Lời khuyên cho người tốt nghiệp bị thất nghiệp
05/10/2013
Tôi ngạc nhiên khi nhận được một email từ Hi Lạp nơi một sinh viên viết: “Là một người tốt nghiệp đại học nhưng không thể tìm được việc làm, không phải bởi vì thiếu tri thức và kĩ năng, nhưng bởi vì kinh tế nước em đang trong cơn suy thoái. Em không thể đợi cho kinh tế tốt hơn vì điều đó có thể cần nhiều năm. Thầy có lời khuyên nào cho ai đó như em để thoát ra khỏi vấn đề này không?”
Đáp: Với việc người trẻ tuổi thất nghiệp ở nước bạn đạt tới trên 35% và nền kinh tế vẫn đang trong khủng hoảng nghiêm trọng bạn không nên chờ đến thời tốt hơn. Tuy nhiên, vì bạn lớn lên cùng với công nghệ thông tin (CNTT), tôi nghĩ giải pháp cho vấn đề của bạn cũng ở trong công nghệ. Bạn có xem xét bắt đầu công ti riêng của bạn không, dùng kĩ năng của bạn trong CNTT? Trong suy thoái, phần lớn các công ti không muốn nhận rủi ro cho nên họ ngồi im và chờ đợi nhưng điều đó mở ra cơ hội mới cho công ti khởi nghiệp đi vào và cạnh tranh. Khả năng tạo ra công ti khởi nghiệp của riêng bạn dựa trên nhu cầu địa phương là tuỳ thuộc vào những người trẻ như bạn. Vì bạn có kĩ năng tính toán, bạn có thể làm ra khác biệt bằng việc tạo ra việc làm riêng của bạn thay vì chờ đợi để kiếm việc làm với công ti đã thành lập vững chắc.
Nếu bạn đọc các bài blog của tôi về khởi nghiệp, bạn có lẽ đã để ý rằng “kinh tế app” đã không tồn tại năm 2008 khi khủng hoảng tài chính xảy ra. Ngày nay với việc dùng ngày càng tăng các điện thoại thông minh và máy tính bảng, “kinh tế app” này được đánh giá nhiều tỉ đô la và hỗ trợ trên 1.2 triệu việc làm trên toàn thế giới. Bài học nào chúng ta có thể rút ra được từ nó? Khi người có kĩ năng kĩ thuật không thể kiếm được việc làm, họ tạo ra việc làm cho bản thân họ. Đó là điều đã xảy ra ở Mĩ trong khủng hoảng tài chính nơi nhiều thanh niên đã phát triển app di động và tạo ra “kinh tế app”. Bạn có thể theo mô hình đó bằng việc tạo ra “kinh tế app” cho nước bạn.
Ngày nay app di động hỗ trợ cho sức khoẻ cá nhân là rất phổ biến với các app như chương trình ăn kiêng, chương trình giảm cân, đo đường máu và hướng dẫn bệnh nhân dùng thuốc. Những apps này là dễ phát triển vì chúng có thể được bán trực tiếp cho người tiêu thụ thông qua cửa hàng app hay tải xuống dễ dàng từ các websites vào điện thoại thông minh. Hiện thời có trên 10,000 app y tế di động, apps cho sức khoẻ dành cho thị trường điện thoại thông minh và máy tính bảng nhưng phần lớn chúng được viết trong tiếng Anh cho các nước nói tiếng Anh. Tôi thấy nhiều app tương tự được viết trong tiếng Hindi cho người dùng ở Ấn Độ hay tiếng Trung Quốc cho người ở Trung Quốc nữa. Từ những ý tưởng này, bạn có thể viết các app tương tự dùng cho tiếng nước bạn và bán chúng cho việc dùng địa phương. Xin lưu ý rằng bạn chỉ dùng “ý tưởng” để tạo ra app riêng của bạn cho nên bạn không vi phạm bất kì luật bản quyền nào. Chẳng hạn có hàng trăm app đo tăng trọng lượng và gợi ý chế độ ăn kiêng nào đó, mỗi app đều có cái nhìn và cảm khác nhau với các mã khác nhau. Bạn có thể làm cùng điều dó bằng việc phát triển app di động riêng của bạn theo cách đó nữa.
