèm với nó - chủ yếu mang tính chất ngụ ngôn – hệt như sự thật của Đạo Phật không phải là tin tưởng vào việc liệu Đức Phật có thực sự chứng đạo dưới cội bồ đề hay không.
Giá trị khoa học chưa ra đời vào thời điểm những kinh văn cổ xưa được tập hợp lại. Đối với tâm trí tinh tế, liệu Biển Đỏ có thực sự tách ra hay Jonah đã sống được ba ngày trong bụng cá voi không liên quan gì đến những sự thật cơ bản được trình bày. Sức hấp dẫn của chúng là tâm trí bị hút vào bản chất có lẽ là kỳ diệu của các sự kiện của thời xa xưa được mô tả trong những cuốn sách này. Tâm trí ngây thơ bị cuốn hút bởi sự huyền bí và vẻ ngoài dường như là ma thuật và giật gân của những điều kỳ diệu vì nó không thể phân biệt được bản chất. Vì vậy, những người bình thường bị ấn tượng bởi những câu chuyện về điều kỳ diệu, được coi là chính quá trình vật lý và sức mạnh, cũng như sự hiện diện của Thần tính không nhìn thấy được.
Những điều kỳ diệu
Người bình thường bị ấn tượng bởi (hoặc nói cách khác là nghi ngờ về) những mô tả về những điều kỳ diệu, vì những người ở tầng ý thức dưới 570 hiếm khi gặp những hiện tượng kỳ diệu, nhưng chỉ có một phần rất nhỏ dân số thế giới (dưới 0,1%) vươn tới tầng này mà thôi. Vì phần lớn các sự kiện kỳ diệu nằm ngoài phạm vi của trải nghiệm mang tính tri giác của người bình thường, cho nên người ta thường không công nhận, và ngay cả khi tri giác được, người ta vẫn bỏ qua, chỉ coi là “may mắn”, “ngẫu nhiên” hoặc “tình cờ”. Ngược lại, phép lạ thực sự đã được xác minh theo lối khoa học là đã từng xảy ra, như được ghi chép lại thông qua các cuộc điều tra kỹ lưỡng về nhiều phép lạ ở Lourdes (Pháp) và những phép lạ trên cơ sở đức tin khác, chẳng hạn như dấu thánh tôn giáo (stigmata[3]) hoặc nhục thân của các vị thánh đã viên tịch vẫn tồn tại trong thời gian dài (được hiệu chỉnh là đúng).
Mặc dù người bình thường đôi khi có thể trải nghiệm điều kỳ diệu, họ không có bối cảnh thích hợp để có thể thực sự hiểu được thực tại của sự kiện. Bác sĩ tâm thần nổi tiếng, Tiến sĩ Carl Jung, đã đề xuất khái niệm “đồng bộ”, coi đây là lời giải thích duy lý khả dĩ. Tuy nhiên, cũng không phải là chuyện hiếm khi những người sống sót sau những thảm họa lớn báo cáo về những điều kỳ diệu và những bài tường trình trực tiếp của những người này cũng thường gặp trong loạt phim tài liệu Storm Stories (Câu chuyện bão tố) trên Weather Channel. Hầu như tất cả những người sống sót đều nói rằng họ đã nhất tâm cầu nguyện hoặc thậm chí bị cơn lốc xoáy đưa vào trạng thái An bình và Tĩnh lặng Vô biên Vô tế (điểm hiệu chỉnh 600). Như vậy là, có thể nhận xét rằng đức tin sâu sắc và phó thác có xu hướng giúp cho điều kỳ diệu xuất hiện.
Để cung cấp bối cảnh giúp tìm hiểu điều kỳ diệu, xin đưa đoạn trích sau đây, với lời giải thích bổ sung, in lại từ tác phẩm Transcending the Levels of Consciousness, Chương 6:
Hiện tượng tâm linh và công năng đặc dị
Từ tầng ý thức 540 lên đến các tầng từ 550 - 599, các hiện tượng xảy ra một cách tự phát không thể giải thích được bằng lý trí, bằng quá trình khái niệm hóa của logic thông thường, hay bằng quan hệ nhân quả.
Chúng thường xuất hiện khi năng lượng tâm linh (kundalini) tiến dần tới thế thượng phong và thường là kết quả của trường bối cảnh chứ không phải là do ý muốn. Người ta chứng kiến và nhìn thấy chúng xảy ra một cách độc lập. Trước đây những hiện tượng này được gọi là siddhis (công năng đặc dị - tiếng Phạn) và có nghĩa là “siêu nhiên” hay “quyền năng kỳ diệu/thần bí”, vì người ta không thể giải thích được chúng bằng logic.
Những hiện tượng này bắt đầu xuất hiện ở gần tầng 540 và trở thành thường xuyên khi lên tới tầng 570. Trong giai đoạn đầu chúng có thể xuất hiện không thường xuyên, nhưng khi ý thức thăng lên thì chúng xuất hiện thường xuyên hơn và đôi khi xuất hiện liên tục. Chúng nằm ngoài ý muốn của người đó và xuất hiện theo cách riêng của mình. Đấy là các công năng như dao thị (nhìn xa), túc mệnh thông, thiên nhãn thông, thiên nhĩ thông, ngoại cảm, xuất hiện đồng thời tại hai vị trí khác nhau và những hiện tượng kỳ diệu khác, trong đó có chữa lành và chuyển hóa một cách tự phát. Đó cũng là những điều kiện thuận lợi có một không hai, vượt ra khỏi mọi kỳ vọng hoặc giải thích.
Những khả năng hoặc hiện tượng này không nằm trong tầm kiểm soát của cá nhân, chúng không phải là quan hệ “nhân quả”. Vì vậy, các đệ tử được cảnh báo trước là không được tuyên bố những hiện tượng này là của cá nhân mình, vì chúng xảy ra độc lập với “Tôi” hay tự ngã của người đó. Như vậy là, như đã nói bên trên, không có “người” nào làm phép lạ ở đây, vì những hiện tượng và khả năng này chỉ là hậu quả của Thánh Linh. Sự phồng to của bản ngã tâm linh - dẫn đến trục lợi - bị thái độ trung thực và khiêm tốn ngăn chặn.
Trong trải nghiệm của tác giả những hiện tượng này có xu hướng xuất hiện và trở thành mạnh mẽ trong nhiều năm. Một số dường như biến mất và trở nên yếu hơn, trong khi những hiện tượng khác lại kéo dài vĩnh viễn.
Chính dòng năng lượng kundalini là khác thường ở chỗ, về mặt chủ quan, cảm giác về nó khi nó chảy ngược lên và vào não chỉ có thể được mô tả là tinh tế. Nó xuất hiện như thể thông qua luân xa tim, và sau đó đi vào thế giới, nơi sự hiện diện của nó tạo điều kiện cho quá trình mở ra điều kỳ diệu thực sự. Người ta nhìn thấy rằng những sự kiện này xảy ra mà không có chủ ý. Như thể những phẩm chất Thần thánh được hiển lộ thông qua những cõi cao hơn, những cõi siêu việt thế giới vật chất trần tục này.
Trong công trình nghiên cứu trước đây, người ta đã chứng minh được rằng 33 phép lạ nổi tiếng của Chúa Jesus quả thực là những hiện tượng có thật, và những phép lạ này được những người khác nhìn thấy. Đó là chứng thực rằng “Đối với Thiên Chúa, mọi sự đều có thể” và những ví dụ lịch sử được sử dụng làm công cụ giảng dạy, chứng minh và xác nhận sự nhập thể thiêng liêng của Chúa Jesus (điểm hiệu chỉnh 1.000). Những người sùng đạo cao cấp thường chứng kiến rất nhiều những điều kỳ diệu ít kịch tính hơn. Những sự việc như thế có xu hướng trở nên nhiều hơn và thường xuyên hơn; những người quan sát khác cũng có thể chứng kiến và xác nhận.
“Điều kỳ diệu” tượng trưng cho sự xuất hiện của tiềm năng trở thành hiện thực vật chất nhờ ảnh hưởng của sức mạnh bên trong của bối cảnh (khi các điều kiện khu vực cũng thuận lợi). Sự kiện đại diện cho sự hiển lộ của ảnh hưởng của sức mạnh phi tuyến tính, trong đó có ý định, kích hoạt tiềm năng tuyến tính (ví dụ, Nguyên lý bất định Heisenberg). Đó là “Sức mạnh Cao” không nhìn thấy được (trường bối cảnh phi tuyến tính) tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình hồi phục của hàng triệu người hồi phục dựa trên đức tin các nhóm như Hội những người nghiện rượu ẩn danh (AA) và Khóa học về phép lạ, cộng với quá trình chữa lành khi người ta đến gần các vị thánh, gần những tín đồ đã tiến hóa cao về mặt tâm linh, khi đến Lourdes, và ở gần các đạo sư. Người ta đã viết về những sự kiện này trong suốt chiều dài của lịch sử và được ghi lại, cũng như được những người quan sát nhìn thấy.
Như vậy là, bằng nghiên cứu hiệu chỉnh ý thức, có thể khẳng định rằng điều kỳ diệu là thực tại. Những hiện tượng như thế trong quá khứ đã có ảnh hưởng sâu sắc lên trải nghiệm của con người, cũng như có rất nhiều báo cáo về trải nghiệm cận tử (điểm hiệu chỉnh 625), thường làm cho đời sống thay đổi đáng kể và có tính chuyển hóa (Siegel, 1986).
Như lịch sử chứng thực, sự xuất hiện của phép lạ đã tạo ra những hậu quả sâu sắc và làm thay đổi không chỉ đời sống cá nhân của hàng ngàn người mà còn làm thay đổi cả lịch sử thế giới, khi nó xảy ra với những nhà lãnh đạo thế giới, những người cải sang đạo khác (ví dụ, Saul of Tarsis trở thành Thánh Paul).
La Mã cổ đại tôn thờ các vị thần La Mã ngoại đạo, nhưng năm 312, hoàng đế Constantine nhìn thấy linh ảnh kỳ diệu trên bầu trời, dấu hiệu của Thiên Chúa nói về Thiên tính của Chúa Christ. Ý thức của ông lập tức thăng từ 200 lên 350. Ông cho người gắn dấu hiệu đó lên khiên của các chiến binh La Mã, từ đó họ luôn là người chiến thắng. Sau đó Constantine tuyên bố Kitô giáo là tôn giáo của Đế chế La Mã và do đó, cuối cùng là tôn giáo của toàn bộ châu Âu.
