banner top | SORE TODAY STRONG TOMORROW

ĐỪNG SỢ

THỰC TẠI, TÂM LINH VÀ CON NGƯỜI HIỆN ĐẠI (3): Chương 3 - Chương 4

 https://phamnguyentruong.blogspot.com/2024/06/thuc-tai-tam-linh-va-con-nguoi-hien-ai-4.html chương 3
https://phamnguyentruong.blogspot.com/2024/06/thuc-tai-tam-linh-va-con-nguoi-hien-ai-5.html chương 4


CHƯƠNG 3

HỆ HÌNH CỦA THỰC TẠI

Có nhận xét chung rằng, mở rộng bối cảnh sẽ dẫn đến việc giải quyết xung đột giữa những quan điểm dường như khác biệt. Nó cũng được áp dụng cho vụ đối đầu giữa lý trí/khoa học và đức tin/tôn giáo. Từ “hệ hình” ám chỉ miền, khu vực, lĩnh vực, lãnh thổ, phạm vi hoặc vương quốc mà trong đời sống hàng ngày được tham chiếu tới bằng cách sử dụng các khái niệm trừu tượng, ví dụ như sự phân tầng kinh điển của những tầng của tồn tại được ám chỉ bằng các thuật ngữ “vương quốc, ngành (trong sinh vật học), giai cấp, trật tự, gia đình, giống và loài”. Do đó, hệ hình hàm ý miền tổng thể hay lĩnh vực hiểu biết, tham khảo và quan điểm. 

Hiện tượng mù hệ hình

Mỗi người tri giác, trải nghiệm và giải thích thế giới cũng như các sự kiện của nó phù hợp với tẩng ý thức đang giữ thế thượng phong của họ. Nó càng được củng cố bởi thiên hướng giải thích của tâm trí thông qua suy nghĩ và những cách giải thích đã được hợp lý hóa các dữ liệu mà người đó tri giác được. Vì vậy, mỗi tầng ý thức đều có xu hướng tự củng cố. Quá trình này dẫn đến kết quả được mô tả chính xác nhất là “trung thành với hệ hình” (Hawkins, 2006) hoặc giả định rằng thế giới được cá nhân trải nghiệm/tri giác là “thực tại” (sai lầm của Protagoras như Plato đã chỉ ra). 

Do cấu trúc bẩm sinh của nó, tâm trí không thể phân biệt tri giác với bản chất hoặc res cogitans (bên trong) với res externa (bên ngoài), như René Descartes đã nhận xét, cho nên nó đưa ra giả định ngây thơ rằng nó trải nghiệm và do đó “nó biết thực tại”, và do đó, những quan điểm khác chắc chắn là “sai”. Hiện tượng này tạo thành vọng tưởng, hậu quả tự động của giới hạn xuất phát từ cơ cấu của các quá trình diễn ra trong tâm trí của bản ngã, làm cho nó xác định sai, coi quan điểm là sự thật và là thực tại chân thực (ví dụ, thuyết duy ngã). 

Muốn được an ủi và củng cố những suy nghĩ của mình, mọi người đều tìm kiếm sự đồng thuận và do đó, có xu hướng tụ tập với những người có cùng hệ hình hay thế giới quan với mình (ví dụ, trang blog). Hệ hình còn được ám chỉ là “chiều kích” và rõ ràng hơn là “bối cảnh” hoặc “trường tổng thể”. Vấn đề được giải quyết về mặt triết học bằng môn siêu hình học, nghĩa đen là “vượt ra ngoài vật chất”, nhờ đó tâm trí rút ra các tầng và phạm trù trừu tượng và ý nghĩa, hay thậm chí là những đặc điểm chung cơ bản, chẳng hạn như sống động so với trơ lỳ, hữu cơ so với vô cơ. 

Bối cảnh quyết định các tham số với những phẩm chất hay giới hạn được nói rõ hoặc ám chỉ, cũng như các yêu cầu và chi tiết cụ thể, xác định mức độ trừu tượng, đến lượt mình, tầng trừu tượng thay đổi hay thậm chí xác định ý nghĩa (thông diễn học) phù hợp với đánh giá về giá trị, hoặc ý nghĩa. Hệ hình hòa điệu với định hướng, kỳ vọng và cả ý định, như được thể hiện bằng những công cụ tìm kiếm trên Internet - chọn trước phạm vi khám phá bằng cách đưa ra một từ hoặc cụm từ khóa ban đầu. Do đó, hệ hình xác định trước phạm vi của những trải nghiệm hay khám phá có thể xảy ra và là yếu tố mà ý thức thông thường không nhận thức được. Hệ hình hiếm khi được xác định một cách trực tiếp và thường bị bỏ qua hoặc được giả định một cách ngây thơ. Thực tại mà khoa học tri giác được là rời rạc, có thể xác định được, có thể chứng minh được, có căn cứ và tuyến tính, cũng như bị giới hạn trong các chiều thời gian, không gian và địa điểm (đo lường). Các cơ chế của nó được cho là hoạt động thông qua các khái niệm của vật lý học Newton về quan hệ nhân quả và các giả định về nguyên nhân và hậu quả (lực lượng bên ngoài). 

Ngược lại, thực tại của tình yêu, đức tin, cảm hứng và các tiền đề vô hình căn bản của sự thật trừu tượng, tâm linh và tôn giáo là phi tuyến tính và hoạt động thông qua các nguyên tắc sức mạnh bên trong bắng cách xếp các tầng giữ thế thượng phong của những trường năng lượng của ý thức có ảnh hưởng. Những trường này được sắp đặt và thậm chí được xác định bởi “bộ tập hợp có chú ý” (Medina, 2006), đến lượt mình, nó lại là kết quả của ý định, lựa chọn và quyết định. 

Khoa học xử lý nội dung (sự kiện), trong khi thực tại trừu tượng và tâm linh là bối cảnh (sự thật). Các hệ hình thực tại của khoa học hoàn toàn khác với các hệ hình thực tại tâm linh. Sự kiện là tuyến tính, có thể quan sát được và có thể chứng minh được. Tuy nhiên, sự thật là phi tuyến tính, nhưng có thể xác nhận được. Sự kiện là có giới hạn, trong khi sự thật bao gồm ý nghĩa, tầm quan trọng, và giá trị. 

Giải quyết vấn đề giới hạn của hệ hình 

Tuyến tính và phi tuyến tính là những tầng tham chiếu và hệ hình hoàn toàn khác nhau. Chúng không có cùng những thuật ngữ hay cơ cấu mang tính khái niệm. Khoa học bị hạn cuộc trong chiều kích của vật lý học Newton tuyến tính, có thể quan sát được, có thể xác định được và chủ yếu có cấu trúc và mang tính cơ học (sau này mở rộng sang vật lý hạt hạ nguyên tử và cơ học lượng tử) và phép biện chứng của logic, lý trí và các giả thuyết có thể chứng minh được (“sự kiện”). Do đó, do hạn chế vốn có của nó, khoa học không thể tạo được cây cầu giữa res interna (suy nghĩ) của Descartes và res externa (thực tại hiện sinh như là bản chất). 

