banner top | SORE TODAY STRONG TOMORROW

ĐỪNG SỢ

THỰC TẠI, TÂM LINH VÀ CON NGƯỜI HIỆN ĐẠI (2): Chương 1 - Chương 2

 https://phamnguyentruong.blogspot.com/2024/06/thuc-tai-tam-linh-va-con-nguoi-hien-ai-2.html
https://phamnguyentruong.blogspot.com/2024/06/thuc-tai-tam-linh-va-con-nguoi-hien-ai-3.html

CHƯƠNG 1

 


Tổng quan

 

Trong quá khứ, quá trình phát triển trong bất kỳ lĩnh vực hiểu biết quan trọng nào của kiến thức con người đều rất lý thú và được tưởng thưởng vì nó cho con người biết kiến thức hình thành như thế nào và tạo ra động lực. Đặc điểm bẩm sinh của tính ham hiểu biết là không bao giờ thỏa mãn được, vốn là bản chất của quá trình tiến hóa của sinh vật và nhân loại, nó cung cấp năng lượng cho nghiên cứu tìm tòi. 

Tất cả các sinh vật sống đều luôn luôn tận tụy với nghiên cứu, điều tra và phát hiện, thu thập và lưu trữ dữ liệu. Đấy là cốt lõi của đời sống động vật, vì đời sống động vật bẩm sinh là không có nguồn cung cấp năng lượng ở bên trong, nó phải nhận năng lượng từ môi trường và nguồn cung cấp từ bên ngoài. Đến lượt mình, nó đòi hỏi phải liên tục thám hiểm nhằm xác định và phân loại những nguồn năng lượng sẵn có. Vì vậy, học tập (hiểu biết) là nhu cầu bẩm sinh để sống còn. Thủ đắc thông tin tuân theo các chương trình sinh học đã được cài đặt, nó được gắn sẵn trong cơ cấu và chức năng (thiết kế) của chính cơ thể sinh vật. Năng lực này gia tăng trên cây tiến hóa cùng với tầng ý thức được hiệu chỉnh. 

Khi kiểm tra, làn sóng tiến hóa nguyên thủy nằm trong chất nền của tất cả nhận thức và trí thông minh, được gọi một cách tổng quát là “ý thức”, nó là trường năng lượng phi tuyến tính, không có hình tướng, vô hạn, vô biên vô tế, mang tính phổ quát và bao gồm tất cả các khía cạnh của sáng tạo và vũ trụ (không được nhầm lẫn với thuật ngữ phân tâm học về “vô thức” của Freud, Jung, và các cộng sự). Một trong những phẩm chất độc đáo của ý thức là nhận thức, nhờ đó phát sinh khả năng có một không hai là “biết”. Không có nhận thức, người ta vẫn tồn tại, nhưng ngược đời là, không “biết” rằng mình đang tồn tại. 

Kỳ lạ là, phải đến mãi gần đây nhân loại mới thực sự nhận thức được chính trường ý thức hoặc vai trò quan trọng của nó. Trong quá khứ, chỉ có những giác giả vĩ đại hay các thánh thần giáng thế mới nói đến chất nền cơ bản của thực tại, nó chính là bối cảnh tối thượng của tất cả trải nghiệm (ví dụ, “Đại ngã”; “Phật tính”). Mặc dù triết học và tâm lý học đã khảo sát nội dung tâm trí của ý thức (“tâm trí”), người ta đã không nói tới chất nền cơ bản của tâm trí (ý thức/nhận thức), nhờ đó mà quá trình tư duy có thể được được nhận thức và trải nghiệm theo lối chủ quan. 

Vì trường năng lượng của ý thức là vô hình tướng và phi tuyến tính, trước đây nó không được người ta công nhận là quan trọng, cần nghiên cứu hay thậm chí là nhắc đến, trừ các giác giả đã chứng ngộ trong những giai đoạn khác nhau. Tuy nhiên, trong mấy thập kỷ gần đây, đã có bước đột phá lớn trong lĩnh vực khoa học, đấy là Nguyên lý Bất định Heisenberg. Nguyên lý này nói rằng, chỉ cần quan sát là đã làm kết quả của thí nghiệm thay đổi rồi (làm sụp đổ hàm sóng, từ tiềm năng trở thành hiện thực), và do đó, đây là lần đầu tiên, chính ý thức cũng như ý định, đã đi vào lý thuyết và thảo luận khoa học. (Xem Stapp, 2007). 

Trí thông minh

 Trí thông minh bao gồm khả năng trừu tượng hóa và tổ chức thành lớp lang, định nghĩa và phân tầng ý nghĩa cốt lõi và hoạt động. Những khả năng này sau đó được tiếp tục làm rõ bằng cách chia tách thông qua ý nghĩ hoặc tư duy (ngữ nghĩa). Những thuật ngữ sau là nói tới nội dung của trí thông minh, nó còn gắn bó chặt chẽ với và là hậu quả của sự hiện diện của trường ý thức rộng lớn hơn. Lưu ý rằng, cả trí thông minh lẫn ý thức đều là vô hình tướng. Trí thông minh bao gồm khả năng rút ra thiết kế, ý nghĩa, và giá trị trong hàm ý có tính trừu tượng. Năng lực trí tuệ có thể được xác định được cùng với một loạt các khả năng thể hiện bằng chỉ số thông minh (IQ). 

Khác với IQ là khả năng tương đối cố định, tồn tại suốt đời; tầng ý thức của cá nhân, có thể được hiệu chỉnh ngay từ khi mới chào đời, có thể tăng lên thậm chí đến tầng rất cao, đấy là kết quả của những hoàn cảnh thuận lợi, chẳng hạn như ảnh hưởng của vị thầy tâm linh/tôn giáo, động lực, giáo dục tâm linh, và tiếp xúc với mỹ thuật từ sớm. Về mặt sinh học, những yếu tố này cũng ảnh hưởng đến chức năng não và sự thống trị của một bán cầu, cũng như các mô thức kết nối thần kinh và phản ứng hóa học của não bộ thông qua chất dẫn truyền thần kinh và dẫn truyền ở vai (humeral transmitters). Vì vậy, trong khi IQ có thể nói đến năng lực trí tuệ, sự thăng tiến của chính tầng ý thức có thể làm lu mờ vai quan trọng của nó, tầng ý thức phản ánh thiên hướng di truyền, ý định mang tính ý chí và lựa chọn. 

Như Đức Phật đã chỉ ra, được sinh ra làm người là may mắn, vì vương quốc của con người cung cấp những cơ hội gần như vô giới hạn để con người trưởng thành và phát triển tầng ý thức và nhận thức tâm linh phù hợp. Các nguyên tắc về “nghiệp” (số phận tâm linh) mà mọi người đều biết, bao gồm nhận thức rằng vương quốc của con người cung cấp cho người ta cơ hội tối đa để hành thiện và tiêu trừ ác nghiệp. 

Mặc dù không cần phải tin vào “nghiệp”, không cần coi nó như là giáo điều, toàn thể loài người, trong mọi thời đại, đã nhận thức được số phận của linh hồn, như là nền tảng tinh thần của đời sống và tồn tại. Số phận của linh hồn là tiêu điểm của tất cả những nền văn minh vĩ đại như Ai Cập cổ đại, rất lâu trước khi Đức Phật, Krishna, Zoroaster hay Jesus Christ ra đời. 