Từ quan điểm lịch sử, có thể thấy rằng bối cảnh cơ bản tổng thể và cơ cấu quan trọng nhất của nền văn minh phương Tây là hậu quả của sự xuất hiện thần diệu của nó thông qua Chúa Jesus Christ, Thánh Paul và Hoàng đế Constantine. Mặc dù những ví dụ chính này dường như là hiện tượng xa vời, trải nghiệm kỳ diệu của Bill W. (Wilson), người sáng lập nổi tiếng Hội người nghiện rượu ẩn danh, đã tạo ra phong trào hồi phục mười hai bước, nhờ đó mà hàng triệu người đã khỏi không chỉ chứng nghiện rượu, mà còn thoát được nhiều căn bệnh trầm trọng và nan y khác. Tất cả những chương trình tự giúp nhau ra đời từ mặc khải của Bill W. đều có điểm hiệu chỉnh 575 (tước vị thánh).
Bản ngã không còn thống trị diễn ra trước, điều kỳ diệu xuất hiện sau. Nhất tâm cầu nguyện và phó thác cho Thiên Chúa có thể là hậu quả của khủng hoảng (“chạm đáy”) và tuyệt vọng, nhưng nó cũng có thể là kết quả của ý định chính trực và dâng hiến. Khóa học về phép lạ, xuất hiện trong mấy thập kỷ gần đây, cung cấp quá trình tu tâm từng bước một, làm cho bản ngã tan rã, bằng quan điểm thấu triệt và làm theo các bước hồi phục (cuốn bài tập có điểm hiệu chỉnh 600, sách giáo khoa có điểm hiệu chỉnh 550). Cuộc sống của nhiều người đã có chuyển hóa, và quá trình hồi phục sau khi mắc những căn bệnh hiểm nghèo cũng đã diễn ra, do đó, chứng minh giá trị của tên của khóa học kéo dài một năm này.
Cuối cùng, cái dường như “phi thường” lại trở thành thực tại mới mẻ, như thể người đó đang sống ở chiều kích khác, trong đó, cái dường như là không thể hiển lộ một cách phi nỗ lực như thể được sắp đặt. Sức mạnh bên trong của trường này tự động tạo điều kiện cho sự xuất hiện của tiềm năng nghiệp quả thành hiện thực được hiển lộ một cách hài hòa. Động lực là phi tuyến tính và do đó, trí tuệ không thể hiểu được, trí tuệ giả định những hạn chế của mô hình nhân quả tuyến tính của vật lý Newton và không thể khái niệm hóa sự xuất hiện, Trật tự Thiêng liêng hoặc Hài hòa.
Mặc dù lý trí và logic là những công cụ mạnh mẽ, nhưng chúng có những hạn chế, và Tự nhiên vẫn còn giữ nhiều bí ẩn không thể giải thích được. Vì vậy, mặc dù khả năng bị sét đánh xấp xỉ một phẩn một trăm triệu, nhưng một công nhân lâm nghiệp vẫn còn sống sau khi bị sét đánh tới 5 lần trong những dịp khác nhau. Câu chuyện do Fox News trình bày vào tháng 7 năm 2007 cũng làm người ta suy nghĩ, đấy là chú mèo “Oscar” (điểm hiệu chỉnh 250) khá nổi tiếng hiện nay, chú đã lần lượt xác định chính xác 26 bệnh nhân chết trong vòng bốn giờ sau khi nó cuộn tròn bên cạnh họ trong viện dưỡng lão. Vì vậy, như người ta thường nói, “Sự thật còn lạ lùng hơn là tưởng tượng”.
[1] Những tác nhân gây hại ở liều lượng nhỏ sẽ kích thích và làm cho hệ miễn dịch của cơ thể chúng ta trở nên mạnh hơn - ND
[2] Thiết kế thông minh - Là luận cứ cho rằng những đặc điểm xác định của vũ trụ và những dạng sống được giải thích xác đáng nhất bởi những nguyên nhân “thông minh”, không phải bởi những quá trình không được chỉ dẫn như chọn lọc tự nhiên - ND
[3] Stigmata- Dấu Thánh hay Năm dấu Thánh hoặc dấu Chúa là thuật ngữ được các tín đồ Kitô giáo sử dụng để mô tả những dấu hiệu trên cơ thể, vết loét, hoặc cảm giác đau ở các vị trí tương ứng với những vết thương bị đóng đinh của Chúa Jesus, chẳng hạn như ở lòng bàn tay, cổ tay và bàn chân - ND.
---------
CHƯƠNG 6
Thực tại xã hội và các tầng sự thật
Trong khi việc hiệu chỉnh các tầng ý thức và những biểu hiện của chúng dường như có tính học thuật và trừu tượng, thì ảnh hưởng xã hội thực tế của chúng là sâu sắc, cụ thể và sâu rộng. Mỗi tầng đều cho thấy những khả năng, cũng như những hạn chế của nhận thức và năng lực của chức năng não phù hợp cho việc tìm hiểu. Sau đó, nhận thức và năng lực phản ánh thế giới quan mà người ta cho là đúng về “thực tại” và do đó, cho là “thật”. Kết quả là sẽ xuất hiện các nhóm xã hội chính trị, trí tuệ đặc trưng và thậm chí các nhóm trong khu vực địa lý, với những kỳ vọng, yêu cầu và phong cách thể hiện rất khác nhau. Những nhóm xã hội này cũng bao gồm những phong cách giao tiếp, cũng như các chuẩn mực đạo đức và luân lý khác nhau, đến lượt mình, những thứ này lại tạo ảnh hưởng lên các giả định về các mối quan hệ và vai trò xã hội.
Những lựa chọn và tùy chọn này thường phản ánh sự tinh tế và sắc thái của các biểu tượng và giá trị được người ta phóng chiếu ra bên ngoài, trong đó ẩn chứa dấu hiệu nhận dạng nhóm và nền văn hóa. Những tầng khác nhau cũng có những lý tưởng đặc trưng của mình, cũng như có những biểu tượng về giá trị. Những sự phức tạp như thế tương tác với nhau và sau đó phản ánh trở lại xã hội thông qua các phương tiện truyền thông đã bị chính trị hóa, xếp chồng lên một tầng ảnh hưởng và giải thích nữa. Ảnh hưởng mang tính chỉnh sửa này càng làm cho quá trình tri giác phức tạp thêm, đến mức bản chất hay sự thật có thể kiểm chứng được trở thành ngày càng mơ hồ hơn và khó khăn làm người ta nản lòng hay thậm chí là không thể nhận ra được nữa.
Trong thế giới ngày nay, tình thế tiến thoái lưỡng nan của phiên tòa Scopes vẫn tồn tại trong những biểu hiện như chủ nghĩa thế tục duy vật đối đầu với tôn giáo truyền thống, cũng như đạo đức và luân lý tương ứng của chúng. Ngược đời là, cả khoa học lẫn tôn giáo đều được xây dựng trên cơ sở đức tin, sự tin cậy và niềm tin và được bảo vệ bởi uy quyền của sách vở và tài liệu lịch sử đầy ấn tượng (xem McGrath, 2005). Như đã thấy qua phân tích ngắn gọn vừa rồi, mỗi hệ hình đều rút ra từ những vương quốc khác nhau thực tại mà người ta cho là đúng, mà không có phương tiện nào để kiểm tra chéo, ngoài một phương tiện hữu ích là chính phương pháp nghiên cứu hiệu chỉnh ý thức.
Thuật ngữ “thế tục” rơi xuống bên dưới tầng tới hạn của chân lý, tầng 200, khi nó trở thành một “ism” (“ism” có điểm hiệu chỉnh 180), ngụ ý rằng đấy là quan điểm hạn chế, được định vị. Trước khi quan điểm tôn giáo hay thế tục chuyển thành “ism” mang tính ý thức hệ thì chưa hề có bất kỳ xung đột nào, khi chuyển thành ý thức hệ thì đã ngụ ý tuyên bố rằng tính độc quyền đã trở thành cảm xúc rồi.
Xung đột tồn tại trong tâm trí của người quan sát chứ không phải trong cái mà người ta quan sát. Quan điểm của William Jennings Bryan về sự thật tôn giáo (điểm hiệu chỉnh 505) không được các định luật khoa học xác nhận, cũng như quan điểm hạn chế của Darrow về lý trí và logic của thế gian (điểm hiệu chỉnh 450) cũng không thể áp dụng cho các lĩnh vực mà tôn giáo mô tả.
Các tầng ý thức của thực tại tâm linh biểu thị những chiều kích phi tuyến tính, liên quan chủ yếu đến bối cảnh, bản chất và lĩnh vực, chứ không liên quan đến chi tiết thực tế, có thể chứng minh được của nội dung tuyến tính. Kinh Thánh sử dụng các dụ ngôn, thần thoại, truyền thuyết, những câu chuyện ngụ ngôn và ẩn dụ để minh họa cho các nguyên tắc, chứ không sử dụng các chi tiết cụ thể cho nên tính thực tế theo nghĩa đen trong những câu chuyện của Kinh Thánh là không liên quan về mặt hoạt động. Ý nghĩa là phạm trù trừu tượng của ý nghĩ và lý trí phi tuyến tính (ví dụ, tầng của Kant) còn biểu tượng của nó thì không tương thích, không cụ thể, và không phải là thuật ngữ thường dùng.
Chúng ta thấy nguyên tắc tương tự được minh họa bởi trí huệ chỉ được tiết lộ bằng những câu chuyện tiếu lâm. Chuyện tiếu lâm không phải là tuyên bố có căn cứ thực tế, mà thay vào đó, sử dụng nghịch lý hoặc cường điệu để làm rõ thực tế bằng cách sử dụng sự đa nghĩa. Tương tự như truyện ngụ ngôn, hài hước là phương tiện nhằm vượt qua những giới hạn của hệ hình. Những nguyên tắc hệt như thế được minh họa thông qua tiểu thuyết và truyện cổ tích, cũng như thơ ca và những hình thức nghệ thuật khác. Cơ chế này thường là trái ngược hoặc bóp méo có mục đích nhằm làm nổi bật ý nghĩa, hàm ý, giá trị.
Thật sai lầm khi nhầm lẫn trừu tượng với nghĩa đen. Vì vậy, chúng tôi có thể tóm tắt xung đột trong phiên tòa Scopes như là sự không tương thích giữa những tầng phàm tục và trừu tượng của cách hiểu và cách trình bày. Sự thật có thể bị khuất lấp hoặc vứt bỏ, nhưng không thể bác bỏ được.