Tâm trí mở rộng ra thông qua siêu hình học, nhận thức luận, thần học, bản thể học và hiểu biết trong những nỗ lực vô ích nhằm vượt qua rào cản không được công nhận (ví dụ, câu nói nổi tiếng của Hayakawa, “Bản đồ không phải là lãnh thổ”). Vì vậy, những nỗ lực trí tuệ mãnh liệt cũng tương tự như việc chỉ tìm chìa khóa bị mất dưới ánh đèn đường vì “ở đó sáng hơn”. Hạn chế này còn được thể hiện rất rõ qua các luận văn và bài thuyết trình trí tuệ trong những ấn phẩm như Zygon, Science and Religion, Science and Theology, Science and Consciousness Review, the Journal of Consciousness Studies (Zygon, Khoa học và Tôn giáo, Khoa học và Thần học, Tạp chí Khoa học và Ý thức, Tạp chí Nghiên cứu Ý thức) và những ấn phẩm khác, tất cả đều có điểm hiệu chỉnh từ 300 tới 400. Những ấn phẩm này chứng tỏ tinh thần dũng cảm và hiếu học nhằm vượt qua Rubicon (giới hạn) nhưng không đạt được mục tiêu đề ra, đấy là do hạn chế của hiện tượng mù hệ hình. Nói một cách đơn giản, phi tuyến tính không tuân theo logic tuyến tính; logic tuyến tính không thể hiểu được, không thể mô tả được phi tuyến tính. Chúng là những hệ hình khác nhau, muốn hiểu chúng thì phải có ngôn ngữ và yêu cầu khác.

 Tuyến tính có thể xác định được, có giới hạn, mang tính khái niệm, tự cho là “khách quan” và có thể định vị được trong thời gian và không gian. Ngược lại, phi tuyến tính là phi định xứ, lan tỏa, vượt ra ngoài các chiều kich và tạo được ảnh hưởng, chủ quan và mang tính trải nghiệm. Nhận thức và hiểu biết những thực tại tâm linh phi tuyến tính là lĩnh vực của nhà huyền môn. Tâm linh là bối cảnh, trong khi tuyến tính là nội dung. Trường tâm linh bao hàm tất cả, nhưng vượt trên mô tả bằng những thuật ngữ ám chỉ thời gian hay không gian. 

Siêu việt hạn chế của hệ hình 

Từ thang đo đã được hiệu chỉnh của các tầng ý thức, rõ ràng là lĩnh vực khoa học có điểm hiệu chỉnh từ 400 tới 499 điểm, trong khi các thực tại tâm linh bắt đầu xuất hiện ở những tầng trên 450 nhưng chỉ giữ thế thượng phong từ tầng 500 trở lên. Khoa học nghiên cứu ý thức (điểm hiệu chỉnh 605) tạo điều kiện cho chúng ta phân biệt những tầng này bằng cách sử dụng năng lượng đặc biệt vốn có như là bản chất của mỗi tầng tiến hóa. Xin nhắc lại, trên thang đo từ 1 đến 1.000, các tầng dưới 200 thể hiện sự dối trá còn từ 200 trở lên thể hiện sự thật. Các tầng Chứng ngộ là từ 600 đến 1.000, trong đó 1.000 là tầng ý thức tối đa có thể có trong cõi người.

Trong khi khoa học và logic được mô tả là “có thể chứng minh được”, “có thể xác định được” và “khách quan”, còn các thực tại tâm linh thì nhất thiết phải có tính chủ quan (trải nghiệm). Do đó, không thể “chứng minh” sự thật tâm linh thông qua logic tuyến tính hay khoa học, tương tự như có người đã chỉ ra rằng không thể “chứng minh” tình yêu, tầm quan trọng, hạnh phúc, ý nghĩa, giá trị, nguồn cảm hứng và những khái niệm trừu tượng định tính khác. Do đó, không thể “chứng minh” hay “bác bỏ” thực tại của Thần tính hay chiều kích phi tuyến tính, trong đó có những đặc điểm của chính ý thức (ví dụ, cạm bẫy của người hoài nghi). 

Đáng chú ý là, toàn bộ trường trong các ấn phẩm, tổ chức và nỗ lực đề cập đến “khoa học và tôn giáo” đều nằm dưới sự thống trị của các trí thức hàn lâm. Không có các học giả cao cấp, đã chứng ngộ (điểm hiệu chỉnh trên 600). Đặc điểm là, ​​nhà huyền môn tự động nhận thức, hiểu rõ và “trở thành”, trong khi nhà khoa học lý luận và “nghĩ về”. Do đó, do những hạn chế và giới hạn của khoa học hàn lâm (tầng ý thức nằm trong khoảng 400-499), những thiên tài tâm linh vĩ đại nhất thế giới và những giáo lý đã chứng ngộ thuộc mọi thời đại (điểm hiệu chỉnh từ 500 đến 1.000) đã bị những nhóm người có trí tuệ nghi ngờ tính xác thực của “tính chủ quan của chính người nói” loại bỏ. Làm sao tổ chức được hội nghị về “khoa học và tâm linh” (tất cả đều có điểm hiệu chỉnh trong những tầng 400) khi người ta loại bỏ hoàn toàn nguồn thông tin tâm linh thực tế duy nhất, chủ yếu thông qua báo cáo và lời chứng của người kể lại những trải nghiệm chủ quan của chính mình? (mời đọc tác phẩm I: Reality and Subjectivity). Ngược đời là, tất cả trí tuệ chỉ đơn giản là “người đó nói về mình hoặc người khác” do suy nghĩ chủ quan tạo ra mà thôi. 

Chiều kích tuyến tính là phạm vi của những thứ có thể chứng minh được theo lối khách quan, trong khi đó, ngược lại, chiều kích phi tuyến tính là có thể khẳng định, có thể chứng tỏ và có thể xác nhận, nhưng chủ yếu là ở bên trong và có tính chủ quan. Phi tuyến tính không phải là đối tượng của tuyến tính, tuyến tính không thể định nghĩa hay mô tả được nó, đấy là do những khác biệt to lớn giữa hai hệ hình. 

Những tương phản này của hệ hình được ghi nhận theo lối kinh điển, chẳng hạn, bằng sự phân biệt giữa khoa học “hàn lâm” (điểm hiệu chỉnh 440) và “lâm sàng” (điểm hiệu chỉnh 445). Trong khi khoa học hàn lâm bị hạn cuộc trong các quy trình trí tuệ mang tính thống kê, thì khoa học lâm sàng bao gồm ảnh hưởng của bối cảnh, chẳng hạn như ý định, tính chính trực của mục đích và tầng hiệu chỉnh của những người tham gia. Do đó, trong y học, bác sĩ lâm sàng dày dạn kinh nghiệm không chỉ sử dụng khoa học mà còn cả nghệ thuật chữa trị và tất cả các phương pháp thích hợp mà kinh nghiệm chứng tỏ là có lợi, trong đó có áp dụng cái gọi là phương pháp phi truyền thống, thường mang lại kết quả tích cực (“Mù hệ hình” Hawkins, 2006).