Thậm chí 10.000 năm trước Công nguyên, ở Ai Cập cổ đại, “Ka” hay linh hồn đã được miêu tả là rời khỏi cơ thể đúng vào lúc cơ thể vật lý chết. Lúc đó Osiris, vị thần của Địa ngục, cân trái tim của người đó trên Cái cân Sự thật. Nếu nó nghiêng về sự thật, nó sẽ lên thiên đàng, nhưng nếu nó nghiêng về phía dối trá, nó sẽ đi đến những tầng địa ngục thấp hơn. Sự thừa kế tâm linh mang tính tập thể của nhân loại (nghiệp) và số phận của nó cũng được nói rõ trong sách Sáng Thế Ký, đấy là kết quả việc rời khỏi thiên đàng, nguyên thủy, phi tuyến tính, (Vườn Địa Đàng), rơi vào khuynh hướng giả dối, sau đó là rơi vào ý thức nhị nguyên và tuyến tính (sự phân đôi thiện và ác). 

Có thể dễ dàng ghi lại và thể hiện bằng biểu đồ tầng tổng thể của ý thức của đời sống, nó đã tiến triển một cách từ từ qua các thời đại, được thể hiện bằng quá trình tiến hóa của vương quốc động vật (xem Chương 4). Tương tự như thế, tầng ý thức của quá trình tiến hóa của nhân loại cũng cho thấy cùng một kiều tiến hóa như thế theo thời gian. 

Vào thời Đức Phật đản sinh, ý thức của nhân loại có điểm hiệu chỉnh 90. Tầng ý thức tập thể của nhân loại vươn tới 100 điểm khi Chúa Jesus Christ giáng sinh và tăng một cách chậm chạp lên 190 điểm, và giữ nguyên ở đây trong suốt nhiều thế kỉ. Chỉ đến cuối những năm 1980 nó mới đột ngột tăng từ 190 lên cao hơn tầng tới hạn 200, để lên 204, và sau đó vươn lên 207. Sau đó, năm 2007, nó lại giảm xuống còn 204. 

Hiện nay, khoảng 85% người dân trên thế giới có điểm hiệu chỉnh nằm bên dưới tầng tới hạn 200. Ở Hoa Kỳ, 55% dân số nằm dưới tầng 200, con số này rất có ý nghĩa, vì vào năm 2005, chỉ có 49% nằm dưới tầng này mà thôi. Sự tiêu cực tập thể của dân chúng có điểm hiệu chỉnh dưới tầng 200 được cân bằng bởi thiểu số những người có điểm hiệu chỉnh trên 200; những người này có sức mạnh bên trong tích cực lớn hơn rất nhiều lần lực hút tiêu cực của đám đông dưới 200. Sức mạnh bên trong gia tăng theo hàm số mũ; do đó, thực sự chỉ cần rất ít người có tầng ý thức cực kỳ cao là đủ để đối trọng với sự tiêu cực của phần còn lại của nhân loại. 

Phân bố tầng ý thức của nhân loại

 

 


 

  

Đáng quan tâm và rất quan trọng là việc phân bố tầng ý thức của dân chúng trên hành tinh là không đồng đều. Có sự khác biệt rất lớn giữa các nền văn hóa và dân chúng; nó là cơ sở của những xung đột, được thể hiện thường xuyên trong những căng thẳng giữa các chủng tộc và giữa các nước; và chiến tranh thì được gọi là “sự xung đột giữa các nền văn minh” (ví dụ, Washington, DC, có điểm hiệu chỉnh 424; ngược lại, Baghdad có điểm hiệu chỉnh 160). 

Tầng ý thức là nguồn gốc của những vụ xung đột của nhân loại 

Mỗi tầng ý thức đại diện cho một trường năng lượng đang giữ thế thượng phong, như là hệ quả của “trường điểm hút” phù hợp với nó, tương tự như từ trường hoặc trường hấp dẫn. Những trường này có sức mạnh và ưu thế ngày càng gia tăng và phản ánh sự phân cực. Trường năng lượng bên trên tầng ý thức 200 thu hút và phát phóng những thứ tích cực (chân thực, yêu thương và duy trì sự sống) và đẩy lùi những thứ tiêu cực, trong khi những tầng bên dưới 200 thu hút những thứ tiêu cực, dối trá và phá hoại (ví dụ, lòng căm thù) và đẩy lùi những thứ tích cực. Những trường vô hình này trước đây chưa xác định được, chưa nhận dạng được, chúng lan tràn khắp nơi, giữ thế thượng phong và ảnh hưởng đến mọi quyết định, hành vi, tri giác, văn hóa, tôn giáo và khả năng hiểu biết, cũng như phạm vi của khả năng cảm xúc của con người. 

Về mặt xã hội, các cá nhân bị hút về phía những người có cùng tầng ý thức với mình, có thể dễ dàng thấy các tiểu văn hóa khác nhau, từ các nhóm bạo lực hay tội phạm đến những nhóm có tính hỗ trợ, định hướng tâm linh và nhân từ. Mỗi nhóm có logo, ngôn ngữ và phương thức tư duy riêng. Mỗi nhóm cũng có phân tầng chính trị và quan niệm riêng về đạo đức và ứng xử xã hội. Như có thể dễ dàng nhận thấy, những nhóm người này thường xuyên chống đối lẫn nhau và dẫn đến những cuộc chiến tranh bất tận trong lĩnh vực văn hóa và quân sự. 

Ở những tầng ý thức thấp nhất, đời sống không còn giá trị và giết người, tự sát, giết người hàng loạt, giết trẻ em, chọi chó và diệt chủng là đặc điểm thường gặp vì lòng hận thù là thái độ đặc hữu của họ (ví dụ, “Chúng tôi tôn thờ cái chết”, điểm hiệu chỉnh của tầng ý thức này là 20). Ngược lại, ở tầng ý thức trên 200, đời sống được coi là quý giá, và do đó, giết người vô tội là không thể tưởng tượng được, vì đời sống được coi là món quà Thiêng liêng. (Đời sống thực sự là món quà Thiêng liêng có điểm hiệu chỉnh 1.000). 

Hiển nhiên là, mỗi tầng ý thức của con người có một “thực tại” bẩm sinh của riêng nó và xung đột giữa các dân tộc và nền văn hóa hoàn toàn trái ngược nhau là không thể tránh được. Điều mà nhóm người này ca ngợi thì lại bị đám người khác chế diễu. Ví dụ, trung thực là đức tính tốt hay nó là biểu hiện của sự ngu ngốc và yếu đuối ngớ ngẩn? Phụ nữ phải bị đánh giá thấp và ném đá cho đến chết hay cần vinh danh? Cần phải vô hiệu hóa những người có đức tin khác mình và giết chết, hay ta nên hiểu họ? Cần lên án hay tha thứ cho những hành động tàn ác? Trung thực và đạo đức có phải là lực lượng bảo vệ sự ổn định xã hội được xây dựng trên cơ sở thực tế hay chỉ đơn giản là “những khái niệm ngữ nghĩa có tính đàn áp về chính trị”? Sự thật có phải là tuyệt đối (bản chất) hay nó là tùy tiện và chỉ là phản ánh có tính tương đối của dư luận nhất thời (vẻ ngoài, tri giác), chỉ thể hiện những thành kiến xã hội mà thôi? 