Xung đột trong cuộc đối thoại xã hội ngày nay
Bản ngã của con người là quá trình phát triển theo lối tiến hóa, có nguồn gốc từ bản năng của động vật (hominid – vượn người), và nó vẫn được người ta đầu tư để giành “chiến thắng” và do đó, giành được địa vị bằng cách cạnh tranh, tranh giành và kiểm soát sân chơi (ví dụ, bá quyền). Do đó, phong cách xã hội đặc hữu của giống người chủ yếu là gây bất đồng và người ta làm thế để cho giới truyền thông chú ý tới mình. Nhược điểm là lợi dụng nguyên tắc tự do ngôn luận và ngoại suy đến những thái cực không thể kiểm soát được, ranh giới của nó đang bị tương đối luận và những người vô chính phủ trong xã hội tấn công; ước mơ của họ là xã hội không có quy tắc hay hạn chế nào hết, mọi hình thức biểu đạt đều được có giá trị và hợp lệ như nhau, thậm chí cả giả dối công khai cũng có giá trị và mức độ tin cậy ngang với Sự thật.
Những giả định méo mó và lý tưởng hóa được quảng cáo về thế giới “hậu hiện đại” là kết quả của những lý thuyết tri thức/xã hội học/triết học ngụy biện trong mấy thập kỷ gần đây; tất cả chung quy đều là những chỉnh sửa một cách tỉ mỉ phép biện chứng Marxist để dựng lên “tương đối luận” (đạo đức, luân lý, xã hội, văn hóa, v..v...). Những khiếm khuyết cố hữu của chúng được thể hiện bằng cách hiệu chỉnh ý thức của những triết thuyết có ảnh hưởng trong thời gian gần đây (trích từ tác phẩm Truth vs. Falsehood).
Những triết lý có vấn đề
Tác phẩm Academic Left | 180 | Afrocentrism (Lấy châu Phi làm trung tâm (phân biệt chủng tộc) | 180 |
Vô chính phủ | 100 | Vô thần luận | 165 |
Chủ nghĩa độc đoán | 180 | Ác quỷ hóa hay ma quỷ hóa | 80 |
Tác phẩm Critical Theory (Marcuse) | 145 | Chủ nghĩa duy vật biện chứng | 135 |
Thuyết giải cấu trúc (Deconstructionism) | 190 | Mục đích biện minh cho phương tiện | 120 |
Tương đối luận về nhận thức luận[1] | 190 | Thuyết ưu sinh[2] | 105 |
Chủ nghĩa phát xít (thế tục) | 80 | Chủ nghĩa phát xít (thần quyền) | 50 |
Chủ nghĩa phát xít (Hồi giáo/Chiến binh) | 50 | Căm thù | 70 |
Chính trị nữ quyền | 185 | Chủ nghĩa khoái lạc | 180 |
Đả phá các tín ngưỡng lâu đời | 175 | Thiếu trách nhiệm | 195 |
hậu tố chủ nghĩa (“ism”) | 180 | Chủ nghĩa tự do cá nhân (Libertarianism) | 180 |
Tư tưởng yếm thế | 180 | Thuyết hư vô | 120 |
Chủ nghĩa hòa bình | 185 | Phần tử phản chiến (Chính trị hóa) | 180 |
Các triết thuyết | |||
Jean Baudrillard | 175 | Noam Chomsky | 135-185 |
John Caputo | 185 | Gilles Da Lauze | 190 |
Jacque Darrida | 170 | Michel Foucault | 190 |
Edmund Husserl | 195 | Luci Irigary | 155 |
Julia Kristeva | 150 | Fritz Kuhn | 195 |
Jacques Lacan | 180 | Jean-Francois Lyotard | 185 |
Rigoberta Manchu | 180 | Herbert Marcuse | 150 |
Karl Marx | 135 | Carl Popper | 185 |
Jean-Paul Sartre | 200 | Peter Singer | 195 |
Gore Vidal | 180 | Howard Zinn | 200 |
Các tư tưởng chính trị | |||
Cực hữu | 135-195 | Cực hữu cấp tiến | 80 |
Cực tả | 135-195 |
|
|
Cực tả cấp tiến | 80 | Nhà cách mạng | 100 |
Tương đối luận | 185 | Phản động | 155 |
Xã hội học đại chúng | 165-210 | Chủ nghĩa dân túy | 200 |
Protagoras (Hy Lạp cổ đại) | 190 | Phân biệt chủng tộc | 110 |
Thuật hùng biện | 180 | Nhẫn tâm | 180 |
Vu khống | 75 | Ngụy biện | 180 |
Tương đối luận xã hội | 185 |
|
|
Thuyết hổ lốn | 195 | Thuyết toàn trị thần quyền | 50 |
Chỉ trích chua cay | 75 | Bài ngoại | 185 |
Đáng chú ý là điểm hiệu chỉnh của “ngôn luận tự do” hiện nay ở Hoa Kỳ có điểm hiệu chỉnh 180, trong khi ngôn luận tự do trong thời Thế chiến II có điểm hiệu chỉnh 255.
Như có thể thấy, tầng hiệu chỉnh thấp của những triết lý tương đối phổ biến này dẫn đến kết quả là chắc chắn sẽ gây ra những tác động xã hội tiêu cực và do đó, sẽ có tác động mang tính phá hoại đối với xã hội, như đã được các chế độ Marxist của Pol Pot, Stalin, Mao, Fidel Castro và những chế độ “giải phóng” toàn trị khác thể hiện trong quá khứ. Người ta còn thấy tác động của chúng trong sự suy giảm nghiêm trọng của tầng ý thức được hiệu chỉnh của giới hàn lâm hiện nay, trong đó các tác phẩm của những triết thuyết tương đối luận đầy ngụy biện có điểm hiệu chỉnh ở tầng 180 hoặc thấp hơn, chúng đã thế chỗ cho tính chính trự trí tuệ của triết học cổ điển (điểm hiệu chỉnh 450) được đại diện bởi The Great Books (không có Marx, điểm hiệu chỉnh 130 và Engels, điểm hiệu chỉnh 200).
Trong khi, năm 1955, giới hàn lâm tính chung có điểm hiệu chỉnh 440, hiện nay nó đã giảm (năm 2007) xuống tới tầng 180, tức là tình trạng hỗn loạn về trí tuệ. (Xem Goshgarian, 2005; Horowitz, 2007). Để ứng phó với thảm kịch to lớn này, Intercollegiate Studies Institute of Wilmington, Delaware, đã công bố danh sách các trường đại học truyền thống cùng có điểm hiệu chỉnh 440 (ISI Guide to All-American Colleges, 2006). Ví dụ, Texas A&M có điểm hiệu chỉnh 440.
Xung đột xã hội, trong đó có “xung đột của các nền văn minh” trên bình diện quốc tế, có thể được mô tả một cách dễ dàng như là xung đột của hệ hình giữa các tầng dưới 200 và các tầng trên 200. Ví dụ, Hugo Chavez, nhà cai trị độc tài ở Venezuela (điểm hiệu chỉnh 90), vẫy vẫy cuốn sách của Noam Chomsky (Hegemony or Survival) khi xuất hiện trước công chúng (tháng 9 năm 2006). Sau này, ông ta được các nhà “hoạt động” chính trị Mỹ (điểm hiệu chỉnh 170) chào đón, ngay cả khi ông ta đóng cửa chương trình truyền hình phục vụ công chúng và tự do ngôn luận. Những người hoạt động cực đoan ở Hollywood thường xuyên chạy tới chạy lui để được người ta nhìn thấy là mình đang ôm những nhà cai trị độc tài giết người hàng loạt, như Castro, Saddam Hussein, hay Che Guevara. Người ta có thể cho rằng lý do duy nhất để họ không đổ xô đến chào và hôn bin Laden là vì họ không thể tìm thấy ông ta.
Bá quyền có nghĩa là “ảnh hưởng vượt trội, đặc biệt là của dân tộc này đối với dân tộc khác” (Webster’s Dictionary). Từ quan điểm tiến hóa, đây là mô thức chiếm ưu thế của bản chất giữa các loài, cũng như bên trong một loài (ví dụ, con đực alpha trong đàn). Đây cũng là bẩm sinh của Homo sapiens và các tổ chức của con người, của các quốc gia và các nền văn hóa. Nó cũng là bẩm sinh đối với kinh tế và thực tại kinh doanh /tài chính/chính trị, hiện nay đang nổi lên và phản ánh tính bá quyền trong cạnh tranh của các phương tiện truyền thông nhằm giành được vị trí xếp hạng cao. (Tất cả những sự kiện vừa nói được chứng thực trong bộ phim nhiều tập Meerkat Manor trong chương trình Animal Planet đầy hài hước và nổi tiếng).
“Hy vọng rằng người xứng đáng nhất sẽ chiến thắng” là một nguyên lý sinh học/tiến hóa của sinh tồn vốn có của mọi hình thức sống và được thể hiện trong lịch sử nhân loại bằng việc dịch chuyển quyền thống trị của các đế chế khác nhau (ví dụ, Mông Cổ, Ottoman, Goths, Huns, La Mã, Anh, v.v.). Bằng ngụy biện có thể dễ dàng ma quỷ hóa sự thống trị, coi nó là “sai”, đấy là đặc điểm của tương đối luận, theo đó người ta luôn luôn lên án đa số, coi họ là nguyên nhân của những hạn chế và bất hạnh của thiểu số. Do đó, người ta ma quỷ hóa địa vị bá quyền của một nền văn hóa hay doanh nghiệp và chúng trở thành mục tiêu phỉ báng (ví dụ, nước Mỹ, triết học và duy lý cổ điển, đạo đức, luân lý, tôn giáo, Wal-Mart, Hướng đạo sinh và những người người cha lập quốc Mỹ, được gọi là “Những người da trắng đã chết”). Thú vị là, “những người giải phóng” khỏi chính nền văn hóa đã làm cách mạng thì sau đó họ lại có tất cả các đặc điểm hệt như thế (ví dụ, Castro, Mao, Hitler và “các vị tổng thống trọn đời” khác). Như vậy là, biện pháp chữa trị còn tệ hại hơn căn bệnh. Ngược đời là, tương đối luận tìm kiếm sự thống trị (ví dụ, bá chủ) văn hóa bằng cách dùng đến ngay cả những biện pháp cực đoan nhất, trong đó có những điều dối trá trắng trợn nhất, như Joseph Goebbels từng nói.