Căn bệnh loét tá tràng, không cách nào chữa được, đe dọa tính mạng của tác giả đã được chữa khỏi vĩnh viễn chỉ sau ba lần châm cứu “không khoa học” (như đã trình bày trong bài giảng “Bệnh tật và Tự chữa lành”, Hawkins, 1986). Lĩnh vực hàn lâm giải quyết những vấn đề có thể dự đoán được và mang tính thống kê. Bác sĩ lâm sàng giải quyết kết quả. Vì vậy, “có tâm” là điều kiện tiên quyết để bác sĩ lâm sàng thành công, nhưng nó không phải là yếu tố có thể đo lường được trong lĩnh vực hàn lâm. Ngược đời là, thành công trong lĩnh vực lâm sàng và kinh nghiệm của những người chữa bệnh dày dạn thường chủ yếu là những người không đáp ứng một cách nhiệt tình với giới khoa học hàn lâm. Yếu tố này là khám phá quan trọng nhất của phương pháp điều trị tâm thần lớn nhất ở Hoa Kỳ trong khoảng 25 năm qua (Hawkins và Pauling, 1973). 

Trong khi khoa học hàn lâm không thừa nhận giá trị của hệ tư tưởng hay các phương pháp “phi khoa học”, hay thậm chí bôi nhọ những phương pháp này, thì bác sĩ lâm sàng lại linh hoạt hơn, khiêm tốn hơn về mặt trí tuệ và do đó, quan tâm đến những thứ thực sự có tác dụng. Có lẽ ví dụ nổi tiếng nhất và được nhiều người công nhận nhất là tổ chức Những người nghiện rượu ẩn danh (Alcoholics Anonymous), thông qua nó mà hàng triệu người hoàn toàn tuyệt vọng đã hồi phục một cách đáng kinh ngạc, trong đó có nhiều nhân vật cao cấp và người nổi tiếng. Trong số những người hồi phục dựa trên hoạt động tâm linh còn có hàng ngàn bác sĩ và chuyên gia trong những lĩnh vực khác. Yêu cầu duy nhất để hồi phục, để chữa lành những căn bệnh nghiện ngập vô vọng và tàn khốc là thái độ tâm linh khiêm nhường và quy thuận trước một quyền lực cao hơn (Tiebou, 1999). Do đó, sức mạnh và hiệu quả của các tiền đề tâm linh đã được chứng minh một cách cực kỳ rõ ràng và đầy ấn tượng (điểm hiệu chính của các nhóm 12 bước là 540). 

Giá trị của công trình nghiên cứu hiệu chỉnh ý thức (chính phương pháp này có điểm hiệu chỉnh 605) là nó bao gồm cả hai lĩnh vực tuyến tính và phi tuyến tính, cũng như các hệ hình về thực tại tương ứng với chúng. Nó cung cấp sự liên tục với vùng giao nhau của hai hệ hình, có thể kiểm chứng được. Đáng chú ý nhất trong phạm vi các tầng hiệu chỉnh trên 450 và sau đó tiếp tục tăng lên đến 500 và lên các tầng cao hơn, trong đó có các vị thánh (điểm hiệu chỉnh 570-700), rồi đến các thánh thần giáng thế vĩ đại, chẳng hạn như Chúa Jesus Christ, Zoroaster, Buddha và Krishna (tất cả đều ở tầng 1.000), tất cả những thánh thần giáng thế này đều đưa đời sống con người trong nhiều thế kỷ vào bối cảnh mới. 

Nội lực của các tầng ý thức từ 400 đến 499 được thể hiện bởi những người khổng lồ trong khoa học, như Steinmetz, Edison, Galileo, Kepler, Newton, Einstein, Heisenberg và Freud (xem Chương 5). Như có thể thấy, bằng cách đối chiếu tầng hiệu chỉnh của các nhà khoa học nổi tiếng với tầng của các bậc thầy tâm linh nổi tiếng, các tầng từ 400 đến 499 là vùng giao thoa, thực tại tâm linh chính thức bắt đầu ở tầng 500 trở lên. 

Mỗi tầng ý thức trên 200 đều góp phần vào sự tiến bộ và viên mãn tiềm năng của con người. Những kim tự tháp vĩ đại ở Ai Cập là do các pharaoh xây dựng, được hình thành bằng sức lao động của con người và kỹ thuật tuyến tính, nhưng thực ra đấy là kết quả của các yếu tố phi tuyến tính của cảm hứng và ý định, các thánh đường lớn ở Châu Âu (có điểm hiệu chỉnh 700 trở lên) thì  cũng thế. 

Đáng chú ý là cuốn sách bán chạy nhất ở Mỹ trong những năm gần đây là Purpose-Driven Life (Sống theo mục đích) của mục sư Rick Warren. Nó được phổ biến rộng rãi đến mức tất các các điểm dừng xe tải ở Mỹ đều có. Mục tiêu cũng như sự hấp dẫn của nó tạo ra ý nghĩa, giá trị tâm linh và ý nghĩa cho cuộc sống, và do đó, tương tự như khoa học, có đóng góp to lớn cho xã hội và giá trị của đời sống con người.

 Không có khoa học, thì hàng triệu người đã chết vì bệnh tật, nhưng không tuân theo các giá trị tâm linh, hàng triệu người cũng sẽ chết vì chất nổ và vũ khí hạt nhân được phát triển một cách khoa học. Do đó mới nói rằng khoa học mà không có đức tin thì trống rỗng và khinh suất, đức tin mà không làm được việc làm tốt thì giá trị xã hội sẽ bị hạn chế. Trí tuệ kết hợp cả hai, vì con người sống đồng thời trong cả hai miền tuyến tính và phi tuyến tính. 

Trong khi đức tin là có thể được xác nhận thì sự thật lại mang tới cho nhân loại những lợi ích không thể kể xiết. Tin vào dối trá là nguy hiểm nhất, như có thể thấy qua các cuộc chiến tranh thảm khốc trong lịch sử và thậm chí cả chủ nghĩa khủng bố Hồi giáo thời mạt pháp hiện nay, những khái niệm như “tôn thờ cái chết” chứ không phải sự sống (theo bin Laden), và có điểm hiệu chỉnh ở tầng 20, rất đáng lo ngại. Sự thật có thể kiểm chứng được trong cả khoa học và đức tin là tối quan trọng đối với sự sống còn, cũng như hạnh phúc và và viên mãn của con người. 

Nội dung và bối cảnh

Bối cảnh nói đến trường tổng thể bao gồm cả nội dung. Nội dung nói đến các chi tiết cụ thể, trong khi bối cảnh nói đến những điều kiện phổ biến, hệt như thảm thực vật biến động theo các mùa trong năm. Thường thì người ta không xác định, không biết hay thậm chí nghi ngờ bối cảnh. Do đóm, gần đây người ta đã phát hiện các hiện tượng sinh học (chẳng hạn như quá trình thụ tinh của trứng) là khá khác biệt nếu nó diễn ra trong điều kiện không trọng lực, chẳng hạn như trên tàu con thoi. Trước đây người ta không hề nghĩ như thế. Không có gì lạ nếu quá trình chữa lành và thậm chí cả những sự kiện kỳ ​​diệu có thể xảy ra trong trường tâm linh năng lượng cao (ví dụ, như ở các vị thánh). Một số người trị liệu đồng thời là người chữa lành và có tỷ lệ hồi phục khá cao. Ảnh hưởng vượt trội của trường bối cảnh cũng được thể hiện bằng các mô thức di cư hoặc hoạt động sinh học liên quan đến chu kỳ của mặt trăng của các loài giáp xác sống rất sâu dưới đáy biển (như được thể hiện trong bộ phim tài liệu truyền hình Blue Planet (điểm hiệu chỉnh 480), nó còn tiết lộ tính thẩm mỹ tinh tế của quá trình tiến hóa cũng là quá trình sáng tạo). 