Sự phân đôi nghiêm trọng nhất phát sinh từ việc lật ngược thật giả ở những tầng ý thức dưới 200. Do đó, trong thế giới ngày nay đang diễn ra sự đối đầu đầy kịch tính giữa những thái cực này, trong đó những nền văn hóa dựa trên đức tin hiện có điểm hiệu chỉnh thấp nhất là 20 (Nguyên thủy, Thánh chiến) đe dọa toàn bộ thế giới bằng vũ khí hạt nhân. Trong các dân tộc và đất nước văn minh, tính duy lý và thái độ kiềm chế là kỳ vọng đặc thù, nhưng ở tầng ý thức thấp nhất thì những phẩm chất này lại bị chế giễu, bị coi là khiếm khuyết, chính những người này lại dễ mắc chứng bài ngoại, hoang tưởng, ảo tưởng và bạo lực tràn lan là do lòng hận thù thúc đẩy. 

Trong suốt chiều dài của lịch sử, những mô thức tương tự tái diễn không chỉ giữa các cá nhân mà còn giữa các giai cấp, quốc gia, nền văn hóa và tôn giáo; tức là giữa những người tìm cách ma quỷ hóa những các quan điểm khác mình. Như vậy là, thực ra là có hai nền văn hóa phân cực, rất khác nhau, hoàn toàn trái ngược nhau: những người ở trên và những người ở dưới tầng ý thức 200, và mỗi bên đều coi bên kia là kẻ thù. 

Như sẽ được trình bày trong phần sau, xung đột giữa hai nền văn minh đối lập nhau không chỉ xuất phát từ hệ tư tưởng mà còn trong hoạt động sinh học, chức năng não của những người này hoạt động khác nhau, trong đó, sinh lý não bị chi phối bởi các bán cầu và chất dẫn truyền thần kinh khác nhau (Chương 4). Do đó, sự khác biệt về kết quả không chỉ xảy ra trong lĩnh vực xã hội, tôn giáo, chính trị và văn hóa mà còn xảy ra trong lĩnh vực sinh học, nội tiết tố và hóa học thần kinh. Cội nguồn cơ bản của sự phân đôi này xuất phát từ quá trình tiến hóa và do đó diễn ra từ xa xưa, và là đặc hữu của giống người. Vì vậy, nó là vốn có và bẩm sinh của loài hominids/chi Homo sapiens. 

Giải pháp

 Chấp nhận sự khác biệt giữa các loài hominids vừa được trình bày tạo điều kiện cho chúng ta buông bỏ thái độ phủ nhận và tư duy lý tưởng hóa, cũng như những ý thức hệ về xã hội/chính trị ngây thơ. Không có lựa chọn thay thế nào trong những ý thức hệ này mang lại giải pháp mà chỉ mang lại những khoảng lặng tạm thời trong lịch sử nhân loại, trong lúc hai bên lùi lại nhằm giành được thế thượng phong trong vụ đối đầu tiếp theo. “Tử tế” dường như là bình thường đối với những người có điểm hiệu chỉnh trên 200, nhưng đối với những người có điểm hiệu chính dưới 200, nó được coi là khiếm khuyết đáng khinh, đồng thời, là sự xúc phạm và do đó không thể có giao tiếp hiệu quả. Những vụ đụng độ tương tự đã xảy ra trong nội bộ các tiểu văn hóa mang tính tôn giáo cũng như thế tục. 

Chỉ thông qua trí tuệ, chấp nhận và từ bi mới có thể có hiểu biết, hiểu biết mang đến sự nhẫn nại và cách đối xử có tính thực tế trước những thế giới quan và giá trị rất khác nhau này. Tấn công và xúc phạm là kết quả của việc không hiểu được những thế giới quan, cách nghĩ, và thực tế xung đột nhau đang giữ thế thượng phong vừa nói. 

Trở ngại đối với quá trình giao tiếp hiệu quả là kỳ vọng làm thay đổi quan điểm của người khác cho phù hợp với quan điểm của mình bằng cách gây chiến, đe dọa, “cải tạo”, ban hành luật pháp, truyền bá lý tưởng, truyền bá giáo điều, tuyên truyền, hay “tha thứ” bằng cách “lập trình lại”. Khiếm khuyết của mơ mộng là nó không đánh giá được hạn chế lớn của hiểu biết, đấy là hậu quả của các tầng ý thức thấp hơn, rất khó, nếu không muốn nói là không thể dạy cơ học lượng tử nâng cao cho những người có trình độ học vấn và trí tuệ hạn chế. Khó khăn trước các đề xuất nhằm thúc đẩy mục tiêu xã hội lý tưởng bằng cách “chuyển hóa văn hóa” là mỗi tầng ý thức đều có quan điểm khác nhau về cái gì là “thực” hay có tầm quan trọng hoặc giá trị hàng đầu. Vì vậy, có nền văn hóa coi hòa bình và chấp nhận là dấu hiệu của sự yếu đuối chứ không phải là mục tiêu đáng mong muốn. 

Thông qua nghiên cứu, hiện nay có thể nhanh chóng xác định được tầng ý thức của những nhóm người, nền văn hóa, con người và đất nước cũng như chính trị, tôn giáo, và cơ cấu của chính phủ. Do đó, chỉ lúc đó nó mới trở thành khoa học ngoại giao có thể cung cấp nền tảng có ý nghĩa đảm bảo rằng đối thoại là có hiệu quả ( “Khoa học về Ngoại giao” trong Truth vs. Falsehood). Những điều vừa trình bày có tính đến việc xem xét bản chất của bản ngã, đặc điểm đầu tiên của nó chỉ là mong muốn giành được lơi ích. Mỗi tầng ý thức có những giá trị riêng, trong đó có những cái nó coi là đáng mong muốn hoặc lợi ích và do đó là quan trọng để đàm phán. “Hòa bình” là khẩu hiệu chính trị được ưa chuộng, nhưng có người nói rằng tiền bán dầu thực sự là có sức thuyết phục trong thế giới của thực tại kinh tế xã hội/chính trị, ví dụ, “Tiền quan trọng hơn hòa bình” (điểm hiệu chỉnh 365; Bush, 2007). 

Bản ngã bám lấy lợi ích như là động lực chính trong tất cả các ý định, mục tiêu và hành động. Cùng với sự tiến hóa tâm linh, người ta rời bỏ những thứ này, để giành được lợi ích cao hơn mà người ta tri giác được. Ngay cả khi có ý định và dâng hiến mạnh mẽ, quá trình thăng tiến của nhân loại cũng diễn ra chậm chạp và khó khăn. Do đó, kiên nhẫn là điều kiện tiên quyết để có nhận thức từ bi, vì nhịp độ tiến hóa của con nhân loại thăng giáng bất thường (ví dụ, sự suy giảm tầng ý thức của nhân loại từ 207 xuống còn 204 trong những năm gần đây). 

Chấp nhận rằng xung đột và chênh lệch là hiện tượng bẩm sinh của số phận của con người (ví dụ, Cain đối đầu với Abel), ngược đời là, lại mang lại cho người ta cảm giác nhẹ nhõm ở bên trong, giúp thoát khỏi mặc cảm tội lỗi. Đời sống của con người cung cấp cho chúng ta những cơ hội tối đa cho quá trình tiến hóa tâm linh. Tuy nhiên, tri giác nhìn thấy những xung đột mang tính cá nhân, cũng như xunng đột xã hội/chính trị/lý tưởng, nó coi đấy là trở ngại cho hòa bình và hạnh phúc. Ngược lại, Đại ngã tâm linh nhìn thấy sự hoàn hảo trong chính cái thế giới này. 