Lời hứa mới là quyền bá chủ của chủ nghĩa thế tục tương đối luận sẽ giải phóng dân chúng khỏi “sự áp bức” của đạo đức, luân lý, sự thật có thể kiểm chứng được và trách nhiệm cá nhân. Những người ngụy biện trong giới hàn lâm dường như có mục đích giải phóng dân chúng khỏi “sự áp bức” của lý trí và logic và mở ra quyền bá chủ mới của chủ nghĩa hậu hiện đại, dưới hình thức vô chính phủ và hỗn loạn. Bằng quá trình chuyển đổi được coi là không tưởng này, YouTube.com sẽ dường như thay thế Chén Thánh và nước Mỹ sẽ có những đặc điểm Hồi giáo của “Satan vĩ đại” với tôn giáo là chủ nghĩa khoái lạc ái kỷ (điểm hiệu chỉnh 160). (Ngược lại, God in America [Gingrich, 2006] có điểm hiệu chỉnh 480.) Thậm chí những trang web kinh doanh cũng là mục tiêu của vô số những lời mời gọi khiêu dâm và sự thô tục quá mức. Ở nước Mỹ, Những tổ chức, ví dụ America Civil Liberties Union (ACLU) đối đầu với the Alliance Defense Fund (ADF, điểm hiệu chỉnh 480), hay the American Civil Rights Union (ACRU, điểm hiệu chỉnh 460) là những tổ chức đại diện của xung đột giữa các nền văn minh. Cuộc xung đột này không làm ai ngạc nhiên, vì ACLU do Roger Baldwin thành lập, còn ADF thì được một nhóm Mục sư Kitô giáo dựng lên. Chính Baldwin là người tạo dựng phiên tòa Scopes. Động cơ của ông ta không phải là thiết lập tự do (liberty) mà là nhằm tiêu diệt hoàn toàn tôn giáo và thu hút sự chú ý của dư luận. Ông ta là người có cảm tình với cộng sản và là đệ tử của Karl Marx (Sears và Osten, 2005).
Tương đối luận
Mặc cho những lời cảnh báo của Giáo hoàng Benedict (ảnh hưởng có hại của Hồi giáo và tương đối luận), nền văn minh phương Tây vẫn chưa nhận ra được sự xuống cấp của nó (điểm hiệu chỉnh là đúng; mời đọc Truth vs. Falsehood, Chương 12), và cơ cấu cơ bản và nền tảng đã bị phá hoại và bị suy yếu khá nhiều do quá trình nhồi sọ tràn lan các triết thuyết độc hại. Nó bắt nguồn từ việc nền văn hóa mang tính ý thức hệ của những người trí thức với những giả thuyết sai lầm đã được phổ biến và nhận được sự ủng hộ chính trị trong những năm 1960. Ngay cả những người ủng hộ nhiệt thành nhất của nó đã và vẫn không biết nguồn gốc của nó. Vì sự nổi tiếng bị thổi phòng, những giả thuyết cơ bản không được người ta kiểm tra và ngây thơ chấp nhận theo giá trị bên ngoài như thể chúng có giá trị nội tại nào đó.
Xã hội dễ bị tổn thương là có thực, vì 55% dân chúng Mỹ, về bản chất là không thể phân biệt được thật giả, hay tri giác với bản chất. Thông qua nhóm người đông đảo này mà những lời có cánh của tương đối luận nhận được sự ủng hộ, giúp đỡ và tiếp tay bởi giới truyền thông và văn hoá đại chúng. Hiện tượng này là một ví dụ phổ biến được trình bày trong tác phẩm Extraordinary Popular Delusions and the Madness of Crowds (Mackay).
Tác động của tương đối luận đối với nền văn minh phương Tây là hoàn toàn ngược lại với những hiện tượng xảy ra từ thời Khai sáng, thế chỗ cho thời Trung cổ, dùng lý trí, logic, duy lý và nền giáo dục dựa trên sự thật, đạo đức, tính chính trực thay thế cho vô minh. Cốt lõi trí tuệ của thời Khai sáng là sự uyên bác của những bộ óc vĩ đại của lịch sử, từ thời kỳ Hoàng kim của Hy Lạp cổ đại đến những trí thức vĩ đại mà The Great Books là đại diện. Sự uyên bác cổ điển có điểm hiệu chỉnh (cũng như The Great Books) từ tầng 440 đến 499 và là cơ sở trí tuệ cho ngôn luận tự do, thông qua bản Hiến pháp và Tuyên ngôn Nhân quyền của Mỹ. Ngược lại, tương đối luận có điểm hiệu chỉnh từ 180 đến 190 hoặc thậm chí còn thấp hơn, trong nhiều biểu hiện của nó, được thể hiện trên sơ đồ sau:
TƯƠNG ĐỐI LUẬN VÀ THỰC TẠI (A)
Thực tại/Sự thật/Bản chất Tương đối luận/Vẻ ngoài/Vọng tưởng
Thuyết tuyệt đối | 650 |
Nhiệt độ trái đất là do mặt trời | 455 |
Hàn lâm (1955) | 440 |
Các giáo sư Mỹ (1955) | 440 |
Chính trực hợp với logic | 400-499 |
Đạo đức truyền thống | 490 |
Hollywood (1955) | 265 |
Hays Movie Code[3] (1955) | 430 |
Hướng đạo sinh | 450 |
Triết học cổ điển | 440-485 |
Aristotle | 498 |
Sophocles | 465 |
Hoàng Bá | 960 |
Tác phẩm People of the Lie (Peck) | 450 |
Chủ nghĩa hiện đại | 400 |
Tác phẩm Intellectual Morons (Flynn) | 421 |
Xã hội Mỹ (năm 2007) | 421 |
Vùng nỏ não trước trán (Prefrontal Cortex) | 200 |
Thận trọng | 375 |
Tượng Nữ Thần Tự do | 500 |
Ý nghĩ trừu tượng | 450 |
Ý nghĩa | 450 |
Tâm trí cao | 275 |
Thái độ thân thiện | 255 |
Đứng lên vì sự thật | 500 |
Thế gian như là biểu hiện của nghiệp lực | 575 |
Thế gian như là cơ hội mang tính nghiệp lực | 600 |
Tôn giáo truyền thống (ảnh hưởng ở Mỹ) | 450 |
Tương đối luận | 125-190 |
Phim tài liệu Inconvenient Truth – sự thật khó chịu | 180 |
Hàn lâm Mỹ (2007) | 180 |
Các giáo sư Mỹ (2007) | 180 |
Ngụy biện, tu từ học | 180-190 |
Chủ nghĩa khoái lạc | 180 |
Hollywood (2007) | 180 |
Festival phim sundane (2007) | 165 |
NAMBLA (Hiệp hội tình yêu đàn ông/ nam giới Bắc Mỹ) | 140 |
Trường phái Frankfurt | 130-180 |
Marcuse, H. (Lý thuyết phê phán) | 150 |
Triết học tương đối | 130-190 |
Vô thần luận | 190 |
Thuyết âm mưu | 90-110 |
Chủ nghĩa hậu hiện đại | 180 |
Tương đối luận luân lý, đạo đức, xã hội | 180 |
Thế giới tổng thể (2007) | 205 |
Huffington Post, MySpace, YouTube | 140 |
Amygdala[4] (động vật) | 120 |
Phỉ báng, gièm pha, báng bổ | 120 |
Tư duy cụ thể | 190 |
Định nghĩa | 200 |
Tâm trí thấp | 155 |
Thù địch | 125 |
Khoan dung | 190 |
Bất công trên thế giới | 200 |
Thế giới bóc lột | 180 |
Chủ nghĩa thế tục | 190 |
Phá hoại xã hội bằng cách nhắc đi nhắc lại | 510 |
Tiền dẫm đạp hòa bình | 355 |
Gọi cái xẻng là cái xẻng | 490 |
Sự xâm nhập của tương đối luận được đẩy nhanh bằng sự truyền bá của những người nổi tiếng trong lĩnh vực giải trí, trong những năm 1960, “sự nghiệp” của họ là phản đối chính quyền, phong trào này chính trị hóa và tán dương sự nổi loạn của thanh thiếu niên và chủ nghĩa khoái lạc thông qua các meme và khẩu hiệu, ví dụ như Timothy Leary, “Turn On, Tune On and Drop Out[5]” (điểm hiệu chỉnh 180), v.v. Phản truyền thống có nghĩa là từ bỏ sự trung thành với tính duy lý, luân lý, đạo đức và trách nhiệm cá nhân, dẫn đến việc bác bỏ tôn giáo như là nguồn gốc có tính lịch sử và cơ sở của đạo đức và pháp luật. Nó lại được những giả trí thức của phe Cực Tả trong những năm 1950 và 1960 cổ vũ, thông qua việc những người nổi tiếng ở Hollywood ve vãn chủ nghĩa cộng sản và những người có cảm tình với nó, cũng trong thời gian đó Phiên điều trần của McCarthy như đổ thêm dầu vào lửa. Những người phản kháng xã hội trong thời kỳ Chiến tranh Việt Nam (điểm hiệu chỉnh 170) cho rằng “Thế hệ vĩ đại” thời Thế chiến thứ hai (điểm hiệu chỉnh 470 đến 480) dường như là trầm lắng và kém sôi động nếu so với lễ hội hóa trang “của phong trào hippie”, ma túy, tình dục và nhạc rock-and-roll.
Trong khi cuộc cách mạng tư tưởng được cho là hậu quả và phản ứng trước các sự kiện trên thế giới, thì trên thực tế, nó được xây dựng trên những lý giải mới, mang tính cách mạng và triệt để của Chủ nghĩa Marx, nhưng được diễn đạt bằng thuật ngữ phi Marxist mà người ta cố tình sử dụng. Những tiền đề triết học thực tế của “người cánh tả” của phong trào cách mạng cánh tả theo tương đối luận bắt nguồn từ những triết lý của trường phái Frankfurt và nhà hoạt động xã hội của trường phái này là Herbert Marcuse, nhân vật chính trong viết lách và là người tiên phong của họ. Giáo lý căn bản của ông ta (điểm hiệu chỉnh 150) là sự thật là giả dối và giả dối thực ra là sự thật. Làm sao lại nảy nòi ra sự vô lý như thế và thậm chí nó còn đứng vững được thì không thể nào hiểu nổi. Tính phi lý nền tảng của hệ tư tưởng đao to búa lớn này được bàn một cách chi tiết hơn trong Truth vs. Falsehood (mời đọc “Tương đối luận” trong Chương 12). Biểu đồ sau đây sẽ cho chúng ta thấy rõ điều đó.