Do đó, ý định là yếu tố tiềm ẩn nhưng thường là rất quan trọng trong việc xác định kết quả (“hiệu ứng Heisenberg”). Như đã nhận xét, ngay cả bài kiểm tra cơ bắp đơn giản nhằm xác định tầng ý thức/sự thật cũng không hiệu quả, trừ khi được thực hiện trong trường tổng thể từ tầng 200 trở lên. Vì vậy, đức tin cộng với ý định tạo điều kiện thuận lợi cho hiểu biết và khám phá tâm linh. Dâng hiến cho sự thật chứ không phải phục vụ ý kiến ​​của bản ngã sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình mặc khải sự thật. Vì vậy mới nói: “Đức hạnh chính là phần thưởng” theo nghĩa là nó mang lại nhiều kết quả có lợi hơn mà lại cần ít nỗ lực hơn. “Những điều chúng ta lưu giữ trong tâm trí sẽ có xu hướng tự hiển lộ” cũng là sự hiển lộ của trường bối cảnh. 

Do đó, hiển lộ thông qua xuất hiện không chỉ là chức năng của quan hệ nhân quả tuyến tính mà còn là xác suất, phụ thuộc vào các điều kiện tổng thể cũng như cục bộ, trong đó có ý thức của con người. Vì sức mạnh bên trong của Thần tính là vô biên vô tế, cho nên toàn bộ Sáng tạo là quá trình hiển lộ liên tục của tiềm năng, xuất hiện trong thực tại của chính tồn tại. Cái có tiềm năng xảy ra trong trường yếu sẽ trở thành khả năng xảy trong trường mạnh hơn và chắc chắn sẽ xảy ra trong trường có Sức mạnh Vô biên Vô tế (ví dụ, Thần tính). 

Trong chiều kích của con người, khả năng cũng là biểu hiện của “ý chí”, nó là biểu hiện của ý định. Những giới hạn thông thường thường được khắc phục bằng ý chí mạnh mẽ, nó được thể hiện ngay cả trong những vụ thảm họa, kết quả thường là rất khác nhau, đấy là do các khuynh hướng sẵn có (nghiệp), nó cũng tạo ra ảnh hưởng như những nhân tố không nhìn thấy được. 

Các sự kiện có thể phục vụ cho Đại ngã không phải lúc nào cũng trùng khớp với mong muốn của bản ngã/tự ngã mà phục vụ mục đích cao hơn, không nhìn thấy được của Đại ngã thực sự. Các sự kiện của con người đại diện cho kết quả của vô số nhân tố mà chúng ta không biết, như thể chúng là kết quả cuối cùng của một loạt các trường ảnh hưởng, tương tự như dãy máy biến áp giảm dần. Do đó, nếu không có Ân sủng Thiêng liêng, thì đời sống sẽ rơi vào bế tắc toàn diện (được hiểu chỉnh là đúng, với điểm chỉnh 1.000).

 Thực tại lượng tử: Nghiên cứu ý thức 

Như đã giải thích ở những chỗ khác, vượt trên chiều kích của vật lý học Newton là trường ý thức vô biên vô tế, trong đó không có “ở đây” và “ở đó”, cũng không có “lúc đó” và “bây giờ”, cũng không có chuỗi các sự kiện tuyến tính. Nó là toàn trí toàn thức và bao gồm tất cả những gì đã từng tồn tại. Ngay khi một câu hỏi được đặt ra, câu trả lời cũng xuất hiện ngay lập tức. Chỉ những gì thực sự tồn tại mới là đối tượng để hỏi, nhưng nó không tồn tại cho đến khi câu hỏi được đặt ra. 

Trong toán học của Nguyên lý bất định Heisenberg, năng lượng của một câu hỏi thực tế tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình chuyển đổi từ khả năng thành biểu hiện bên ngoài như là thực tại. Tương tự như sương đọng lại khi nhiệt độ giảm và vượt qua “điểm tạo sương” - phụ thuộc vào độ ẩm. 

Tầng ý thức của người hỏi/người quan sát càng cao thì khả năng xảy ra “sự sụp đổ của hàm sóng” (tiềm năng) thành hiển lộ, như là thực tại, càng cao. Đây là cơ chế cơ bản của phương pháp hiệu chỉnh ý thức, trong đó mức độ chính xác tăng lên tương ứng với tầng ý thức của người hỏi (Jeffrey và Colyer, 2007).

CHƯƠNG 4

 

THỰC TẠI LÀ CHỦ QUAN HAY KHÁCH QUAN?

 

Dẫn nhập - Bản sắc cá nhân: “tự ngã” 

Tâm trí chỉ chắc chắn ở một điểm: nó biết “Tôi là tôi”. Nhưng, “tôi” ngụ ý điều gì? Tự ngã dường như là duy nhất, riêng biệt, và là tâm điểm của sự chú ý, nhưng có lẽ nó cũng giống như “tự ngã” của những người khác. Người ta cho rằng sự khác biệt cơ bản giữa mình và những người khác là về thể chất hay tình huống. Những khác biệt này dường như xuất phát từ những điều thích hay không thích mang tính cá nhân, cộng với những giả định hoặc thậm chí là lưỡng phân, chẳng hạn như “Tôi nghĩ; cho nên, tôi tồn tại,” hay phải là: “Tôi tồn tại; cho nên, tôi nghĩ” (Sturme, 2007)? 

Trình tự của các sự kiện và trải nghiệm bên trong và bên ngoài tạo ra dữ liệu trong ngân hàng bộ nhớ của của não bộ để cảm giác về “cái tôi” (I-ness) bao gồm cả những sự kiện bên trong cũng như bên ngoài song song với việc ghi lại thời-gian-và-không-gian, cũng được người ta sở hữu như là “tôi” và “tâm trí của tôi”. Do đó, tâm trí ngày càng sở hữu khối lượng dữ liệu khổng lồ từ nhiều nguồn, với nhiều tầng ý nghĩa và mức độ quan trọng. Cùng với quá trình trưởng thành, sẽ xuất hiện nhận thức về trách nhiệm và trách nhiệm giải trình, cũng như phạm vi tự do hành động. Từ tất cả những yếu tố này xuất hiện hình ảnh của tự ngã mang tính chủ quan như là tác nhân chủ yếu, có chủ ý, có ý chí trong việc thực hiện các tùy chọn và lựa chọn, cũng như vị trí của quá trình trải nghiệm. Lúc đó nó cũng là người quyết định, người lựa chọn và, do đó, là ý chí. 