Dù cuộc đời con người là đáng sợ hay là làm cho ngươi ra chán nản, hay thú vị và đầy thách thức, thì nó cũng là lựa chọn đặc trưng cho điểm tựa trong quá trình tiến hóa tâm linh. “Lên đường cao tốc” là một lời mời gọi từ Đại ngã tâm linh dành cho bản ngã/tự ngã. Tuy nhiên, xung đột của con người, cả bên trong lẫn bên ngoài, đều có giá trị như nhau trong quá trình tiến hóa. Ví dụ, không có người mà người ta coi là “kẻ thù”, thì sẽ tha thứ cho ai? 

Niềm tin vào bản ngã và những lời hứa của nó cuối cùng đều mang lại thất vọng và vỡ mộng, tuy nhiên ngược đời là, nó lại giúp quá trình tiến hóa tâm linh bằng cách tăng cường động lực. Bằng cách kiểm tra, người ta sẽ thấy rằng cuộc sống con người trên thế gian là môi trường tối ưu cho sự thăng tiến ý thức và việc khám phá ra thực tại tâm linh, qua đó tất cả đời sống đều chuyển hóa nhằm bộc lộ sự hoàn hảo bẩm sinh của chính tồn tại (điểm hiệu chính 1.000). Với thái độ kiên nhẫn và kiên trì, Thần tính của Bản chất của Tất cả Tạo vật đều tỏa sáng và thay thế cho những tri giác sai lầm và giá trị được bản ngã phóng chiếu ra ngoài. 

Mặc dù một số tuyên bố bên trên mới nghe có vẻ không rõ ràng, mục đích của thông tin trong những chương tiếp theo là nhằm làm rõ và phơi bày toàn bộ ý nghĩa. Hiểu biết là hệ quả của bối cảnh, và chính ý thức sẽ cung cấp bối cảnh cao nhất, qua đó cái dường như mơ hồ sẽ trở thành hiển nhiên. 

Trong khi dối trá và bản năng của bản ngã dựa vào lực lượng bên ngoài và giả định về quan  hệ “nhân quả”, thì ngược lại, sự thật là sức mạnh bên trong phi nỗ lực. Nó không khắc phục được giả dối mà chỉ thay thế nó bằng cách nhận thức được sau khi đã đưa vào bối cảnh mới, bằng cách đó “ý nghĩa” có chiều kích lớn hơn bởi vì hệ hình đã mở rộng hơn. Thực sự là không có xung đột vì cái nhỏ hơn được thay thế và hòa tan vào cái lớn hơn, tương tự như ánh sáng thay thế bóng tối chứ không chống lại nó. Bản ngã/tự ngã bị Đại ngã lớn hơn hấp thụ, cho nên dường như đấy không còn là những mặt đối lập, cũng như không còn chênh lệch vốn là nguồn gốc của xung đột.

--------------------------------------------------------------------------------------------------

CHƯƠNG 2

THẾ TIẾN THOÁI LƯỠNG NAN CỦA CON NGƯỜI

Dẫn nhập

Thời đại này được gọi là Thời đại Thông tin, trong đó những khám phá mới diễn ra liên tục và nhanh chóng trong hầu hết các lĩnh vực hoạt động của con người. Khoa học và công nghệ là chất xúc tác góp phần đẩy nhanh những ứng dụng thực tiễn. Những sự kiện này lại tạo điều kiện cho sự xuất hiện một loạt sự bành trướng bất tận, đòi hỏi phải phát triển những sơ đồ mang tính khái niệm và cơ cấu trí tuệ mới. Kết quả là, xuất hiện nhiều tài liệu mới, có liên quan với nhau, giúp cho quá trình nghiên cứu và phát triển sâu hơn, và một lần nữa, lại tạo ra chu kỳ khám phá tiếp theo.

 

Căng thẳng của quá trình tiến hòa

Quá trình tiến hóa của trí tuệ của con người là sự thể hiện liên tục của tiềm năng đang xuất hiện, sau đó tiềm năng lại tạo điều kiện cho sự xuất hiện của tầng năng lực đã được nâng cao thêm. Khả năng trí tuệ vốn có là hệ quả của ánh sáng bên trong của chính ý thức. Khả năng tiến hóa dần dần này là độc nhất vô nhị của loài Homo sapiens, trái ngược với các dạng sống khác, chỉ tiến hóa tới những biểu hiện cố định của số phận và tiềm năng sinh học của chúng mà thôi.

Hậu quả của quá trình tiến hóa không ngừng là nhân loại vừa có năng khiếu vừa đồng thời bị căng thẳng do sự thay đổi liên tục và dẫn tới hỗn loạn xã hội. Do đó, mất cân bằng, bất hòa và xung đột là đặc hữu của giống người, được thể hiện bằng sự kiện là loài người đã ở trong tình trạng chiến tranh trong suốt 93% thời gian của lịch sử thành văn.

Sự thay đổi mang tính tiến hóa dẫn đến những đặc điểm thường gặp của con người là “cảm giác lo lắng về cuộc hiện sinh” và sự không chắc chắn, đấy là do khiếm khuyết di truyền to lớn: tâm trí con người, nếu không được trợ giúp, về bản chất là không có khả năng phân biệt thật giả. Hạn chế này lớn đến mức tâm trí tập thể của nhân loại không nhân ra con voi ở trong phòng (the elephant in the room - được khảo sát kỹ trong Truth vs. Falsehood). Hạn chế này là do “vô minh” ngây thơ, bẩm sinh cũng như sự phù phiếm của cốt lõi ái kỷ của bản ngã. Trong tuyệt vọng, bản ngã bám vào niềm tin có được cảm giác chắc chắn nào đó và là cơ sở cho việc ra quyết định và hành động đã được hợp lý hóa.

Người thông thái nhận ra rằng, tất cả kiến thức của con người, trong trường hợp tốt nhất, cũng chỉ là dự kiến, giả định và sau đó cần phải được sửa chữa. Ngay cả cái gọi là “sự kiện” cũng chỉ là những tuyên bố nhất thời, vì việc giải thích dữ liệu phụ thuộc vào bối cảnh và do đó, sau này có thể được giải thích lại. Quá trình tích lũy dữ liệu mới diễn ra liên tục sẽ làm thay đổi trường ảnh hưởng gần nhất và kết quả là cần phải thay đổi liên tục và đánh giá lại ý nghĩa và tầm quan trọng để sống còn trở thành vừa là nghệ thuật vừa là khoa học.

Quá trình phát triển của nghiên cứu ý thức

Một nhánh kiến thức mới của nhân loại xuất hiện từ cây tiến hóa cùng với việc khám phá ra phương pháp lâm sàng có tính thực dụng trong nghiên cứu ý thức (điểm hiệu chỉnh 605) lần đầu tiên làm sáng tỏ cả khả năng lẫn những hạn chế của tình trạng cơ bản của con người. Phát hiện này xuất hiện một cách ngẫu nhiên khi người ta vô tình nhận ra rằng, những kích thích tiêu cực làm cho những người “bình thường” trở thành yếu đuối, lại không làm suy yếu về thể chất của những người đã tiến hóa về mặt tâm linh, và những phản ứng về sinh lý của những người chính trực cũng hòa điệu với tầng sự thật hoặc ý thức của kích thích. Lần đầu tiên hiện tượng này được trình bày trong tác phẩm xuất bản năm 1995, Qualitative and Quantitative Analysis antd Calibration of the Levels of Human Consciousness rồi sau đó, trong tác phẩm  Power vs. Force, được nhiều người biết nhờ những đánh giá rất tích cực (ví dụ, Brain-Mind Bulletin), cũng như khẳng định của các Khôi nguyên Nobel và những người nổi tiếng trong các lĩnh vực khác nhau, chẳng hạn như tiếp thị, kinh doanh và thiết kế kỹ thuật, cũng như xác nhận của các bậc thầy tâm linh và các tổ chức kết hợp giáo lý này vào các chương trình của họ. Sự phổ biến và ứng dụng nhanh chóng những thông tin này trong các lĩnh vực khác nhau là biểu hiện của sự sẵn sàng và khả năng đáp ứng của ý thức của con người để tiến hóa, đấy là do phẩm chất của trí thông minh bẩm sinh.