TƯƠNG ĐỐI LUẬN VÀ THỰC TẠI (B)
Thực tại/Sự thật/Bản chất Tương đối luận/Vẻ ngoài/Vọng tưởng
Thuyết tuyệt đối | 650 |
Phân biệt bản chất với biểu hiện bên ngoài | 600 |
Descartes (res interna vs. externa) | 490 |
Plato | 485 |
Jesus, Đức Phật, Krishna | 1.000 |
Các Thánh tông đồ | 990 |
Socrates | 570 |
Great Books of the Western World | 465 |
Khoa học | 440-499 |
Plotinus | 503 |
1984 (Orwell) | 425 |
Freud | 499 |
Lòng yêu nước | 520 |
Quốc ca Mỹ, Lời thề, Quốc kỳ | 510 |
Bất đồng trung thục | 495 |
Cân bằng | 205 |
Tinh thần thượng võ | 465 |
Trách nhiệm cá nhân | 475 |
Ngôn luận tự do (1955) | 255 |
Những nhà từ thiện Mỹ | 455 |
Tha thứ cho kẻ giết người của phái Tin lành Mỹ | 540 |
Hiệu chỉnh ý thức | 605 |
Trung thực | 475 |
Bình đẳng xã hội (Hiến pháp Mỹ) | 550 |
Minh bạch | 425 |
Sự thật | 475 |
Pháp luật Mỹ | 525 |
Hiến pháp Mỹ | 710 |
Tuyên ngôn nhân quyền Mỹ | 485 |
Albert Einstein | 499 |
Tương đối luận | 125-190 |
“Tri giác là thực tại” | 190 |
Marx (nạn nhân/thủ phạm) | 130 |
Protagoras | 190 |
Vô thần luận | 165 |
Chủ nghĩa hoài nghi | 130-160 |
N.Chomsky (tác phẩm) 135-185 | 135-185 |
Dead white man (tiếng xấu ám chỉ những người cha lập quốc Mỹ | 130 |
Khoa học lá áp bức | 160 |
H. Marcuse (tác phẩm) | 130-150 |
Ngôn ngữ mới (trong tác phẩm 1984) | 180 |
Môn nạn nhân học/lên án | 160-180 |
Căm thù Mỹ | 130 |
Phản bội tổ quốc | 80 |
Xúi giục bạo loạn | 105 |
Chủ nghĩa cực đoan | 140 |
Vinh danh hành động giết người | 90 |
Ngôn luận tự do (2007) | 180 |
Liên Hiệp Quốc | 180-190 |
Chủ nghĩa duy vật | 180 |
Ái kỷ/ý kiến | 140 |
Người biện hộ | 190 |
Sói đội lốt cừu | 120 |
Thành kiến giới tính | 180-190 |
Lừa dối | 160 |
Phỉ báng, làm chứng dối | 60-75 |
Công lý xã hội | 180 |
Luật đạo Hồi (Sharia) | 190 |
Nguyên lý bất địnhHeisenberg | 460 |
Kinh Tân Ước (không có Khải huyền) | 880 |
American Civil Rights Union | 460 |
Giản lược cơ học | 160 |
Chủ nghĩa thế tục | 165 |
Phân biệt đối xử ngược | 180 |
Nhiều tổ chức cực đoan ồn ào liên tục được đưa tin về những hoạt động của mình, nhưng chúng có điểm hiệu chỉnh cực kỳ thấp. Lý trí, sự thật và logic không còn ngự trị, những hiện tượng ngược lại đã giữ thế thượng phong, kết quả là đảo lộn thiện và ác, đúng và sai, và do đó, đảo lộn đạo đức hay luân lý (Bruce, 2003). Sau đó dẫn đến quan niệm cho rằng dùng giả dối thay thế sự thật là “ưu tú” và “cao hơn”, cốt lõi ái kỷ của bản ngã vô cùng phấn chấn và cung cấp nhiều năng lượng cho nó, vì ái kỷ đánh giá cao ý kiến và tri giác ích kỷ hơn là giá trị thực sự và bản chất.
Tính chính trực sụp đổ, là hiện tượng đã được Socrates tiên đoán, là nguyên nhân của quá trình sự xuống dốc không thể tránh khỏi của chế độ dân chủ ngôn luận tự do. Tuy nhiên nước Mỹ vẫn tiếp tục là nguồn cung cấp tiền quan trọng nhất cho hoạt động từ thiện; và có những tiến bộ và khám phá lớn, trong đó có khoa học, y học, công nghệ và kỹ thuật. Thú vị là, chủ nghĩa Marx không chỉ chế giễu tôn giáo (“thuốc phiện của con nhân dân”) mà thậm chí còn chế giễu chính khoa học, coi nó cũng là “áp bức”. Ngược đời là, nhiều triết gia và nhà văn theo chủ nghĩa tự do trong Trường phái Frankfurt có đời sống cá nhân phóng đãng và phải chịu đau khổ hay thậm chí là chết vì nghiện nhiều thứ đồi trụy cùng một lúc, và ngược đời là, khoa học của Mỹ đã phát triển được những biện pháp chữa trị, cứu mạng cho họ.
Tất cả những điều vừa nói đều là biểu hiện của “chủ nghĩa hậu hiện đại” về mặt xã hội/chính trị/triết học (điểm hiệu chỉnh 180), chính vì thế giới hàn lâm đã sa ngã đến mức như thế (xem Horowitz, 2006, 2007). Nhồi sọ (theo khuyến nghị của Marcuse) hiện đã thay thế cho giáo dục, coi đó là mục tiêu. Nó được thể hiện bởi “toán cấp tiến” (radical math), hiện đang được sử dụng để dạy học sinh tiểu học thông qua học thuyết “công bằng xã hội” (điểm hiệu chỉnh 180) (Stern, 2007). Mô tả tuyệt vời về hiện tượng này được Flynn (2004) trình bày trong tác phẩm Intellect Morons (tạm dịch Trẻ con có tri thức - điểm hiệu chỉnh 450), trong đó ông nói rằng (đúng như tên tiêu đề) hầu hết các giáo sư, những người nhồi sọ cho học sinh những triết lý sai lầm của Marcuse thậm chí chưa bao giờ đọc tác phẩm của ông ta, mặc dù ông ta là nguồn tham khảo được sách giáo khoa xã hội học trong thập kỷ vừa qua trích dẫn nhiều nhất. Thảm họa đối với nền văn minh Mỹ và phương Tây là điểm hiệu chỉnh của giới hàn lâm đã suy giảm nghiêm trọng, từ 440 trước đây xuống còn 180 (2007). Thậm chí một trường luật nổi tiếng cũng giảm từ 440 xuống tầng hiện nay là 175. Mục đích của giáo dục hiện nay đã giảm sút và trở thành “huần luyện sự nhạy cảm” bằng cách nhồi sọ chính trị (ví dụ như chủng tộc, giới tính, giai cấp và “công bằng xã hội”). Thú vị là, hiện nay các trường cao đẳng cộng đồng không lớn có điểm hiệu chỉnh cao hơn hẳn (440) những trường đại học ở phía Đông có tên tuổi lớn và uy tín.
Những điều vừa nói cũng xác nhận nhận xét của Đức Giáo hoàng Benedict rằng, đe dọa lớn nhất đối với nền văn minh phương Tây là sự kết hợp của tương đối luận (người biện hộ) và thái độ hân hoan của Hồi giáo, trong đó sự kiện 11/9 mới chỉ là phát súng cảnh báo mà thôi (hiệu chỉnh là đúng). Như vậy là, tương đối luận là con ngựa thành Troy, kẻ thù của tự do ẩn náu dưới trang phục của những người biện hộ (được Lenin gọi là “những kẻ ngốc hữu ích”) như những con cừu chính hiệu. Muốn tránh bị dán nhãn là chống chủ nghĩa Marx, Trường phái Frankfurt tách mình ra khỏi chủ nghĩa cộng sản bằng cách không nhắc tới Marx. Trường phái này lúc đầu có tên là Xã hội học Marxist, nhưng đã quyết định ẩn náu dưới một danh nghĩa khác để tránh cuộc tấn công chính trị. Vì vậy, bằng cách lẩn tránh, người ta hy vọng rằng bản chất của tư tưởng Marxist (chủ nghĩa duy vật biện chứng vô thần có điểm hiệu chỉnh 130) sẽ thoát được cuộc tấn công chính trị.
Marcuse và các triết gia Pháp thời thượng đã chính trị hóa hầu hết các khía cạnh của đời sống để lòng trung thành được gọi một cách khéo léo là “phải đạo” hoặc “tinh hoa”. Sự vĩ đại của thực thể “siêu đẳng” đương nhiên là vô cùng quyến rũ đối với cốt lõi ái kỷ của bản ngã. Vì vậy, những người nổi tiếng trong lĩnh vực giải trí có đời sống chủ yếu được xây dựng trên ngã ái, thông qua hình ảnh quyến rũ mà giới truyền thông tạo ra, rất dễ bị những giả thuyết của Marcuse lôi cuốn và trở thành người đề xướng một “sự nghiệp” mới, tương tự như một số người trong số họ trước đây đã từng làm với chủ nghĩa Marx. Cách mạng thật là hào nhoáng và làm cho người ra mê say; và “sự nghiệp cao cả” đã thu hút được những người phát ngôn nổi tiếng, tương tự như họ đang làm trong ngày hôm nay. Bất kỳ cuộc diễu hành hoặc biểu tình “chống” nào cũng thu hút được đám đông, cùng với đó là ném đá cảnh sát và tràn qua các chướng ngại vật. Người cộng sản đã hoàn thiện kỹ thuật dàn dựng các cuộc biểu tình “tự phát” và đã làm như thế trong và sau cuộc biểu tình chống Chiến tranh Việt Nam với kỹ năng ngày càng hoàn thiện hơn. Với một ít tiền, người ta có thể tạo ra đám đông những kẻ kích động quần chúng phản đối ở hầu hết các khu vực ở Hoa Kỳ hoặc Châu Âu (ví dụ, khi có những cuộc hội nghị “thượng đỉnh” quốc tế).
Trí tuệ truyền thống và nền tảng trí tuệ của nó giờ đây đã bị coi là “chiếc mũ cũ” và lỗi thời, và những học giả cánh tả đầy tham vọng, mang ý thức hệ, giả tri thức nhanh chóng nhập cuộc nhằm thể hiện kiến thức “hậu hiện đại”, trí tuệ “vượt trội” của họ. Ngay cả chủ tịch các trường đại học từng có danh tiếng, từng là tinh hoa thì hiện nay thường xuyên có điểm hiệu chỉnh ý thức ở tầng 190 và tầng sự thật của chương trình giảng dạy đã suy giảm nghiêm trọng. Các giáo sư nắm giữ địa vị độc đoán và do đó được coi là có thẩm quyền. Bằng những châm ngôn về “khoan dung”, “công bằng xã hội”, “chủ nghĩa đa văn hóa”, “thích nghi”, v.v. (Goshgarian, 2005), các trường đại học lớn sau đó bắt đầu mời ngay cả những người loạn thần kinh mà ai cũng biết (điểm hiệu chỉnh từ 90 tới 160) làm “giáo sư” thỉnh giảng sành điệu để giảng những chủ đề lừa đảo (ví dụ, âm mưu vụ 11/9, hay Holocaust “chưa bao giờ đã xảy ra”). Sự suy thoái trí tuệ của giới hàn lam được dàn xếp bởi ảnh hưởng có tính kết hợp của một nhóm các giáo sư hậu hiện đại được mời chào, tất cả bọn họ đều có điểm hiệu chỉnh dưới tầng tới hạn, 200.