Từ tự ngã bên trong cũng xuất hiện các nhu cầu, ý định, ác cảm và sức hấp dẫn mang tính bản năng, mà trung tâm của nó là hiện tượng được gọi là “trải nghiệm”. Khi đó ý thức về tự ngã thay đổi từng bước một, khi quá trình xử lý dữ liệu tuần tự mạnh lên, và cuối cùng tâm trí kết luận rằng nó là người trải nghiệm các sự hiện, cả trong quá khứ lẫn hiện tại, cả bên trong và bên ngoài, cũng như trong tương lai có thể dự đoán được. Do đó, tâm trí kết luận rằng, nó là nguyên thủy, có tính nhân quả, duy nhất, mang tính cá nhân và tách biệt với những người khác, mà nó coi là tương tự như nó. 

Từ sự phức tạp này xuất hiện những hình ảnh của tự ngã cá nhân cũng như tự ngã xã hội (ví dụ, “nhân cách”) và bản sắc cá nhân, cũng như những giả định về bản chất của sự tồn tại của chính con người. Sự đặc biệt được tích hợp lại này của tự ngã như là “tôi” (me) có lịch sử và tên gọi và do đó, trở thành một nhân cách liên kết với một cơ thể riêng biệt và rất nhiều chức năng mang tính bản năng của động vật, nhưng nó cũng có ý thức tự chủ bẩm sinh, cùng với tự ngã như là tác nhân nhân quả chủ yếu. 

Tổng thể của trải nghiệm được biểu thị bằng thuật ngữ trừu tượng là “đời sống”. Ma trận của tồn tại mang tính sinh học, thoáng qua và hữu sinh hữu tử có thể xác nhận được, từ đó xuất hiện câu hỏi hóc búa mang tính hiện sinh: “Tôi đến từ đâu? Làm sao tôi biết? Làm sao tôi biết là tôi biết?” Do đó, mỗi người đều đối mặt với câu hỏi về chính ý thức và biểu hiện trừu tượng hơn của nó, gọi là “linh hồn”. 

Quá trình tiến hóa của tự ngã/bản ngã 

Như đã mô tả, sử dụng kỹ thuật đơn giản của nghiên cứu ý thức, sự thật hay dối trá của bất kỳ lời tuyên bố nào cũng có thể được xác định một cách nhanh chóng mức độ chắc chắn cũng có thể được thể hiện bằng thang đo ý thức tăng dần, được hiệu chỉnh từ 1 đến 1.000, bao gồm tất cả các khả năng bên trong vương quốc của loài người và thậm chí vượt ra bên ngoài vương quốc của loài người. Con số được hiệu chỉnh thu được nhờ kỹ thuật phi cá nhân, dựa trên phản xạ mang tính sinh lý (tương tự như giấy quỳ, để đo độ pH) độc lập với quan điểm cá nhân. Tương tự như đo nhiệt độ của một người nào đó hoặc bất kỳ dữ liệu lâm sàng nào khác. (Xem Phụ lục C để tìm hiểu phương pháp luận). Năng lực này chỉ đơn giản là phẩm chất mang tính đáp ứng vốn có của đời sống sinh học. Quá trình phát triển trong quá khứ của chính ý thức trong những giai đoạn kéo đã được lập thành bản đồ và mô tả trong những tác phẩm xuất bản từ trước (Hawkins, 1995, 2006) và được in lại ở đây. 

Các tầng ý thức được hiệu chính

THẾ GIỚI ĐỘNG VẬT

 

Vi khuẩn

1

Chim di  cư

105

Sinh vật đơn bào

2

Chim săn  mồi

105

Loài giáp xác

3

Loài gậm nhấm

105

Sâu bọ, côn trùng

6

Tê giác

105

Động vật thuộc lớp nhện

7

Chim hót

125

Loài lưỡng cư

17

Bồ câu

145

20

Gấu bắc cực

160

Bạch tuộc

20

Gấu xám ở Tây Bắc Mỹ

160

Cá mập

24

Trâu nước

175

Rắn hổ lục

35

Gấu đen

180

Rồng Komodo

40

Chó rừng, Cáo

185

Loài bò sát

40

Chó sói

190

     Động vật có vú săn mồi

     (Linh cẩu, sư tử, hổ)

40

Hà mã

190

Rắn

45

Lợn cỏ peccary

195

Cá sấu châu Mỹ

45

Động vật ăn cỏ: Ngựa vằn, Linh dương, Hươu cao cổ

200

Khủng long

60

Hươu, Nai

205

Cá voi

85

Bò rừng bizon

205

Cá heo

95

Lợn nhà

205

Voi

235

Nai sừng tấm

210

Ngựa nhà

240

Bò sữa

210

Mèo

240

Cừu

210

Mèo nhà

245

Gia súc

210

Ngựa đua

245

Chó

245

Chó nhà

250

Khỉ

250

Khỉ đột

275

Tinh tinh

305

Đặc biệt: Mèo Oscar

250

 

 

 

Ngoại lệ: 

Vẹt xám châu phi được huấn luyện tên Alex, 401

Koko (con khỉ đột được huấn luyện)  405     

Tiếng hót của loài chim hót 500

Tiếng gừ gừ của mèo  500     

Động tác vẫy đuôi của chó 500

 Khoảng một phần ba người Mỹ có thể sử dụng kỹ thuật phản ứng của cơ bắp trong nghiên cứu ý thức (“Phản xạ trước sự thật, đấy là nói nếu họ có ý định chính trực). Họ phải có điểm hiệu chỉnh cao hơn 200 và quan tâm tới sự thật chứ không phải là tìm cách củng cố quan điểm mà mình ưa chuộng. Tầng ý thức của người tham gia càng cao (như ý định nguyên sơ) thì mức độ chính xác cũng càng cao (Jeffrey và Colyer, 2007). 

Bằng cách sử dụng kỹ thuật đơn giản này, phẩm chất của ý thức được thể hiện dưới dạng ý nghĩ, cảm xúc hoặc hiểu biết có thể được phân tích và mô tả theo thang đo tăng dần, dùng nó có thể biết được tầng cụ thể của sự thật được mặc khải qua một số câu hỏi và câu trả lời. (Kiểm tra sức mạnh cơ bắp là kiểm tra đơn giản nhất, nhưng cũng có những cách kiểm tra khác, chẳng hạn như như phản ứng của đồng tử (Davis, 2007) hoặc những thay đổi trong chức năng của não bộ được thể hiện bằng hình ảnh từ trường. Phản ứng mang tính sinh học trước sự thật và dối trá là trọng tâm của công trình nghiên cứu trị giá hàng triệu đôla đang được các cơ quan an ninh của chính phủ Hoa Kỳ tiến hành (Applebaum, 2007), cũng như đang được Cục An ninh Giao thông Vận tải tiến hành tại các sân bay, gọi là “Spot Security”, nhằm phát hiện những kẻ khủng bố tiềm tàng. 

Bằng cách tự tìm hiểu, người ta sẽ phát hiện được rằng những ý nghĩ và quá trình tư duy là rời rạc, độc đáo, riêng biệt và khác nhau và do đó, được mô tả là “tuyến tính”, có nghĩa là có thể xác định được cũng như có thể định vị được trong không gian, thời gian và trong các mối quan hệ. Ngược lại, khả năng trở thành người nhận thức được ý nghĩa đang được giữ trong tâm trí là kết quả của trường phi tuyến tính bao trùm của chính nhận thức/ý thức. Do đó, trường ý thức cũng tương tự như màn hình của tivi. Nội dung tuyến tính là chương trình mà người ta có thể xem. Do đó, tất cả các trải nghiệm đều đồng thời là trải nghiệm nội dung (nhận thức, hình ảnh, ý nghĩ, cảm xúc, v.v.) được chiếu sáng bởi trường bối cảnh phi tuyến tính (ánh sáng của ý thức/nhận thức). 