Vì phần lớn điện thoại thông minh đều có máy ảnh tốt, bạn có thể tạo ra app di động cho viễn y học để cho phép bác sĩ tiến hành khám bệnh cơ bản, đưa ra lời khuyên và hỗ trợ cho bệnh nhân ở vùng xa. Điều đó có thể loại bớt việc đi lại và chờ đợi ở bệnh viện. Bạn cũng có thể tạo ra app cho việc dùng thuốc từ xa nơi bệnh nhận có thể thảo luận với các dược sĩ liên quan tới việc dùng thuốc y tế nào đó. Bạn có thể phát triển app để nhắc bệnh nhân già uống thuốc vì nhiều người trong số họ hay quên, app này sẽ gọi họ trên cơ sở hàng ngày và nhắc họ tuân theo chỉ dẫn của bác sĩ v.v. Về căn bản sức khoẻ di động mở ra nhiều cơ hội cho người khởi nghiệp, từ app đơn giản tới app phức tạp và thị trường này vẫn tăng trưởng mạnh.
Ngày nay có thể tạo ra công ti khởi nghiệp riêng của bạn với phát kiến riêng của bạn dùng kĩ năng riêng của bạn vì công nghệ thông tin là nguồn hi vọng cho nhiều người tốt nghiệp đại học bị thất nghiệp. Với nhiều bất định thế trong kinh tế toàn cầu, bạn nên tuỳ thuộc vào kĩ năng và tài năng riêng của bạn để tạo ra cơ hội mới cho bản thân bạn và điều đó có thể bắt đầu bằng việc khởi đầu công ti khởi nghiệp riêng của bạn.
—English version—
Advices to an unemployed graduate
I was surprised to receive an email from Greece where a student wrote: “As a college graduate but could not find employment, not because of the lack of knowledge and skills, but because my country’s economy is in a recession. I cannot wait for the economy to get better as it may take years. Do you have any advice for someone like me to get out of this problem?”
Answer: With the youth unemployment in your country reaching over 35% and the economy is still in serious crisis you should not wait for better time. However, since you are growing up with Information Technology (IT), I think the solution to your problem is also in technology. Have you consider starting your own company using your skills in IT? In a recession, most companies do not want to take risks so they sit idled and wait but it opens up new opportunities for startups to enter and compete. The ability to create your own startup based on local needs is depending on young people like you. Since you have computing skills, you can make a difference by create your own job instead of waiting to get a job with a well established company.
If you read my blogs about entrepreneurship, you probably noticed that the “app economy” did not exist in 2008 when the financial crisis happened. Today with the increasing use of smartphones and tablets, this “app economy” is valued at several billion dollars and supports over 1.2 million jobs worldwide. What lessons could we learned from it? When technical skilled people cannot get jobs, they create ones for themselves. That was what happened in the U.S. during the financial crisis where many young people developed mobile apps and created the “app economy”. You could follow that model by creating an “app economy” for your country.
Today mobile apps supporting personal health are very popular with apps such as diet programs, weight-loss programs, blood-sugar measurement and guides for medical patients. These apps are easy to develop as they can be sold directly to consumers via apps stores or download easily from websites to smartphones. Currently there are over 10,000 mobile medical apps, fitness apps for smartphone and tablets market but most of them are written in English for the English speaking countries. I saw many similar apps written in Hindi for users in India or Chinese for people in China too. From these ideas, you can write similar apps using your own languages and sell them for local use. Please note that you are only using “the ideas” to create your own app so you do not violate any copyright at all. For example there are hundred apps that measures weight gain and suggest certain diets, each has different look and feel with different codes. You could do the same by develop your own mobile apps that way too.
Since most smartphone have good camera, you may want to create mobile app for telemedicine to allow doctors to conduct basic examination, provide advices and support to patients at a distance. It can eliminate travel and wait time in hospitals. You can also create app for telepharmacy where patients can discuss with a pharmacist regarding some medical drug use. You can develop app to remind elderly patients to take their medicine as many of them often forget, the app would call them on a daily basis and remind them to follow their doctor’s instruction etc. Basically mobile-health opening up many opportunities to entrepreneurs, from simple apps to complex ones and this market is still growing strong.
Today it is possible to create your own startups with your own innovation using your own skills as information technology is a source of hope for many unemployed college graduates. With so many uncertainties in the global economy, you should depend on your own skills and talents to create new opportunity for yourself and it may begin with starting your own startup.
https://science-technology.vn/?p=3665
==
“Kết nối chấm”
04/07/2013
Trong cuốn sách “Thế giới phẳng”, tác giả Thomas Friedman chỉ ra rằng cạnh tranh toàn cầu và “việc phẳng ra” của thế giới đã làm tăng rất mạnh cạnh tranh giữa các nước. Lần đầu tiên trong lịch sử, tri thức và kĩ năng đang trở nên quan trọng hơn trong việc xác định cơ hội của người ta trong cuộc sống. Mọi sinh viên bây giờ không chỉ cạnh tranh với sinh viên giỏi nhất ở nước họ về việc làm mà còn cạnh tranh cả với sinh viên giỏi nhất trên thế giới. Đây là yếu tố mấu chốt mà nhiều sinh viên không hiểu rõ nó. Họ cần biết rằng điều họ có thể làm được, người khác cũng có thể làm được nó, và một số người có thể làm nó với chi phí thấp hơn và hiệu quả tốt hơn.