Tất cả các ví dụ bên trên đều thể hiện tính ái kỷ về mặt trí tuệ và tâm trí không có khả năng phân biệt tri giác với bản chất. Nạn nhân của chứng rối loạn này hiện được gọi là “các nhà tư tưởng” và, là những người như thế, họ phải chịu trách nhiệm cho phần lớn những thiệt hại về chính trị hiện nay của Hoa Kỳ và Châu Âu. Họ cũng phải chịu trách nhiệm về những ảnh hưởng mang tính phá hoại đối năng lực nhận thức chung về bình đẳng và công lý thực sự, đấy là do họ đã truyền bá có chọn lọc các chương trình mà họ ưa thích và những khái niệm sai lầm, làm cho những công dân ngây thơ bị tổn hại thực sự về mặt tâm trí.
Vì vậy, 88 giảng viên đại học đã cùng nhau ký bản tuyên bố lên án (điểm hiệu chỉnh 180) những đội thể thao vô tội, các thành viên của những đội này bị buộc tội sai vì thái độ thông cảm ủy mị dành cho người mà người ta cho là nạn nhân của thái độ phân biệt chủng tộc và giới tính của bị cáo (sau này được chứng minh là sai). Đáng chú ý là sự kiện quan trọng là sau khi bị cáo được chứng minh vô tội nhờ kiểm tra DNA, các giảng viên không rút lại lời lên án sai lầm. Rất lâu sau, vị chủ tịch mới xin lỗi. Đây là minh họa vì sao tập thể giảng viên của viện hàng lâm của Mỹ đã giảm xuống dưới tầng ý thức 200. Trong khi các trường cao đẳng cộng đồng và Đại học Texas A&M vẫn có điểm hiệu chỉnh ở tầng 440, các trường đại học thuộc Ivy League[6] nói chung có điểm hiệu chỉnh ở tầng 220.
Khi hệ tư tưởng “cánh tả” được đưa vào cơ cấu của trường đại học, thì kết quả sẽ là sự sụp đổ của chính tổ chức đó (Allen, 2007, trong một bài báo lớn khá dài tờ The Weekly Standard, tháng 11 Ngày 12 tháng 12 năm 2007). Việc trường Antioch College vốn trước đây là trường có truyền thống bị đóng cửa đã được ông mô tả chi tiết đầy cảm khái.
Mức độ phi lý của Marcuse và những triết gia giả hiệu tương tự như ông ta được thể hiện rõ nhất bằng cách đơn giản là trích dẫn một số mệnh đề cơ bản hình thành nên cốt lõi của các khái niệm mà những nhóm sinh viên và công chúng bị chính trị hóa phải được “nhồi sọ” (ví dụ, “sự nghiệp thiêng liêng”). Những câu châm ngôn cơ bản được trích dẫn dưới đây:
1. Tự do (Freedom) là toàn trị.
2. Hư cấu là sự thật.
3. Nói dối là hợp pháp. (“Nó là như thế vì cái thiện của chính nó”).
4. Nhồi sọ là mục đích của giáo dục.
5. Khoan dung là không chấp nhận được.
6. Phải cấm hoặc tấn công chủ nghĩa bảo thủ.
7. Tất cả các cộng đồng thiểu số đều là nạn nhân.
8. Mục đích của đời sống của con người là làm tình.
9. Gia đình, tôn giáo, lòng yêu nước, công việc, chủ nghĩa tư bản, khoa học, tính duy lý, đạo đức và những thứ khác đều là kẻ thù của tự do.
Việc nhồi sọ vào đầu óc những học sinh ngây thơ, như vừa nói, còn tai hại hơn ở chỗ nó làm cho nạn nhân bị tê liệt vì cảm nhận thực tại bị suy giảm - năng lực kiểm nghiệm và sự ngây trong trắng thơ của họ bị tình trạng suy thoái thực sự làm suy đồi. Đáng chú ý là, trong quá khứ, việc giảng dạy Nietzsche trong các trường đại học là do Clarence Darrow nắm giữ, họ phải chịu một phần trách nhiệm trước hành vi của những kẻ giết người là Leopold và Loeb, và do đó người ta đã giảm án tử hình cho hai tên này (Brookhiser, 2007).
Minh họa cho tất cả những điều trên là hiện nay các trường ở cấp đại học, chuyên đào tạo những người làm công tác xã hội nếu muốn được công nhận thì cần nhồi sọ về chính trị (ví dụ, “tất cả các nhóm người thiểu số đều bị áp bức”, “tất cả người da trắng đều là những kẻ phân biệt chủng tộc,” v.v.). Vì vậy, họ thực sự không thể xác định các sự kiện cơ bản và mô thức tiến hóa xã hội (được trình bày chi tiết trong Indoctrination U, Horowitz, 2007).
Như có thể dễ dàng trực giác được, cội nguồn cơ bản là ác tâm nguyên thủy xuất phát từ năng lượng mà trước đây, qua nhiều thời đại, được gọi là Satanic và Luciferic. Vì đây là những đặc điểm cơ bản của cái ác, ta mới thấy rõ là vì sao Đức Giáo hoàng Benedict (điểm hiệu chỉnh 565) cảnh báo phương Tây về tương đối luận - đã trở thành người biện hộ cho chủ nghĩa khủng bố ẩn nấp dưới vỏ bọc tôn giáo và lòng mộ đạo mầu mè, có tính phô trương.
Một hậu quả khác của giáo điều tương đối luận là tình dục hóa quá mức đang lan tràn thông qua các phương tiện truyền thông đại chúng, trong đó có cả nhồi sọ giới tính cho trẻ con, bao gồm tất cả các loại biến thái tình dục ở mức độ mà tình dục giữa học sinh với học sinh hay giữa giáo viên với học sinh đang ngày cành phổ biến hơn (ví dụ, nhồi sọ tình dục và ma túy ở Boulder, Colorado, học sinh cấp III, năm 2007, có điểm hiệu chỉnh 160). Kẻ thù của nước Mỹ nắm bắt ngay được những hiện tượng này, chúng coi nước Mỹ là suy đồi và đáng bị tiêu diệt. Nước Mỹ đã nhường nền tảng đạo đức cao của mình cho kẻ thù, đấy là những hành động bạo lực được công bố rộng rãi (băng đảng đánh đập phụ nữ), những người nổi tiếng trong lĩnh vực giải trí có thái độ khiêu khích về tình dục, xả súng ở trường học và sự suy giảm đạo đức hoặc suy giảm tính trung thực được ủng hộ về mặt chính trị. Trên Internet tràn lan những những biểu hiện của tình dục và những lời tục tĩu thô thiển, ngay cả trên những trang thương mại.
Bế tắc về mặt hiến pháp
Công nhận tối thiểu dành cho sự kiện là Hiến pháp (điểm hiệu chỉnh 700), Tuyên ngôn Độc lập (điểm hiệu chỉnh 705), và Tuyên ngôn Nhân quyền (điểm hiệu chỉnh 485) của Hoa Kỳ (điểm hiệu chỉnh 700) là do các thành viên Hội Tam điểm tạo ra, đấy là những người theo tự nhiên thần giáo và hữu thần luận (điểm hiệu chỉnh 515) chứ không phải những người theo tôn giáo. Do đó, có sự đảm bảo về tự do khỏi sự áp đặt của chính phủ về tôn giáo (thần quyền) cũng như quyền tự do thực hành tôn giáo. Những người Thanh giáo đầu tiên lập ra nước Mỹ tìm kiếm tự do khỏi bị truy tố và tự do thực hành tôn giáo (Napolitano, 2006). Sự suy giảm mang tính lịch sử trong việc giải thích Tuyên ngôn Nhân quyền và Hiến pháp Hoa Kỳ được mô tả trong chi tiết trong tác phẩm Men in Black (Levin, 2005).
Sự yếu kém của những lời giải thích xuất phát từ việc người ta không hiểu rõ cụm từ “thành lập một tôn giáo” có nghĩa là gì. Rõ ràng là, chỉ nói đến từ “Chúa” không có nghĩa là “thành lập một tôn giáo”. Chính phủ Hoa Kỳ thực sự đã nêu chi tiết, về mặt pháp lý, các yêu cầu về thành lập một tôn giáo, và Sở Thuế vụ đưa ra mô tả khá dài về các thành phần cần thiết (mười bốn tiêu chí chính) để được công nhận là tôn giáo. Nếu chỉ khẳng định niềm tin vào thực tại của Chúa hoặc trang trí trong ngày lễ là đủ để “thành lập một tôn giáo”, thì 92% người Mỹ có thể trở thành những người được miễn thuế.
Nhiên liệu của xung đột xã hội: “Sáng tạo luận đối đầu với chủ nghĩa thế tục”
Sự bế tắc của phiên tòa Scopes vẫn còn nằm trong mỗi chúng ta, trong trang phục mới như “Thiết kế thông minh đối đầu với thuyết Darwin”. Mặc dù Thiết kế Thông minh dường như tương đối vô hại, như là sự thỏa hiệp rằng nó không cho rằng có một vị thần, tuy nhiên nó vẫn được những người theo thuyết thế tục coi là mối đe dọa, dựa trên tiền đề không chắc chắn rằng nó có thể là một “cái dốc” mà Chúa có thể lén lút bước vào qua một vết nứt ở cửa sau. Cũng bằng lý luận như thế, phải lên án chính khoa học vì chủ nghĩa thế tục của nó mà tiền đề chính trị cũng có thể lọt vào qua cửa sau. Ngược đời là, chính khoa học lại là hình ảnh thu nhỏ của công trình nghiên cứu và mô tả chi tiết về thiết kế nhưng dường như không thể nhận ra trí thông minh bẩm sinh nội tại của quá trình tiến hóa của sinh vật. (Lý thuyết của Darwin được kiểm tra một cách có phê phán bằng tinh thần hài hước trong Darwinian Fairytales của David Stove [2006]).