Không phân biệt được nội dung và bối cảnh là lý do vì sao các cuộc thảo luận và luận cứ được coi là có tính khoa học đang giữ thế thượng phong về bản chất của ý thức lại hạn chế và không hiệu quả đến mức như thế; nó có điểm hiệu chỉnh ở tầng 400 hoặc thường là còn thấp hơn. Cực kỳ quan trọng là phải phân biệt được trường năng lượng vô biên vô tế của chất nền của chính ý thức/nhận thức (điểm hiệu từ 600 trở lên) với nội dung tuyến tính có giới hạn của tâm trí (ví dụ, ý nghĩ, hình ảnh, cảm xúc, và ký ức). 

Như vậy là, ý thức là một cái “đã định sẵn” phi cá nhân, nhưng nội dung của nó lại bao gồm những định nghĩa tuyến tính về thời gian và không gian, đấy còn là kết quả của việc lập trình, có thể là cố ý hoặc vô tình. Do đó, tâm trí của con người vừa có tính chủ quan/mang tính trải nghiệm và chọn lọc cũng như phi cá nhân, không chọn lọc, và không cố ý. Vì thế, tâm trí không biết chắc chắn là màn hình hay chương trình có thực sự là “thật” hay không. Chỉ cần quan sát, có thể thấy rõ rằng phẩm chất của ý thức/nhận thức là năng lực phi cá nhân nguyên thủy, bên trong của chính điều kiện sống, nhưng nội dung cụ thể của nó là quá trình phát triển trong quá khứ của cá nhân. 

Thực tại là chủ quan hay khách quan? Tại một thời điểm nào đó, tâm trí hướng vào bên trong suy ngẫm về sự thật của phẩm chất của nó, nghĩa là, “Làm sao tôi biết? Làm sao tôi biết là tôi biết? Làm sao tôi biết rằng cái mà tôi nghĩ là sự thật thực sự là sự thật?” Ngoài ra, “Sự sống xuất phát từ đâu và nguồn gốc của nó là gì?” Trạng thái chủ quan này là phi tuyến tính, nguyên thủy và có tính tiên nghiệm. Từ trường phi cá nhân này xuất hiện ý thức rất cá nhân về “cái tôi” (I-ness) như là phẩm chất cơ bản của nội dung. Ý thức chủ quan cơ bản này của “Tôi” có khả năng tự nhận thức bằng phản xạ, trong khi đó, ngược lại, tâm trí chỉ nghĩ. 

Như đã nói trước đây, René Descartes đã trình bày nhận xét sâu sắc rằng có tâm trí (res interna/cogitans), rồi sau đó có thực tại bên ngoài (res externa - thế giới hay tự nhiên như nó đang là). Nguyên tắc này có thể được coi là tuyên bố về sự khác biệt giữa tri giác và bản chất. Thường có sự chênh lệch rất lớn giữa tri giác và bản chất, nó là thế tiến thoái lưỡng nan của con người, như các giác giả trong trong quá khứ từng nhận xét, như trong câu châm ngôn của Socrates: con người luôn chọn cái dường như là “tốt”, nhưng khó khăn là người ta không thể phân biệt được cái tốt “thực sự” với cái là tưởng là tốt (tức là, phân biệt giữ biểu hiện bên ngoài với bản chất). Lưu ý rằng “người làm điều tốt” (điểm hiệu chỉnh 190) thường tạo ra thảm họa xã hội trong những giai đoạn kéo dài (Charen, 2004). 

Trong tất cả các truyền thống và giáo lý tâm linh, người ta thừa nhận sự chênh lệch như thế là khiếm khuyết căn bản và nền tảng, và công nhận khiếm khuyết cơ bản của con người được gọi “vô minh”. Trong nghiên cứu ý thức, khó khăn được cho là xuất phát từ những hạn chế về mức độ tiến hóa của chính ý thức (cả cá nhân và tập thể). Do đó, xuất hiện những vấn đề về tội lỗi và trách nhiệm và hậu quả của sự lựa chọn và hành động của mỗi người.

Cấu trúc của tâm trí con người 

Trong các tác phẩm và công trình nghiên cứu trước đây (Hawkins, 1995-2006), cấu trúc của tâm trí con người được ví như một chiếc máy tính, trong đó cấu trúc cơ bản của tâm trí giống như phần cứng, còn nội dung của nó vào phần mềm. Tâm trí có thể kiểm soát một cách rất hạn chế nội dung của chương trình; do đó, con người đồng thời có trách nhiệm và có trách nhiệm giải trình, nhưng cũng là người ngây thơ. 

Trong thời đại thông tin hiện nay, việc lập trình tâm trí diễn ra liên tục và thường xuyên, nhưng tâm trí lại không có cơ chế bảo vệ; do đó, có thể làm cho người ta tin vào bất cứ điều gì, chỉ đơn giản là nhắc đi nhắc lại là đủ, dù cái đó có kỳ quái hay vô lý đến mức nào, Joseph Goebbels, Bộ trưởng tuyên truyền của Đệ tam Đế chế của Hitler, đã từng nói như thế. Việc lập trình như thế cũng tương tự như nhồi sọ giáo điều vào đầu óc người ta, nó nằm ngoài nhận thức. Tâm trí con người thực ra là vô tình bị người ta liên tục nhồi sọ những giáo điều khác nhau (xem Horowitz, 2007). 

Tất nhiên những điều vừa trình bày là kiến thức mà hiện nay mọi người đều biết. Nghiên cứu các thí nghiệm cai ngục/tù nhân (Milgram, 1974; Zimbardo, 2007) cho thấy rằng ngay cả những người bình thường cũng có thể trở thành những kẻ tàn bạo. Bộ phim và cuốn sách nổi tiếng Chúa Ruồi là ví dụ điển hình. 

Trong những điều kiện thích hợp, những hành vi nguyên thủy xuất phát từ những tầng sâu bên trong của “Cái Nó” của Freud có thể được kích hoạt, và được đưa lên bề mặt (“trở thành người điên loạn và bạo lực”) và được thể hiện thông qua những động phá hoại như đã được thể hiện qua hành động tàn sát 32 người vô tội do Cho Seung-Hui (điểm hiệu chỉnh 5!), sinh viên Đại học Công nghệ Virginia, thực hiện vào tháng 4 năm 2007. Những hành vi nguyên thủy tương tự xảy ra do những kẻ giết người bừa bãi ở các trường học hoặc nơi làm việc và tội phạm tràn lan xảy ra sau cơn bão Katrina, sau đó là tình trạng vô chính phủ thực sự. (Người ta sẽ ngạc nhiên trước sự bình thản của những người theo chủ nghĩa vô chính phủ khi những người này coi thảm họa của tình trạng hỗn loạn ngoài đời thực trái ngược với việc truyền bá triết lý như là lý thuyết xã hội của họ). 