Thông tin thu được từ nghiên cứu ý thức cũng được đưa vào y học lâm sàng, nó đã trở thành biện pháp thực hành tâm thần lớn nhất ở Hoa Kỳ nhằm giúp chẩn đoán và điều trị những bệnh nhân khó chữa và được coi là vô vọng (Hawkins và Pauling 1973). Từ tâm lý học, triết học, lý thuyết phân tâm học và “chuỗi tồn tại[1]” kinh điển (Lovejoy 1936) đã rút ra được thang đo tầng ý thức và nó cũng phù hợp với lịch sử của con người và triết lý thường hằng (Huxley 1945; Wilber 1997). Từ thang đo với điểm số từ 1 đến 1.000, có thể khảo sát toàn bộ lĩnh vực đời sống của con người, từ đó sẽ có hiểu biết toàn diện hơn về thân phận của con người và quá trình tiến hóa của nó.

Nghiên cứu xác nhận rằng, tình thế tiến thoái lưỡng nan của con người hiện đại mang tính hai mặt. Trước hết, tâm trí của con người, do thiết kế và cấu tạo bẩm sinh, không thể phân biệt được thật giả (ý kiến với sự thật), vọng tưởng với thực tại, hoặc tri giác/biểu hiện bên ngoài với bản chất. Thứ hai, tâm trí hiện đại, được giáo dục theo lối khoa học, thường không thể hiểu được những thực tại tâm linh phi tuyến tính hoặc những giáo lý tôn giáo và do đó, chỉ chấp nhận một phần sự thật đáng tin hoặc có thể xảy ra.

Do đó, trong con người hiện đại, đức tin và lý trí trở thành những thứ tách biệt nhau, đấy là để tránh những vụ xung đột, được thể hiện rõ ràng trong phiên tòa Scopes, diễn ra vào năm 1925. Những câu hỏi xuất phát từ cuộc xung đột đó vẫn chưa có câu trả lời. Lý do của việc không có giải pháp là vì những vấn đề này thực sự là không thể giải quyết được, như đã trình bày, vì chỉ có thể siêu việt được chúng lên bối cảnh lớn hơn, đại diện cho hệ hình thực tại mở rộng và toàn diện hơn, bao gồm cả lĩnh vực tuyến tính và phi tuyến tính.

Biểu hiện về mặt chính trị của cuộc xung đột, chẳng hạn như giải thích “có bức tường cao giữa Giáo hội và Nhà nước”, là bãi chiến trường đầy căng thẳng mà cả hai bên đều không có thỏa hiệp. Một bên tuyên bố tin vào chính đức tin, trong khi bên kia tuyên bố một cách ngược đời là tin vào bất tín thế tục (secular nonfaith – chơi chữ hơi khó dịch).

Khoa học về bối cảnh

Giải thích sâu hơn sẽ làm rõ rằng, khoa học, lý trí và diễn ngôn xã hội hoạt động chủ yếu ở tầng nội dung (tuyến tính), trong khi ý nghĩa là trừu tượng và là hệ quả của bối cảnh thông qua lĩnh hội (phi tuyến tính). Mặc dù gắn bó một cách bẩm sinh với ý thức, nhưng bối cảnh thường không được nói rõ, không được nhận dạng hay định nghĩa. Do đó, trước đây chưa hề có môn khoa học nào về chính sự thật, càng không có phương tiện xác minh hay xác nhận sự thật. Do đó, việc nhân loại lúng túng và liên tục rơi vào những thảm họa bất tận là không thể tránh được (ví dụ, lặp đi lặp lại cùng một sai lầm, nhưng lại hy vọng sẽ có kết quả khác).

Mở rộng bối cảnh sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình giải quyết xung đột, như sẽ được giải thích kỹ hơn trong chương sau. Ví dụ, thế giới vật lý có thể được mô tả là núi non, đại dương, núi lửa, rừng rậm hoặc khô cằn với những vùng sa mạc đầy cát. Ở Xích đạo thì nóng, còn hai cực thì đầy băng tuyết. Do đó, những thuật ngữ này, do sự khác biệt của chúng, không mô tả những thế giới khác nhau hay tách biệt với nhau, vì chúng chỉ là những thuật ngữ có tính mô tả thể hiện những địa điểm quan sát đã được người ta lựa chọn. Từ độ cao lớn hơn hẳn, chẳng hạn như độ cao của vệ tinh, người ta có thể quan sát cùng một lúc tất cả các đặc điểm trên bề mặt trái đất. Chúng ta không chia tách chúng ra và không tuyên bố rằng chúng đại diện cho cuộc “xung đột”. Như vậy là, chúng ta thấy rằng các thuật ngữ mang tính mô tả chỉ nói tới các khu vực, các quan điểm hạn chế, chứ không nói đến tổng thể.

Mở rộng bối cảnh từ định vị hạn chế sang tổng thể bao trùm sẽ tự động giải quyết được những mơ hồ đó. Trong quá khứ, trái đất tròn hay vuông, nó quay quanh mặt trời hay ngược lại đã gây ra những cuộc tranh cãi nảy lửa. Hiện nay khoa học/lý trí hay sự thật và đức tin tôn giáo/tâm linh cũng đang lặp lại những tình huống tiến thoái lưỡng nan giả tạo tương tự như thế. Tuy nhiên, bằng cách mở rộng bối cảnh, sẽ dễ dàng nhận thấy rằng không thể có xung đột thực tế nào như thế trong thực tại và dường như xung đột chỉ là hệ quả nhân tạo của tư duy từ một quan điểm và quan sát tùy tiện và hạn chế (“tạo tác”). Do đó, hạn chế của hệ hình là hệ quả của sự thống trị của cốt lõi ái kỷ của bản ngã, nó hy sinh sự thật và tính chính trực để thấy mình là người chiến thắng. (Khoa học bị giới hạn ở các tầng ý thức từ 400 tới 499; bối cảnh phi tuyến tính, hay thực tại tâm linh, có điểm hiệu chỉnh từ tầng 500 trở lên). Sự hạn chế như thế về tầm nhìn là cực kỳ bất lợi đối với hòa bình và sự tiến bộ của con người, cũng là trở ngại đối với trí huệ và hạnh phúc.

Mong muốn chiến thắng cũng làm mất tính chính trực, như chúng ta có thể thấy trong phiên tòa xét xử Scopes được tính toán và dàn dựng một cách giả tạo, trong đó Clarence Darrow sa vào cuộc tấn công cá nhân William Jennings Bryan chứ không trực tiếp giải quyết các vấn đề cốt lõi, được thảo luận một cách có mục đích (Sears và Osten 2005). Trên thực tế, như chúng ta sẽ thấy, tiến hóa và sáng tạo là một và như nhau (điểm hiệu chỉnh 1.000). Sự khác biệt duy nhất là quan điểm của các mô tả của họ, những quan điểm này chỉ đơn giản là những hạn chế của hệ hình.