Trong thế giới được toàn cầu hoá, cạnh tranh không phụ thuộc vào việc có một kĩ năng mà đa kĩ năng, thường các kĩ năng không có quan hệ. Bạn có thể có kĩ năng máy tính nhưng bạn có kĩ năng ngoại ngữ không? Bạn có thể biết Java nhưng bạn có biết tiếng Anh nữa không? Nói cách khác, tri thức kĩ thuật là không đủ, bạn cần nhiều hơn để duy trì tính cạnh tranh. Trong bài nói tại Đại học Stanford, Steve Jobs qui cho thành công của ông ấy là khả năng “Kết nối chấm” của hai lĩnh vực không liên quan – Khoa học máy tính và nghệ thuật viết chữ đẹp. Ông ấy nói rằng ông ấy có khả năng tạo ra máy tính McIntosh với bộ font đẹp và đó là lí do tại sao McIntosh (Mac) là một trong những máy tính bán chạy nhất vào thời đó (Ngày nay mọi máy tính đều dùng những font này). Về sau ông ấy có khả năng “Kết nối chấm” giữa máy tính và điện thoại để tạo ra iPhone và iPads và làm cho Apple thành công ti lớn nhất và mạnh nhất trong thế giới công nghệ. Tương tự với điều đó, Mark Zuckerberg cũng nhắc tới rằng điều ông ấy đã làm là áp dụng công nghệ máy tính để giúp nhóm các bạn bè đại học (mạng xã hội) để cho họ có thể thảo luận về “con gái” và các chủ đề khác, thế rồi thậm chí nó trở thành “Facebook”, công ti phát triển nhanh nhất trong lịch sử.
Ngày nay, phát kiến không xảy ra bên trong một lĩnh vực mà ở giao giữa các lĩnh vực. Đó là lí do tại sao sinh viên trong máy tính phải học về doanh nghiệp, về khách hàng và tài chính. Sinh viên trong kinh doanh cũng phải học về máy tính và công nghệ v.v. Tất nhiên, một số sinh viên sẽ phàn nàn rằng điều đó là quá nhiều. Không may, chúng ta đang sống trong thế giới được toàn cầu hoá nơi cạnh tranh là qui tắc. Nếu bạn muốn duy trì ở phía trước thì bạn phải làm bất kì cái gì bạn có thể làm để đáp ứng nhu cầu của thị trường việc làm. Nếu bạn muốn có việc làm tốt thì bạn phải hiểu xu hướng công nghiệp và sẵn lòng thay đổi và điều chỉnh kĩ năng của bạn để đáp ứng với nhu cầu.
Năm ngoái, khi tôi ăn tối với nhiều sinh viên tại một nhà hàng ở Trung Quốc, chúng tôi thấy một thanh niên bước vào trong nhà hàng sau khi đỗ xe của anh ta, chiếc BMW ở bên ngoài. Một sinh viên bảo tôi: “Đó là Zhiang, anh ấy đã tốt nghiệp khoa học máy tính từ trường chúng tôi năm ngoái. Anh ấy giờ làm việc cho công ti nước ngoài lớn. Anh ấy bây giờ rất giầu.” Tôi hỏi: “Vì các bạn đều là sinh viên khoa học máy tính, anh ấy đã làm cái gì mà các bạn không làm?” Họ đáp: “Anh ấy biết tiếng Anh rất giỏi, anh ấy theo học lớp tiếng Anh từ khi còn phổ thông.” Tôi ngạc nhiên: “Nếu tiếng Anh là điều duy nhất làm khác biệt anh ấy với tất cả các bạn thế sao các bạn không theo học lớp tiếng Anh?” Các sinh viên giải thích: “Điều đó yêu cầu nhiều công việc. Chúng em đã có nhiều lớp học rồi, chúng em có bao nhiêu thứ để học cho kì thi quốc gia hàng năm. Chúng em không có thời gian, thêm một lớp khác như tiếng Anh là quá nhiều.” Điều đó có thể là quá nhiều đối với hầu hết sinh viên nhưng sinh viên có tên là Zhiang đã làm điều đó và ngày nay anh ta giầu có. Điều làm anh ta khác với số còn lại là ở chỗ có lẽ anh ta có kế hoạch nghề nghiệp của mình, có lẽ anh ta đã đặt mục đích, quản lí thời gian của anh ta để cho anh ta có thể “kết nối chấm” giữa khoa học máy tính và tiếng Anh.