Tóm lại, tâm trí được xây dựng thông qua quá trình tiến hóa sinh học, cho nên khả năng của nó trong việc phân biệt ngay cả thực tại với vọng tưởng và nhận thức sai lầm đầy cảm xúc không chỉ là khiếm khuyết mà còn bị hạn chế rất nhiều. Hạn chế này là rõ ràng nhất ở tầng hiệu chỉnh dưới 200, do đó, nền tảng ý thức của cả bạo lực cá nhân và chính trị có thể có điểm hiệu chỉnh thấp, từ 10 đến 20 (ví dụ, nhồi sọ của bọn khủng bố). 

Chính sinh lý của não bộ phản ánh tầng ý thức, sơ đồ sinh lý não thể hiện điều đó.

 Trang 113 tác phẩm Truth vs. Falsehood

 

        Dưới 200

    Trên 200

Não trái giữ thế thượng phong

Não phải giữ thế thượng phong

Tuyến tính

Phi tuyến tính

Căng thẳng – Adrenaline[1]

Bình an - Endorphine[2]

Chiến đấu hay chạy trốn

Cảm xúc tích cực

Cảnh giác-phản kháng-Kiệt sức

Hỗ trợ tuyến ức

Tế bào tiêu diệt và miễn dịch

Tế bào tiêu diệt

↓Căng thẳng tuyến ức

↑Miễn dịch

Rối loạn hệ thống kinh mạch

↑Chữa lành

Bệnh

Hệ thống kinh mạch cân bằng

Cơ phản ứng yếu

Cơ phản ứng mạnh

Chất dẫn truyền thần kinh - Serotonin[3]

 

Đường dẫn tới cảm xúc nhanh gấp đôi so với đi từ vỏ não trước trán tới cảm xúc

Đường dẫn tới cảm xúc chậm hơn đôi so với đi từ vỏ não trước trán và não thể phách

Đồng tử giản ra

Đồng tử co lại

 Quan trọng:

Nỗ lực và ý định tâm linh làm thay đổi chức năng não và sinh lý của cơ thể, đồng thời thiết lập một khu vực riêng biệt cho thông tin tâm linh trong vỏ não trước trán của não phải và não thể phách (não năng lượng) tương hợp của nó.

 Khả năng nhận biết thực tại của cá nhân là kết quả của tầng ý thức và sinh lý não phù hợp. Đáng chú ý là ý định tâm linh làm tăng đáng kể khả năng của tâm trí và chức năng của não bộ để tâm trí có năng lực tốt hơn trong việc phân biệt được bản chất. Như vậy, câu trả lời cho câu hỏi “Mục đích của đời sống hay của thế giới là gì?” phụ thuộc chủ yếu vào tầng ý thức được hiệu chỉnh và sinh lý não liên quan với nó của người đang suy nghĩ câu hỏi này. Nhìn chung, chúng tôi thấy rằng tầng ý thức càng cao (tâm trí cao hơn), thì khả năng phân biệt sự thật, bản chất và thực tại với vọng tưởng và tri giác sai lầm đầy cảm xúc (tâm trí thấp hơn) càng lớn.

Cảm giác về thực tạ 

Tâm trí tự động cho rằng nó liên tục nhận thức được thực tại và nó không biết rằng những gì nó coi là thực tại thực ra chỉ là chức năng xử lý ở bên trong mang tính giả định của chính nó, gọi là “người trải nghiệm” (Hawkins, 2000-2006). Do đó, dữ liệu đã được xử lý một cách tự động và được chỉnh sửa thông qua cơ chế của bản ngã, diễn ra trong khoảng 1/10.000 giây, quá trình này đưa thêm giá trị, ý nghĩa và mức độ quan trọng cũng như một chút cảm xúc và ký ức hoặc lấy bớt những thứ đó đi. Cái mà tâm trí bình thường giả định là “sự thật” thực ra là hỗn hợp đã được xử lý của hàng ngàn biến số với những mức độ khác nhau, cùng với quá trình chỉnh sửa, lựa chọn, bóp méo, và đánh giá đầy cảm xúc và thiên vị được xếp chồng lên nhau. Quá trình chỉnh sửa được thực hiện một cách vô thức trong 1/10.000 giây và người ta không loại bỏ hoặc bỏ qua được nó cho đến khi người đó đạt được Chứng ngộ (điểm hiệu chỉnh 600 trở lên). 

Đức tin và khoa học

 Thuật ngữ “khoa học” ngụ ý quan sát dữ liệu mà không có thiên kiến và giả định về tính khách quan vị tha thông qua phép biện chứng của lý trí, duy lý và logic. Việc xử lý dữ liệu cũng được coi là “khách quan”, đồng thời, giá trị của nó, mức độ quan trọng và ý nghĩa đều đồng thời là kết quả việc tô màu theo lối chủ quan. Trong khi các trường của khoa học trừu tượng nằm trong các tầng từ 400 tới 499 (xem Bản đồ ý thức), các thí nghiệm khoa học riêng lẻ thường thấp hơn rất nhiều so với tầng Sự thật, 200 (ví dụ, “khoa học tạp nham”). Trên thực tế, trong những thời điểm khác nhau của cuộc đời, một nhà khoa học có thể làm những thí nghiệm nghiên cứu rất khác nhau, từ cao tới 460 xuống còn 170, đấy là do sự can thiệp của ý định. 

Ví dụ như công trình nghiên cứu mới đây về hiệu quả của cầu nguyện trong việc thúc đẩy quá trình chữa lành, xuất hiện trên American Journal of Cardiology (tháng 4 năm 2006) và kết quả được báo cáo là chẳng mang lại kết quả gì. Tất nhiên, kết quả này trái ngược với rất nhiều tác phẩm xuất hiện trong nhiều năm qua, với kết luận hoàn toàn ngược lại, cùng với hàng triệu người hồi phục trong những nhóm đức tin/những nhóm tự giúp nhau bằng cầu nguyện. Thiết kế công trình nghiên cứu kéo dài nhiều năm trị giá hàng triệu đôla này chỉ có điểm hiệu chỉnh 170. (Kỳ lạ là, Quỹ Templeton, tổ chức có điểm hiệu chỉnh 500, lại là đơn vị tài trợ công trình nghiên cứu này).

 Ví dụ tương tự là công trình nghiên cứu của Crick: phát hiện ra chuỗi xoắn DNA. Công trình nghiên cứu này có điểm hiệu chỉnh 440, trong khi dự án nghiên cứu gần đây của ông ta được thiết kế nhằm chứng minh rằng ý thức chỉ là kết quả của hoạt động thần kinh, chỉ có điểm hiệu chỉnh 170. (Ông ta là người vô thần.)