Xa rời sự thật thường xuyên gây ra những hậu quả thảm khốc và do đó, không thể coi nó chỉ là sự tò mò về mặt trí tuệ mà thôi. Bản chất bên trong của những xung đột trong phiên tòa Scopes chính là những yếu tố tạo ra những đau khổ của nhân loại trong suốt các thời đại. Dối trá được người ta tuyên truyền dẫn đến những cuộc chiến tranh, chết chóc và hủy diệt trên diện rộng; do đó, hiểu biết về hệ hình và bối cảnh là cực kỳ cấp bách, vì thế giới, một lần nữa, đang đứng trước bờ vực của cuộc chiến tranh hạt nhân.

Sự phù phiếm của cốt lõi ái kỷ của bản ngã con người là vô hạn và không có biên giới, thậm chí có thể dẫn đến những vụ diệt chủng rất nhiều người hoặc tự sát. Mặc cho những ảo tưởng ngược lại của bản ngã, nguồn gốc của đau khổ xuất phát từ bên trong cốt lõi mù quáng này của chính bản ngã ái kỷ, nó là nơi đặt quả bom hẹn giờ phát nổ định kỳ và xóa sổ toàn bộ dân cư trên toàn bộ các châu lục. Nếu “vô minh”, như Chúa Jesus, Đức Phật và các đại giác giả mô tả, là nền tảng của tội lỗi và đau khổ, thì khả năng nhận diện và xác nhận sự thật không chỉ là chìa khóa dẫn đến việc cứu rỗi nhân loại mà còn là thách thức cấp bách nhất của con người.

Linh hồn con người suy yếu là do nó phụ thuộc vào cốt lõi ái kỷ. Người ta phủ nhận, kìm nén khiếm khuyết này và giữ một cách lịch sự, cách xa khỏi nhận thức. Tuy nhiên, khiếm khuyết này thể hiện rõ ràng và công khai trong tình trạng gọi là “chứng cuồng ái kỷ mang tính cứu thế”, tầng ý thức 30 (xem Truth vs. Falsehood, Chương 15).

Dối tra là hấp dẫn[2]

Thế giới say mê với những “nguyên nhân” được trình bày một cách màu mè thực ra là dựa trên dối trá. Điển hình cho xu hướng này là sức hấp dẫn quần chúng của các nhà độc tài trên khắp thế giới, tất cả bọn họ, trong quá khứ cũng như hiện nay, có tầng ý thức từ 80 đến 180 (cũng là tầng của tội phạm và tù nhân). Do đó, chế độ độc tài thực ra sự là tội phạm chính trị, được thể hiện một cách rõ ràng bằng việc giết hại bừa bãi tất cả những người đối lập, ngay cả khi họ là người trong cùng gia đình với nhà độc tài. Cơ sở lý luận được đưa ra, trong trường hợp tốt nhất, cũng rất mong manh, chẳng hạn như “kẻ thù của Nhà nước”, “phản đảng”, “không có niềm tin” hoặc bị nghi là trung thành với đảng chính trị hoặc hệ thống tín ngưỡng đối lập. “Lãnh tụ vĩ đại” thế chỗ của Chúa và được tôn thờ theo kiểu sùng bái ngay cả khi ông ta tàn sát dân chúng đang chết đói và làm ra những vụ suy sụp và hủy diệt hàng loạt cho chính dân tộc mình. Vì vậy, không thể phân biệt thật giả là hành động tự sát ở tầng quốc gia và quốc tế.

Xu hướng dễ mắc sai lầm của bản ngã

Vì cảm giác lo lắng về cuộc hiện sinh, tâm trí con người nắm bắt một cách điên cuồng và bừa bãi bất kỳ mẩu thông tin gây tranh cãi nào (ví dụ, các trang blog có điểm hiệu chỉnh ở tầng 180). Tất cả những cái mà người ta cần là ý tưởng hay khẩu hiệu (“meme”), dù nó có ngu ngốc, kỳ quái hay ngụy biện tới mức nào, chỉ cần tạo ra nó rồi sau đó lan truyền bằng bất kỳ hình thức giao tiếp nào. Tốc độ lan truyền tăng lên khi đưa thêm vào cảm xúc và những thứ giật gân, cũng như cường điệu và bóp méo có chủ đích (McGowan 2001). Nếu không có bối cảnh, tầm quan trọng hoặc ý nghĩa sẽ thuộc về người quan sát, cho nên thường thì cùng một thông tin sẽ được người ta diễn giải hoàn toàn trái ngược nhau.

Tác động tai hại của dối trá còn được Internet đẩy đi xa hơn và các phương tiện truyền thông khai thác câu châm ngôn thời thượng, bị thổi phồng về “ngôn luận tự do”, coi đấy là báo cáo “công bằng và bình đẳng”, mà qua đó, ngược đời là dối trá và thù hận lại được coi là đáng tin và có giá trị ngang với sự thật (tương đối luận đạo đức). Nó sẽ làm cho toàn bộ xã hội trở thành “ngu ngốc” (Mosly, 2000; Lasch,1991). Từng cá nhân người nghe hoặc người xem phải sáng suốt (tuy nhiên, 55% người dân Hoa Kỳ và 85% người dân trên thế giới không có năng lực đó).

Tâm trí điên cuồng tìm cách sinh tồn, nó rất dễ bám víu vào cọng rơm chứ không chịu thừa nhận rằng tất các ý kiến chỉ là giả tạm, có tính thăm dò và nhất thời. Bằng cách nhắc đi nhắc lại, các meme lan truyền nhanh chóng chẳng khác gì bệnh truyền nhiễm, và những sai lệch nghiêm trọng, cách xa sự thật sẽ tự lan truyền và tự nó có đã có tính hủy diệt (McGrath, 2006). Dối trá rất nghiêm trọng thường lan truyền không ngừng qua suốt nhiều thế kỷ và có xu hướng xuất hiện trở lại trong những bộ trang phục mới.

Một trong những ví dụ nổi bật nhất là lịch sử của Biên bản của những người cao tuổi có học của Zion (Protocol of the Elders of Zion[3] - Nilus 1897; điểm hiệu chỉnh 90),  trong đó dối trá rất nghiêm trọng dẫn đến thái độ bài Do Thái lan rộng và trở thành nền tảng tuyên truyền của Đức Quốc xã. Nó xuất hiện trở lại dưới dạng những giáo lý sai lầm ở nhiều nước khác nhau, làm cho ngay cả Henry Ford cũng bị ô nhiễm. Đáng kinh ngạc là toàn bộ cuốn sách này đều dựa trên một tác phẩm hư cấu, có tính châm biếm viết bằng tiếng Pháp; tuy nhiên, hiện nay, những giáo lý dối trá tương tự như thế đang được dạy như là “sự thật” thực sự cho học sinh trên khắp vùng Ả Rập (ví dụ, đài truyền hình Hamas) và nó tiếp tục là nguồn gốc của hận thù và chiến tranh (Shea và Hoffman, 2006; “Nỗi ám ảnh”, Fox News, tháng 11 năm 2006).

Biểu hiện cùng với nó là sự tái xuất hiện thường xuyên chủ nghĩa duy vật biện chứng (Marxian) trong vỏ bọc ngụy trang có tính triết học, tu từ học mới (ví dụ, “tiến bộ thế tục”, “Cánh tả mới”), rồi chúng lôi kéo những cơ sở giáo dục, coi thường những yêu cầu cơ bản tối thiểu của logic hay lý trí để trông có vẻ “hậu hiện đại” và tương đối luận hợp thời trang (Goshgarian, 2007; Horowitz, 2006). Horowitz đã bị “Những tên phát xít cánh tả” tước quyền tự do ngôn luận ở Đại học Emory (Fox News, tháng 10 năm 2007). Có những biện pháp cấm đoán mang tính đàn áp đối với quyền tự do ngôn luận (ví dụ, các nhóm sinh viên bảo thủ) trong khuôn viên nhà trường, đây là hậu quả của các lý thuyết triết học của Marcuse và “Lý thuyết phê phán” của ông ta (điểm hiệu chỉnh 150).