Nói ngắn, khoa học đã ghi nhận rằng, cái gì hiệu quả thì sẽ tồn tại, và cái gì không hiệu quả thì không thể truyền bá được. Cho đến nay, khoa học không đánh giá cao tiền đề cơ bản của chính ý thức và do đó, không thể xác định được trường năng lượng vốn là môi trường để trí thông minh tiến hóa. Cho dù thiên nhiên tiến hóa một cách ngẫu nhiên, thiết kế được thể hiện bằng chính cấu trúc của ADN. Có thể giả định rằng học một cách ngẫu nhiên vì tò mò/tìm kiếm là tầng cơ bản nhất của trí thông minh, theo nghĩa là dữ liệu hữu ích đó được thu thập trong tầng sinh học tuyến tính có ích và được tổ chức một cách từ từ.
Như đã nhận xét, chính khoa học là sản phẩm và là một ví dụ về Thiết kế Thông minh thông qua việc sắp xếp những dữ liệu đã được tích lũy (trí thông minh) nhằm xác định trật tự bên trong. Nếu chỉ có “may mắn mù quáng” tham gia vào quá trình khám phá khoa học, thì nó vẫn cần trí thông minh để có thể nhận ra giá trị của khám phá đó. Thậm chí cái gọi là hệ thống máy tính trí tuệ nhân tạo hoạt động thông qua thiết kế nhằm khám phá những thiết kế mới, thì đấy vốn là bản chất của quá trình nghiên cứu.
Tuyên truyền vụ xung đột Scopes
Từ công trình nghiên cứu trước đây về bản chất cơ bản của chính bản ngã của con người (xem Hawkins, 2005), chúng ta thấy rõ ràng là nguồn gốc bản năng của cơ chế của bản ngã đều dựa trên sự hài lòng và thỏa mãn nhu cầu và ước muốn sinh tồn. Từ nguồn gốc động vật, động lực mang tính bản năng vẫn thống trị các tầng ý thức của khoảng 85% người dân trên thế giới. Kết quả là, động lực chính của phần lớn người dân trong xã hội là giành được và chiến thắng chứ không phải là xác định sự thật có thể khẳng định được. Ví dụ, 75% những bài diễn văn chính trị hiện nay được truyền trên các phương tiện truyền thông đại chúng có điểm hiệu chỉnh dưới 200 (tháng 11 năm 2007).
Mặc dù cả hai bên trong cuộc tranh luận đều dễ dàng giải quyết các vụ xung đột, nhưng người ta không chấp nhận vì những lợi ích thâm căn cố đế và lợi ích ích kỷ của tranh chấp được các phương tiện truyền thông nống lên. Như vậy là, các định vị bị chính trị hóa thường là minh bạch và sử dụng những luận cứ ngớ ngẩn để mỗi bên trình bày sai quan điểm của bên kia (ngụy biện “người rơm[7]”). Quan điểm sai lầm lôi kéo được nhiều người chú ý (ví dụ, “The Holocaust chưa bao giờ xảy ra” và “Mỹ tạo ra vụ 11/9”) và được giới truyền thông công nhận. Người chiến thắng trong hình thức quảng cáo thổi phồng sai lầm này là đoạn video quảng cáo General Petraeus/“General Betray Us” trên MoveOn.org, đoạn quảng cáo trên tờ New York Times (tháng 9 năm 2007) qua đó tổ chức chính trị mới xuất hiện đã tự bắn vào chân mình và cũng chứng minh nhận định rằng tờ New York Times đã thực sự trở thành người ủng hộ sự nghiệp của cánh tả (chiết khấu quá lớn dành cho nhà quảng cáo được ưa chuộng). Chính quảng cáo có điểm hiệu chỉnh ở tầng 90.
Hoạt động của bản ngã của con người cũng có thể được gọi một cách bi quan là “thiết kế kém thông minh”, ở chỗ, những người không học hỏi được gì từ lịch sử chắc chắn sẽ lặp lại các sai lầm xưa cũ. Như đã nhận xét bên trên, con người đánh nhau trong 93% thời gian của lịch sử thành văn và có thể dễ dàng nhận thấy rằng hòa giải hay thỏa hiệp bị người ta hiểu sai thành thất bại và do đó, chống lại bằng mọi giá. Những tên độc tài ác độc lúc đầu được ca ngợi như những người giải phóng vĩ đại và được phong thánh, rồi những nhà lãnh đạo này bắt đầu tàn sát đồng bào của mình. Mãi sau này người ta mới công nhận họ là bọn người điên (Cohen, 2007).
Thỏa hiệp và giải quyết
Dựa trên những đảm bảo của Hiến pháp Hoa Kỳ và Tuyên ngôn Nhân quyền, có thể cho rằng vì có ngôn luận tự do, giáo dục công cộng sẽ bao gồm những mô tả về sự sáng tạo cũng như sự tiến hóa như là những giả thuyết thay thế đáng tin cậy. Ví dụ, việc trẻ con không được dạy về tác động của các thuộc địa theo tôn giáo và vị trí của những khu vực này trong lịch sử nước Mỹ sẽ ngăn chặn, không cho người ta kiến thức thông thạo về chính nền tảng của xã hội Mỹ (ví dụ, cuộc tìm kiếm tự do tôn giáo của người Tin lành). Tương tự như thế, bỏ bê giáo dục khoa học sẽ dẫn đến vô minh trên diện rộng, như các chế độ thần quyền toàn trị Hồi giáo đã cho thấy, ở những nước này giáo dục chỉ là để ghi nhớ kinh thánh duy nhất (kinh Koran) và không có gì khác, ngoại trừ lòng căm thù thông qua tác phẩm The Protocols of theLearned Elders of Zion (điểm hiệu chỉnh 90) hoặc phim hoạt hình Mickey Mouse giả mạo.
Tự do được thể hiện qua việc đưa ra các lựa chọn thay thế chứ không đàn áp những quan điểm khác, đó là đặc điểm của giới hàn lâm trong giai đoạn hiện nay (ví dụ, bạo loạn ở trường đại học). Do đó, chủ nghĩa thế tục có tính đàn áp, được thể hiện bằng điểm hiệu chỉnh ý thức thấp, chỉ có 165 điểm. Trong quá khứ, đàn áp là đốt sách và xét lại lịch sử như các chế độ toàn trị và những hệ tư tưởng đã bị chính trị hóa cho thấy (cảnh sát ngôn ngữ, chủng tộc và giới tính, v.v. [Ravitch, 2003]). Tự do và chính trực là tôn trọng lẫn nhau, kèm thêm thái độ dung nhẫn.
Phân cực chính trị/xã hội
Bên trong chất nền bị che giấu của đối thoại xã hội là phân cực Âm/Dương theo hệ hình giới tính vô thức của nguyên tắc nam và nữ. Chế độ nhân tài trị là nguyên tắc nam tính, theo đó, có thành tích thì được khen thưởng, vì phải có nỗ lực và kỷ luật tự giác cộng với làm việc chăm chỉ và kiên trì theo lối thực dụng thì mới giành được thành tích. Đấy là thể hiện cơ cấu của chủ nghĩa tư bản (Của cải của các quốc gia của Smith, điểm hiệu chỉnh 440), kinh doanh tự do và trách nhiệm cá nhân. Vì vậy, nỗ lực tạo ra kết quả thì được tưởng thưởng. Đây là mô thức nguyên mẫu của chế độ phụ hệ.
Ngược lại là nguyên tắc mẫu hệ/nữ tính, theo đó tất cả các con đều được đối xử bình đẳng, vì chính sự tồn tại của chúng. Vì vậy, nguyên tắc của mẹ ngụ ý nghĩa vụ cung cấp nhằm đáp ứng nhu cầu của tất cả mọi người, không phân biệt thành tích.
Từ nguyên tắc của mẹ, nhu cầu có thể tăng lên nhanh chóng và được khái niệm hóa như là những quyền cơ bản phải được cung cấp để có thể sinh tồn. Do đó, chủ nghĩa xã hội, nhà nước phúc lợi và những hình thức khác nhau của chủ nghĩa tập thể là biểu hiện về mặt chính trị của nguyên mẫu và chức năng nữ tính/mẫu hệ. Ngược lại, chủ nghĩa tư bản kinh doanh tự do đại diện cho mô thức nam tính.
Từ quan điểm nam tính đã bị phân cực, nguyên tắc nữ tính bị coi là có khả năng làm cho người ta yếu đi, dẫn đến phụ thuộc (nhà nước phúc lợi), mất quyền tự chủ và không còn động lực và tham vọng. Quan điểm này chỉ vào những thất bại của những xã hội theo chủ nghĩa tập thể và tình trạng nghèo đói tràn lan trong những xã hội này. (Nước Trung Quốc của Mao làm cho 30 triệu người chết đói, hiện nay Bắc Triều Tiên đang lặp lại thí nghiệm này). Tuy nhiên, nhược điểm của chế độ nhân tài trị khắt khe thường dẫn đến chênh lệch về kinh tế và xã hội giữa các tầng lớp khác nhau trong xã hội. Sự khác biệt lớn lại dẫn đến vấn đề xác định chính xác trách nhiệm đạo đức của xã hội đối với nhiều phân khúc xã hội khác nhau.
Ở Mỹ, cả hai nguyên tắc này đều hoạt động khá mạnh. Nền kinh tế tư bản chủ nghĩa có năng suất cao tạo ra đủ của cải để hỗ trợ mọi người, ít nhất là ở mức đủ sống. Kinh doanh tạo ra những tài sản lớn, rồi thông qua thuế khóa, mang lại nguồn lực to lớn của chính phủ để hỗ trợ những thứ cơ bản của đời sống và sự sống còn cho toàn dân. Như vậy là, giải pháp thực tế là để có trải nghiệm sáng suốt và áp dụng cả những nguyên tác nam tính/gia trưởng và nữ tính/mẫu hệ.
Thảo luận và đàm phán chính trị là để giải quyết một cách thực tế các vấn đề làm sao xác định được điểm cân bằng đạo đức đúng đắn khi áp dụng theo lối thực dụng công bằng và hợp pháp. Công bằng và hợp pháp lại có những tiêu chuẩn luân lý/đạo đức giữ thế thượng phong và là nguyên lý trái ngược nhau. Mô thức “nam tính” bị chỉ trích vì có xu hướng thống trị và bá quyền, còn “nữ tính” thì bị coi là nuông chiều và quá dễ dãi. Đối thoại xã hội phản ánh sự tương tác của hai nguyên lý (Âm và Dương) khi mỗi nguyên lý đều tìm cách tranh giành quyền thống trị.