 Khoa học xa rời sự thật đã được xác thực là hiện tượng phổ biến, đấy là do các nguồn tài trợ thiên vị, tài trợ cho định vị bị chính trị hóa và mục đích mà người ta thúc đẩy, qua đó niềm tin vào khoa học trở thành “thuyết khoa học vạn năng” (scientism), gắn liền với đức tin và lòng nhiệt tình mù quáng. Vì vậy, “môi trường luận” (environmentism) dẫn đến sự hoảng loạn về trái đất nóng lên, được cho là do con người gây ra (khí nhà kính, v.v.), được hiệu chỉnh là sai (điểm hiệu chỉnh 190). Những lần khoan băng sâu ở vùng cực và những dữ liệu khác chỉ ra rằng chu kỳ nóng lên của trái đất là kết quả của hoạt động từ trường của bề mặt mặt trời (Lehr và Bennett, 2003; và Mehlman, 1997). Những công trình nghiên cứu này có điểm hiệu chỉnh 455, đó là tầng giá trị của khoa học. Xin lưu ý rằng trong khi khối lượng băng ở Bắc Cực giảm đi, thì khối lượng băng ở Nam Cực đã tăng lên, thậm chí tăng nhiều hơn số lượng băng bị mất ở Bắc Cực. 

Tạp chí Journal of the American Medical Association (tháng 6 năm 2005) báo cáo rằng, một phần ba các báo cáo nghiên cứu sau này được chứng minh là có sai sót. Công trình nghiên cứu tập thể về sự nguy hiểm giả định của việc hút thuốc thụ động có điểm hiệu chỉnh 190 và bị tòa án liên bang tuyên bố là vô hiệu (Meier, 1998). Ngay cả các công trình nghiên cứu liên quan đến béo phì với các loại bệnh tật mà sau này mới xảy ra hóa ra đã bị cường điệu hơn 200%.

 Một nguồn gốc khác làm sai lệch các báo cáo nghiên cứu khoa học là giải thích sai tương quan mang tính thống kê là quan hệ nhân quả. (Sự kiện là 90% số người mắc bệnh lao thường đi giày màu nâu không có nghĩa là giày màu nâu gây ra bệnh lao). Tương quan thống kê không phải là quan hệ nhân quả cũng được Austin viết trên tờ The Economist (tháng 2 năm 2007). Nghịch lý là, cơ quan báo cáo càng có uy tín, thì khả năng báo cáo sai càng lớn. Đây rõ ràng là do lợi thế của các phương tiện truyền thông, họ được mệnh danh là nhà tài trợ nổi tiếng. Xin lưu ý rằng, trong quá khứ, gần như tất cả những khám phá vĩ đại mang lại lợi ích cho nhân quần đều bắt nguồn từ những khởi đầu rất khiêm tốn (ví dụ, khám phá của Fleming dẫn đến việc tìm ra penicillin).

 Do những khiếm khuyết cố hữu và tính thất thường của tâm trí con người, không thực hiện hiệu chỉnh ý thức thì không thể thực sự xác định được tầng của sự thật, thậm chí ngay từ khi nó được thể hiện như là dự định. Mặc dù người ta có thể nghi ngờ hay trực giác được khả năng thiên vị, nhưng chỉ có thể được phát hiện được nó và chứng minh một cách thuyết phục bằng chính nghiên cứu ý thức. Khi đó sẽ phát hiện ra rằng có thể phát hiện được những dối trá có ảnh hưởng sâu trong trong hầu hết các hoạt động của con người. Tuy nhiên, hầu hết mọi người đều bị ảnh hưởng bởi những niềm tin xã hội (ví dụ, trái đất phẳng; mặt trời quay quanh trái đất) cũng như những tài liệu được ghi lại trong cuốn sách nổi tiếng Extraordinary Popular Delusions and the Madness of Crowds (Mackay, [1841] 2003).

 Sự thống trị của tính chủ quan

 Ý thức về “cái thực” là hệ quả của quá trình xử lý mang tính chủ quan, và do đó , tất cả những gì được cho “có tính khách quan”, tự nó đã là giả định và kết luận hoàn toàn chủ quan. Do đó, tính chủ quan nội tại là tiền đề tiên nghiệm của tất cả các quá trình xử lý của tâm trí và nó hoạt động như một tiền đề giữ thế thượng phong. Để chính xác và cụ thể, có thể nói rằng “tính khách quan” tự nó đã là giả định thuần túy chủ quan. 

Tuy nhiên, cảm giác của hữu thể “thực” cũng đi kèm với những trạng thái ý thức đã thay đổi, chẳng hạn như giấc mơ, thôi miên và “điên loạn” (bỏ nhà ra đi), cũng như ảo giác, ảo tưởng và ám thị; bị UFO bắt cóc (điểm hiệu chỉnh 170); và trải nghiệm ngoài cơ thể về những cõi khác và “tầm nhìn”, chẳng hạn như hiện tượng xuất thần. 

Ngược lại, các trạng thái mất trí nhớ có thể diễn ra trong thời gian ngắn và tạm thời hay có thể kéo dài hàng giờ, hàng ngày hay thậm chí lâu hơn. Có thể thấy những hoàn cảnh rối loạn nhân cách kéo dài, được chia thành từng ngăn. Những tính cách “Jekyll & Hyde”[4] thực sự có tồn tại, và hai nhân cách thực có điểm hiệu chỉnh khác xa nhau. Một số người như thế giữ vai trò cực kỳ quan trọng trong ngành an ninh, trong đó có cả các dự án năng lượng nguyên tử, sự phản bội của các điệp viên hai mang trong lĩnh vực này gây ra nguy cơ chiến tranh nguyên tử trên thế giới (ví dụ, Robert Hansson, Klaus Fuchs và Rosenbergs). 

Những tính cách bị chia cắt mà người ta không ngờ tới hiện đang tiếp tục tạo ra những rủi ro nghiêm trọng cho an ninh của nước Mỹ. Muốn phát hiện được chúng thì phải dùng kỹ thuật hiệu chỉnh ý thức, sẽ nhanh chóng và dễ dàng nhận ra nhân dạng thật của họ. Nhận dạng những kẻ như thế dường như quan trọng, vì trong thế giới hạt nhân hiện nay, tính mạng của hàng triệu người vô tội đang như ngàn cân treo sợi tóc.



[1] Adrenaline là một loại hormone được giải phóng ra khỏi tuyến thượng thận và phóng thích trực tiếp vào máu. Có chức năng phục vụ các chất trung gian đồng thời truyền tải lượng xung thần kinh đến các cơ quan khác nhau - ND.

[2] Nhóm endorphine bao gồm ba hợp chất: α-endorphin, β-endorphin và γ-endorphin ưu tiên liên kết với thụ thể μ-opioid. Chức năng chính của endorphin là ức chế sự truyền tín hiệu đau; chúng cũng có thể tạo ra cảm giác hưng phấn rất giống với cảm giác do các opioid khác tạo ra - ND.

[3] Serotonin đóng vai trò là một chất dẫn truyền thần kinh, một loại hóa chất giúp chuyển tiếp tín hiệu từ vùng não này sang vùng não khác. Mặc dù serotonin được sản xuất trong não, nơi nó thực hiện các chức năng chính nhưng có tới khoảng 90% nguồn cung cấp serotonin trong cơ thể chúng ta được tìm thấy trong đường tiêu hóa và trong các tiểu cầu trong máu - ND.

[4] Jekyll & Hyde” được sử dụng để nói về một người có tính cách và đạo đức rất khác nhau trong những trường hợp khác nhau. Tiếng Việt thường hay gọi là "đừng trông mặt mà bắt hình dong", "nhìn vậy nhưng không phải vậy" - ND.

-----

Post a Comment

0 Comments