Dường như kỳ lạ là, trong khi các hệ tư tưởng lâu đời, có điểm hiệu chỉnh ở các tầng từ 450 đến 499, các trường đại học danh tiếng mời các giáo sư thỉnh giảng, chỉ có điểm hiệu chỉnh tầng ý thức 90 và rao giảng lòng hận thù, thái độ bất dung và ảo tưởng của bệnh hoang tưởng được gói trong các thuyết âm mưu có điểm hiệu chỉnh ý thức ở tầng 90 và đôi khi, thậm chí còn thấp hơn (ví dụ, người ta nói rằng “Hoa Kỳ dàn dựng vụ 11/9” và “Holocaust là huyền thoại”). Vì vậy, ở Đại học Yale, một dàn hợp xướng đến thăm đã bị người ta tấn công về mặt thể xác vì đã hát bài:“God Bless America”, còn trong giới học hàn lâm, người ta đã cấm hát Quốc ca (chính giới hàn đã hạ xuống tầng ý thức 190). Đại học Emory dạy sinh viên rằng, “tất cả người da trắng đều là những kẻ phân biệt chủng tộc và do đó, cần được cải tạo” (Horowitz, 2007).

Mặc dù dối trá dường như có thể được hợp lý hóa, đấy là khi nó xuất hiện như là thuyết âm mưu (điểm hiệu chỉnh 160), nhưng trên thực tế, không ai trong số những người ủng hộ nó một cách mạnh mẽ sẵn sàng chấp nhận tiền giả (giả dối) thay cho tiền hợp pháp (sự thật). Ngược lại, những vị “giáo sư gàn dở”, ảo tưởng chơi trò chơi tài chính (ví dụ, mức lương là 100.000 USD mỗi năm) tương tự như bất kỳ doanh nhân tham lam nào khác (Horowitz 2006, 2007).

Tôn trọng sự thật chính trực, cộng với khả năng nhận biết và xác định dối trá, là mấu chốt trong quá trình tiến hóa của ý thức, cũng như của chính quá trình tiến hóa tâm linh. Những khám phá lớn đã mang lại những cải thiện to lớn trong đời sống của con người. Chỉ trong kiếp này, những căn bệnh truyền nhiễm và bệnh dịch từng giết chết hàng triệu người trong quá khứ đã hoàn toàn biến mất, đấy là nhờ phát minh ra thuốc kháng sinh và tiêm chủng.

Những cơn rối loạn tâm thần và hoang tưởng mà trong quá khứ được coi là đặc điểm của bệnh tâm thần, bệnh giang mai não hoặc bệnh tâm thần nghiêm trọng, nhưng giờ đây chúng kết hợp thành căn bệnh lan tràn của bản ngã con người và của chính các phương tiện truyền thông, chúng nuôi dưỡng mầm mống của dối trá được truyền bá công khai. Hậu quả của căn bệnh mới cũng nghiêm trọng như căn bệnh cũ, ở chỗ, nó gây ra tai họa cho rất nhiều người vô tội, những người mà bản thân họ không thể phân biệt được thật giả, cho nên đã mù quáng đi theo những lãnh tụ giả mạo. Trong tất cả các cuộc chiến tranh, dân thường là những người bị thiệt hại nhiều nhất; dối trá dẫn đến nạn đói, tàn phá, thống khổ, đau khổ, diệt chủng và tử vong trên diện rộng.

Bản ngã ngây thơ cũng dễ bị những lời nói vô vị (điểm hiệu chỉnh 185) đánh lừa và những ảo tưởng viển vông về cái gì là vấn đề thực sự nghiêm trọng, chẳng hạn như chiến tranh. Thế giới ngây thơ dựa vào những câu chuyện hư cấu và giải pháp giả mạo có tính ý thức hệ, chẳng hạn như Liên Hợp Quốc (điểm hiệu chỉnh 180), cũng như những lời nói tẻ nhạt đến mức “tổ chức thế giới” bị thổi phồng về mặt ý thức hệ thậm chí không thể tự mình lên án cuộc chiến tranh công khai hay nạn diệt chủng công khai. Một nhược điểm khác của những giải pháp giả là chúng chặn trước và ngăn cản quá trình tìm kiếm những giải pháp thực tế dựa trên sự thật có thể kiểm chứng được. Bằng những lời lẽ ngụy biện về “sự tương đương về mặt đạo đức” (điểm hiệu chỉnh 170), bất kỳ hành động nào cũng có thể được biện minh và thúc đẩy bằng cách bóp méo theo lối dối trá không chỉ sự kiện, mà quan trọng hơn, bóp méo bối cảnh.

Hiệu ứng mang tính thôi miên của hình ảnh

Tất cả những nhà cai độc tài hiện nay trên thế giới cũng như những người đứng đầu các quốc gia bất hảo đều có điểm hiệu chỉnh trong khoảng gần đúng từ 80 đến 180. Tất cả những thứ bất lợi đối với xã hội, gây tổn hại về văn hóa và thoái hóa đều có điểm hiệu chỉnh dưới tầng 200. Những xu hướng như vậy được thúc đẩy là do kết quả của những hình ảnh làm gia tăng động lực bằng cách phổ biến thông qua các nhân vật nổi tiếng, những người điên cuồng chạy tới để được chụp ảnh, còn mình thì ôm hôn những kẻ độc tài.

Không có hiệu chỉnh ý thức, rất khó phân biệt tự do (freedom) và tự do (liberty) với cám dỗ của phóng túng. Bất kỳ ham mê và tất cả ham mê khoái lạc của các giác quan, dù thô thiển đến mức nào, ví dụ, bài giảng cho sinh viên ở Colorado (điểm hiệu chỉnh 180) về đề tài “Dùng ma túy và quan hệ tình dục không an toàn” (tháng 6 năm 2007) có thể được hợp lý hóa bằng cách phổ biến rộng rãi hoặc tình trạng thất thường của tòa án (Flynn, 2004).

Nếu không được trợ giúp, tâm trí của con người không thể phân biệt được thật giả, vì nó rất dễ bị vẻ ngoài giả nhân giả nghĩa, được chế tác một cách khéo léo với vẻ hào nhoáng của hình ảnh và cách thể hiện đánh lừa. (Thú vị, “con sói đội lốt cừu” có điểm hiệu chỉnh đáng ngại là 120). Nhiều nhà lãnh đạo khác nhau đã xây dựng được hình ảnh (tri giác) và danh tiếng trước công chúng, không cho người ta nhận biết thực tại ở phía sau (bản chất). Ngoài ra, để làm cho tình hình thêm phức tạp, nhiều nhân vật của công chúng ban đầu là những người chính trực, nhưng sau đó không thể đứng vững trước danh tiếng và chứng hoang tưởng, làm cho tầng ý thức rơi xuống mà công chúng không hề hay biết.