Thật và giả
Như đã chứng minh bằng công trình nghiên cứu ý thức và đã nói bên trên, tâm trí con người, nếu không có sự trợ giúp, thì về bản chất, nó không có khả năng phân biệt bản chất (sự thật) với biểu hiện bên ngoài (tri giác hay vọng tưởng). Vì vậy, lừa dối là công cụ chính của những con sói đội lốt cừu nhằm làm cho công chúng lầm đường lạc lối. Thường được thực hiện một cách đơn giản là dùng nhãn mác giả hoặc tước vị giả. Chúng ta có thể thấy rằng “tiến bộ”theo thế tục thực ra là “thoái lui” ở chỗ nó đòi thay thế xã hội “bảo thủ” có điểm hiệu chỉnh bên trên tầng 450 (ví dụ, Traditional America của Gingrich) bằng chủ nghĩa tự do, với điểm hiệu chỉnh ở tầng 160 đến 180 (chủ nghĩa khoái lạc vô thần), cho nên có thể nói về sự sụp đổ của La Mã qua học thuyết của Marcuse chứ không phải của Caligula. (Nước Mỹ “dòng chính” có điểm hiệu chỉnh chủ yếu nằm trong những tầng 300 - công bằng, thiện chí và trung thực). Tương tự như thế, thái độ hân hoan của khủng bố Hồi giáo (điểm hiệu chỉnh 90) nấp đằng sau khẩu hiệu nói rằng Hồi giáo là “tôn giáo của hòa bình”, trong khi đó, trên thực tế, từ thế kỷ VI, nó đã liên tục gây chiến tranh và hiện nay chiến tranh đang diễn ra ở nhiều nước trên khắp thế giới; nó là mối đe dọa thường trực đối với mỗi người trên trái đất này. (Muốn xác nhận, xin hãy đến sân bay ở gần nhà bạn).
Mặc dù hiện nay việc “gọi cái thuổng là cái thuổng” (có điểm hiệu chỉnh 490) không còn hợp thời nữa, nhưng phân biệt thực tại với vọng tưởng hay sự thật với giả dối là yêu cầu thiết yếu, thậm chí chỉ để có thể sống còn về thể chất cũng như sự chính trực về tâm linh. Những mô thức hủy diệt căn bản trong lịch sử nhân loại - như đã được chứng minh đi chứng minh lại - là kết quả của sự đảo ngược thật giả (“Luciferic”). (“Con sói đội lốt cừu” có điểm hiệu chỉnh đáng ngại là 120). Người được quảng cáo là “Anh hùng giải phóng” che giấu nhà độc tài toàn trị, độc ác, ái kỷ, sau đó sẽ biến dân chúng thành nô lệ. Tương tự như thế, “giải phóng” khỏi sự ràng buộc luân lý, đạo đức hay lý trí sẽ dẫn đến tình trạng hỗn loạn và nô lệ vào chủ nghĩa khoái lạc, những “hot girl” ở Hollywood, trác táng, chọi chó (điểm hiệu chỉnh 50) và chứng nghiện do ham muốn xác thịt không thể kiềm chế được (ví dụ, sự sụp đổ của La Mã). Vứt bỏ Mười Điều Răn và đồng thời đắm chìm vào Bảy Đại Tội[8] sẽ gây ra những hậu quả thảm khốc. Sức quyến rũ bởi con rắn của Vườn Địa Đàng luôn luôn có đó.
Không có gì tàn phá một cách bí mật hơn là gạt bỏ thiện và ác, coi đấy “chỉ là nhãn hiệu”, vì chỉ cần dùng kỹ thuật đơn giản là hiệu chính ý thức là sẽ phát hiện ngay được sự khác biệt, giúp phân biệt được biểu hiện bên ngoài hay tên gọi với bản chất và sự thật. Tâm trí con người, nếu không có trợ giúp, thì không thể phân biệt được thật giả, vì thế mà tương đối luận mới có vẻ ngoài quyến rũ như thế. Về cơ bản, đây là mấu chốt của tình trạng tiến thoái lưỡng nan của con người, do đó bị lừa dối là tình trạng phổ biến. Hạn chế cố hữu này là lý do vì sao con người cần sự thật tâm linh, coi đấy là người cứu chuộc, như các thánh thần giáng thế và các đại giác giả - Đức Phật, Chúa Jesus, Krishna, Zoroaster, Socrates và nhiều người khác đã được liệt kê bên trên cùng với tầng sự thật đã được hiệu chỉnh của họ.
Như Samuel Adams viết trong bức thư gửi James Warren vào ngày Ngày 12 tháng 2 năm 1779:
Phá bỏ các nguyên tắc và cách cư xử nói chung sẽ chắc chắn lật đổ các quyền Tự do (liberties) của Mỹ hơn là toàn bộ Sức mạnh của Kẻ thù chung của chúng ta. Khi người dân có đạo đức thì họ sẽ không thể bị khuất phục; nhưng một khi đánh mất đức hạnh, họ sẽ sẵn sàng giao nộp các quyền Tự do của mình cho kẻ xâm phạm đầu tiên, bên ngoài hay bên trong thì cũng thế.(Samuel Adams Papers, Thư viện Lenox, Lenox, MA)
Đối trọng
Từ năm 2004, tầng nhận thức của nhân loại đã giảm từ 207 xuống còn 204. Mỹ giảm từ 426 xuống còn 421, còn nền văn minh phương Tây đang ở tầng 270. Dân chúng hỏi họ có thể làm gì. Từ công trình nghiên cứu, dường như là con người mà người ta trở thành chứ không phải những gì họ “nói”, “làm” hay “có” tạo được ảnh hưởng sâu sắc nhất, vì những điều người ta nói và làm chỉ đơn giản là sự phản ánh những điều họ tin, đã trở thành, và do đó đang là. Vì tầng ý thức là hàm số mũ, sự gia tăng thậm chí một vài điểm cũng tạo được ảnh hưởng mạnh mẽ. Vì vậy, những việc mà người ta có thể “làm” là trở thành người tiến bộ về mặt tâm linh cao nhất mà họ có thể bằng cách hòa điệu với các nguyên tắc tâm linh và Sự thật cao nhất. Như đã nói bên trên, đưa mực nước biển lên, thì tất cả tàu thuyền đều được nâng lên mà không cần cố gắng. Cầu nguyện, thờ phượng và yêu thương cộng với cầu nguyện là giá trị to lớn, không nhìn thấy được đối với toàn thể nhân loại.
[1] Epistemological Relativism - Tương đối luận về nhận thức luận là quan điểm cho rằng kiến thức chỉ có giá trị tương đối đối với một bối cảnh, xã hội, văn hóa hoặc cá nhân cụ thể. Cuộc thảo luận về tương đối luận về nhận thức luận là một trong những cuộc thảo luận cơ bản nhất trong nhận thức luận liên quan đến sự hiểu biết của chúng ta về các khái niệm như 'sự biện minh' và 'lý do chính đáng' - ND.
[2] Eugenics - Thuyết ưu sinh (eugenics) là học thuyết nổi tiếng những năm cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20, được khởi xướng bởi nhà nhân chủng học người Anh Francis Golton vào năm 1883. Thuyết này còn được nhiều chính khách, nguyên thủ quốc gia ủng hộ, trong đó có cả Hitler và đã được phát xít Đức dùng làm công cụ để “rửa sạch giống nòi” tiêu diệt những dân tộc được cho là hạ đẳng. Thực chất của học thuyết này là triệt sản ép buộc nhằm loại bỏ các cá thể khuyết tật như người bị tâm thần, người mù, người điếc, phụ nữ có quan hệ tình dục bừa bãi, người đồng tính hoặc các bộ tộc bị xếp vào giống người “thoái hóa” hoặc “không đủ tiêu chuẩn” để tồn tại. Ngày nay, việc áp dụng thuyết ưu sinh là xâm phạm đời sống riêng tư, xâm phạm nhân quyền và nhiều hệ lụy khác, thậm chí còn bị xếp vào tội diệt chủng - ND.
[3] The Hays Movie Code là bộ hướng dẫn do ngành làm phim tự áp đặt cho tất cả các bộ phim được phát hành từ năm 1934 đến năm 1968. Nó cấm ngôn từ tục tĩu, ảnh khỏa thân có tính khêu gợi, bạo lực bằng hình ảnh hoặc thực tế, thuyết phục làm tình và cưỡng hiếp – ND.
[4] Amygdala là một trong hai nhóm nhân hình quả hạnh nằm sâu trong thùy thái dương, trung gian với vùng dưới đồi và tiếp giáp với đồi thị và sừng dưới (thái dương) của não thất bên - ND.
[5] Đây là cụm từ phản văn hóa được Timothy Leary phổ biến vào năm 1966 trong phong trào hippies. Turn On - là để mô tả kinh nghiệm ảo giác, trở nên nhạy cảm với nhiều cấp độ khác nhau của ý thức và các kích hoạt cụ thể mà họ tham gia. Tune On có nghĩa là tương tác hài hòa với thế giới xung quanh bạn - hãy tiếp xúc, hiện thực hóa, thể hiện quan điểm nội bộ mới của bạn. Drop Out' có nghĩa là sự tự lực, khám phá ra sự kỳ dị của một người, cam kết về sự di chuyển, lựa chọn và thay đổi - ND.
[6] Ivy League là tên gọi của nhóm 8 trường Đại học danh giá hàng đầu nước Mỹ, gồm có Harvard University, Princeton University, Yale University, University of Pennsylvania, Brown University, Columbia University, Dartmouth College, Cornell University - ND.
[7] Lập luận người rơm (straw man) là một dạng ngụy biện phi hình thức (informal fallacy), nó tạo nên ấn tượng rằng đã bác bỏ một lập luận, trong khi trọng tâm thực sự của lập luận đó không được giải quyết mà được thay thế bằng một lập luận sai. Người đưa ra lập luận kiểu này được coi là "tấn công người rơm" (attacking the strawman).
Lập luận người rơm điển hình tạo ra ảo tưởng rằng đã bác bỏ hay đánh bại hoàn toàn luận điểm của đối phương. Cách làm ở đây là thay thế nó [luận điểm của đối phương] bằng một luận điểm khác (tức “dựng lên một người rơm” - stand up a straw man) và bác bỏ luận điểm sai này (“hạ gục người rơm” - knock down a straw man) thay vì bác bỏ chính luận điểm đó. Lập luận người rơm đã được sử dụng xuyên suốt lịch sử trong các cuộc tranh luận, đặc biệt về các chủ đề mang nặng yếu tố cảm xúc - ND.
[8] Bảy Đại tội, theo quan niệm của Kitô, giáo bao gồm kiêu ngạo, lười biếng, tham ăn, đố kỵ, phẫn nộ, tham lam, dâm ô – ND.

%20(9).png)
.png)



0 Comments