Là giáo sư đại học, tôi tin rằng chúng ta có nghĩa vụ chuẩn bị cho sinh viên của chúng ta với thế giới được phẳng hoá này. Chúng ta cần giải thích rằng không chỉ có đa tri thức là cần thiết, mà nó là điều bản chất trong thế giới toàn cầu hoá này. Một số sinh viên học kém trong lớp bởi vì họ không hiểu tại sao họ phải học thêm cái gì đó. Các giáo sư nên dành nhiều thời gian giải thích tại sao chúng ta dạy điều chúng ta làm, và tại sao chủ đề là quan trọng và xứng đáng. Sinh viên nào không chắc về điều cần làm với tri thức của họ sẽ không thực hiện tốt. Với câu hỏi, “Khi nào chúng tôi sẽ dùng điều này?” câu trả lời của tôi là: “Bạn không bao giờ biết khi nào tri thức sẽ được dùng. Liệu bạn có bao giờ dùng tri thức này hay không là không quan trọng bằng sự kiện rằng bạn đang học cách học tập, học cách làm việc trên cái gì đó mà có thể không thú vị cho bạn hôm nay nhưng bạn có thể làm cho nó thành thú vị thêm.”
Sinh viên cần biết về thế giới đang thay đổi. Họ cần thông tin tốt hơn để cho họ có thể được chuẩn bị cho tương lai của họ.
Một trong những chìa khoá chính để học là tham gia tích cực của sinh viên vào việc học riêng của họ. Đứng trước họ và đọc bài giảng cho họ là phương pháp dạy tương đối nghèo nàn. Tốt hơn là để sinh viên tham gia vào các hoạt động, trong thực hành và giải quyết vấn đề, trong quyết định cái gì cần làm và thu được sự tham gia vào bài học. Bài học về thị trường việc làm chẳng hạn, sẽ hiệu quả hơn bằng việc thiết lập buổi tới thăm một công ti hay công nghiệp thay vì chỉ nói về nó. Các giáo sư cần tổ hợp dạng thức bài giảng truyền thống của việc học với khía cạnh “làm” thực hành. Chúng ta cần giúp cho sinh viên “Kết nối chấm” qua việc tổ hợp bài giảng và bài tập. Chỉ bằng việc đưa vào nỗ lực, chúng ta có thể làm sự việc xảy ra cho sinh viên.
—-English version—-
“Connect the dot”
In the book “The World is Flat”, the author Thomas Friedman points out that global competition and the “Flattening” of the world has dramatically increased competition among countries. For the first time in history, knowledge and skills are becoming more important in determining a person’s opportunities in life. All students are now not only competing with the best students in their country for jobs but also with best students in the world. This is a critical factor that many students still do not understand it well. They need to know that what they can do, others can do it too, and some can do it at lower costs and better efficiency.
In the globalized world, competitiveness do not depend on having one skill but on multiple skills, often unrelated skills. You may have computer skill but do you have foreign language skill? You may know Java but do you also know English too? In other words, technical knowledge is not enough, you needs more than that to stay competitive. In a speech at StanfordUniversity, Steve Jobs, attributes his success with the ability to “Connect the Dot” of two unrelated fields – Computer Science and Calligraphy. He said that he was able to create the McIntosh computer with beautiful fonts and that was why the McIntosh (Mac) is one of the best seller computer at that time (Today all computers use these fonts). Later he was able to “Connect the Dot” between the computer and the phone to create the iPhone and iPads and make Apple into the largest and most powerful company in the technology world. Similar to that, Mark Zuckerberg also mentioned that what he did was to apply computer technology to help a group of college friends (Social network) so they can discuss about “girls” and other topics, then eventually it became “Facebook”, the fastest growing company in history.
Today, innovation does not happen within a field but at the intersection between fields. That is why students in computer should learn about business, about customer and finance. Students in business should also learn about computer and technology etc. Of course, some students will complain that is too much. Unfortunately, we are living in the globalized world where competition is the rule. If you want to stay ahead then you must do whatever you can to meet the need of the job market. If you want to have good jobs then you must understand the industry trends and willing to change and adjusting your skill to meet the demand.