Việc “quyền lực làm tha hóa” là sự thật hiển nhiên có thể kiểm chứng được, và tầng ý thức của nhiều nhân vật dường như là vĩ đại trên thế giới đã suy giảm rất nghiêm trọng. Từ Napoléon đến Hitler cho đến những nhà độc tài trong giai đoạn hiện nay và những người được cho là “những chiến sỹ giải phóng” và những nhà lãnh đạo nổi tiếng trong giai đoạn hiện nay, tất cả đều đã trở thành những người đối lập với chính họ. Trong quá khứ, người giải phóng trong ngày hôm nay sẽ là kẻ cai trị độc tài của ngày mai. Đặc biệt là, ngay từ đầu sự nghiệp, nhiều người trong số họ có điểm hiệu chỉnh cao tới mức 400, nhưng sau đó giảm xuống bên dưới tầng 200. Hiện tượng tương tự cũng xảy ra trong các nền văn hóa cổ đại, cũng như trong những giai đoạn gần đây - thoái hóa thành vô số vụ bê bối công khai.

Có những nền văn hóa, trong đó bắt chước sự uyên bác và tiến bộ về tâm linh hoàn hảo đến mức phải có chuyên môn trong kỹ thuật hiệu chỉnh ý thức thì mới phát hiện được sự khác biệt. Internet cũng tung ra những lời gạ gẫm bất tận để mời người ta tham gia nhiều chương trình tự nhận là tâm linh với những lời hứa hẹn vô căn cứ về chứng ngộ ngay lập tức. Lưu ý rằng tất cả những hiện tượng này đều đòi khoản phí khá lớn, với những “phước lành” hoặc “quyền hạn” rất đặc biệt được bán với giá từ 5.000 đôla trở lên. Những lời dụ dỗ như thế phục vụ cho ái kỷ của bản ngã tâm linh là khá rõ ràng và do đó, thực sự sẽ làm người ta tự chuốc lấy thất bại.

Đối với bản ngã ngây thơ, dễ bị ấn tượng, chỉ cần sự kiện là một người nào đó hoặc một cách tư duy nào đó nổi lên hoặc được chú ý hoặc tin tức mang tới bầu không khí đáng tin cậy, huyền bí, kỳ diệu, quyến rũ, có lẽ được củng cố thêm bằng danh hiệu nghe có vẻ quan trọng là đủ.

Những biện pháp bảo vệ

Bằng thái độ khiêm tốn ở bên trong cộng với trí tuệ, người tìm kiếm sự thật nhận thức được những hạn chế cố hữu của tâm hồn con người và không còn dựa vào cái tôi cá nhân dễ bị ảnh hưởng, không coi nó là trọng tài duy nhất của sự thật nữa. Sự kiện là thái độ được xây dựng trên thực tại có thể xác nhận được là bằng chứng rõ ràng rằng người đó nhận ra, như đã nói bên trên, khoảng 85% người dân trên thế giới có điểm chỉnh dưới tầng 200. Nó tạo ra 92% những vấn đề của con người nói chung. Ở Mỹ, 55% người dân nằm ở tầng dưới 200; họ đã và đang gây ra những hậu quả tiêu cực với tỷ lệ tương tự đối với xã hội.

Nói chung, các nhóm dân cư có xu hướng phân tầng trong xã hội, còn nhóm văn hóa có điểm hiệu chỉnh dưới tầng 200 được định nghĩa là đang sống trong một “thực tại thay thế” (Pitts, 2004) của “thực tại khiếm khuyết” (Marzeles, 2007). Thậm chí những tổ chức chính trực cũng có thể có những người không chính trực và những lĩnh vực hoạt động có khiếm khuyết. Tuy nhiên, các tổ chức có trách nhiệm và chính trực thực sự có xu hướng tự sửa chữa; do đó, không nhất thiết phải lúc nào cũng hoàn hảo mà cần phải đáp ứng. Trung thực thừa nhận sai lầm và nhận trách nhiệm sửa chữa. Toàn thể nhân loại và các tổ chức của nó đang trong quá trình học tập để thái độ khoan dung trước lỗi lầm của con người là phù hợp hơn chứ không phải là tố cáo. (Trong thần học Kitô giáo, “tội lỗi” thực ra là lỗi kỹ thuật).

Giải pháp

Trong khi những chủng tử của tự lừa dối ẩn sâu trong tâm trí của con người thì lại có những chủng tử của cứu rỗi không nhìn thấy được, nhưng là bẩm sinh trong chính trường ý thức. Bằng cách sử dụng phương pháp nghiên cứu ý thức, giờ đây có thể vượt qua những hạn chế cố hữu của tâm trí và phân biệt được bản chất với hình thức bên ngoài. Sau đó, nó cung cấp cho chúng ta những phương tiện để có thể giải quyết những bí ẩn của tâm trí con người, từng được Socrates và Descartes phát biểu một cách chính xác và theo lối kinh điển và được thể hiện rõ trong phiên tòa Scopes. Thời đại Thông tin, mặc dù đang có xu hướng truyền bá những thông tin sai lầm, nhưng đáng ngạc nhiên là, nó cũng cung cấp phương tiện phân biệt sự thật (bản chất) với vẻ ngoài (giả dối), với hàm ý rõ ràng và sâu sắc, lợi ích tiềm tàng cho mọi khía cạnh của đời sống con người, trong đó có hạnh phúc cá nhân.

Kiến thức của con người đã có nhiều tiến bộ trong suốt những thời đại đã qua đã tạo ra thái độ hoài nghi ban đầu hay thậm chí là chế giễu.

Vì vậy, linh hồn con người luôn ở trong tình trạng nước đôi trước bất kỳ khám phá mới nào, vì nó đòi hỏi phải thay đổi quan điểm và thách thức những quan điểm mà người ta ấp ủ trong lòng.



[1] Chuỗi sinh vật vĩ đại là một cấu trúc theo bậc của mọi vật chất và sự sống, mà Kitô giáo thời Trung cổ cho là do Chúa ban hành. Chuỗi bắt đầu từ Chúa và đi xuống qua các thiên thần, con người, động vật và thực vật tới khoáng sản - ND.

[2] Dịch thoát ý từ Pied Piper. Pied Piper là chàng thổi sáo xứ Hameln: Truyền thuyết thời Trung đại, kể rằng năm 1284, thị trấn Hameln trải qua một trận dịch chuột, do không thể chống lại bọn chuột nên thị trưởng đã treo thưởng một nghìn đồng vàng cho ai đuổi được chuột. Ngày hôm sau có một chàng trai đến và thổi sáo dẫn dụ lũ chuột lần lượt nhảy xuống dòng sông Weser. Khi làm xong, chàng trai đến nhận thưởng thì chỉ được đưa 50 đồng vàng. Quá tức giận, vào ngày lễ thánh John và Paul, người lớn đều tập trung ở nhà thờ Hamelin, chàng trai đã thổi sáo dẫn dụ tất cả trẻ em trong làng đi theo ra sau núi rồi biến mất. Chỉ còn ba đứa trẻ bị điếc, què và câm là ở lại. Nguyên nhân những đứa trẻ mất tích có thể là do bão hoặc giống như đàn chuột lúc trước - ND.

[3] The Protocols of the Elders of Zion - Biên bản của những người cao tuổi có học của Zion - là ấn phẩm bài Do Thái khét tiếng nhất và được truyền bá rộng rãi nhất trong thời hiện đại. Những lời nói dối của nó về người Do Thái, bịa ra kế hoạch thống trị toàn cầu của người Do Thái đã bị mất uy tín nhưng vẫn tiếp tục lan truyền, đặc biệt là trên Internet. Các cá nhân và nhóm đã sử dụng các Giao thức này đều liên kết với nhau bởi một mục đích chung: gieo rắc lòng căm thù người Do Thái - ND



Post a Comment

0 Comments