Last year, when I had dinner with several students at a restaurant in China, we saw a young man walked into the restaurant after parked his car, a new BMW outside. One student told me: “That is Zhiang, he graduated in Computer Science from our school last year. He is now working for a big foreign company. He is very wealthy now”. I asked: “Since you are all Computer Science students, what did he have and you do not? They answered: “He knew English very well, he took English class since high school”. I was surprised: “If English is the only thing that differentiates him from all of you then why don’t you take English class?” The students explained: “It requires a lot of works. We have so many classes already, we have so many things to study for our yearly national exams. We do not have time, adding another class like English is too much.” It could be too much for most students but the student named Zhiang did it and today he is wealthy. What make him differ from the rest is that he probably had a plan for his career, he probably set goal, managed his time so he can “connect the dot” between computer science and English.
As college professors, I believe that we have an obligation to prepare our students for this flattened world. We need to explain that not only having multiple knowledge is necessary, but it is essential in this globalized world. Some students do poorly in class because they do not understand why they should learn something extra. Professors should spend more time explaining why we teach what we do, and why the topic is important and worthwhile. Students who are not sure about what to do with their knowledge will not perform well. To the question, “When will we ever use this?” My answer is: “You never know when the knowledge will be useful. Whether or not you ever use this knowledge is less important than the fact that you are learning how to learn, learning how to work on something that might not be interesting to you today but you could make it more interesting.”
Students need to know about the changing world. They need better information so they can be prepared for their future.
One of the major keys to learning is the active involvement of students in their own learning. Standing in front of them and lecturing to them is a relatively poor method of teaching. It is better to get students involved in activities, in practicing and solving problems, in decide what to do and getting involved in the lesson. A lesson about job market, for example, would be more effective by set up a visiting to a company or an industry than just talk about it. Professors need to combine traditional lecture format of learning with practical “doing” aspects. We need to help the students to “Connect the dot” through a combination of lecture and exercise. Only by putting in the efforts, we can make thing happen to our students.
https://science-technology.vn/?p=1995
===
Thăng tiến nghề nghiệp
04/07/2013
Vài năm trước, Đại học Harvard tiến hành một khảo cứu về thăng tiến nghề nghiệp. Các nhà nghiên cứu của họ đã tìm các yếu tố sẽ dự báo liệu một người có thăng tiến, thành công, giầu có hơn trong tương lai hay không. Họ đã khảo cứu nhiều yếu tố như mức độ giáo dục, thông minh, môi trường, văn hoá, và kết nối gia đình. Trong mọi trường hợp, họ thấy các cá nhân đã được sinh ra trong gia đình giầu có, có mọi thứ tốt thường không làm tốt trong cuộc sống. Họ cũng thấy các cá nhân được sinh ra trong môi trường nghèo, hay không có lợi thế nào, thường thành công hơn. Họ cũng thấy yếu tố như thông minh, văn hoá, môi trường không liên quan tới khả năng của cá nhân thăng tiến hay thành công. Họ xác định rằng chỉ có một yếu tố thành vấn đề: “Năng lực đặt mục đích nghề nghiệp”.
Khảo cứu này thấy rằng mọi người thành công đều có mục đích nghề nghiệp. Tất cả họ đều biết điều họ muốn trong cuộc sống ngay từ khi họ còn trẻ. Một số người đặt mục đích nghề nghiệp thậm chí trước khi họ vào đại học. Bằng việc có mục đích nghề nghiệp, họ đặt chiều hướng và kế hoạch để đạt tới chúng. Bằng việc chuẩn bị sớm, họ biết về những chướng ngại và rủi ro và họ quyết tâm vượt qua chúng. Trong mọi tình huống, họ chưa bao giờ mất cái nhìn về mục đích nghề nghiệp của họ.
Khảo cứu này cũng thấy rằng những người được sinh ra trong gia đình giầu có thường thiếu quyết tâm theo đuổi bất kì cái gì. Nhiều người không có mục đích nghề nghiệp vì phần lớn mọi thứ đều được thu xếp cho họ. Nhiều người không phải làm việc vất vả để có được điều họ muốn. Phần lớn đều theo đuổi những vui thú ngắn hạn khi họ cảm thấy rằng họ xứng đáng với chúng. Tất cả họ đều có điều các nhà tâm lí gọi là “Không có khả năng để trễ việc hài lòng.” (“The inability to delay gratification.” trì hoãn sự thỏa mãn) Những người này có xu hướng nhận bất kì cái gì tới trên đường của họ.
Họ không nghĩ sâu về bất kì cái gì vì họ tin rằng ai đó bao giờ cũng chăm nom về chúng. Bởi vì họ xuất thân từ gia đình có quan hệ với người giầu có, bố mẹ hay người thân của họ cung cấp cho họ nhiều thứ cho nên họ chỉ chi dùng bất kì cái gì họ có và hiếm khi dành một phút suy nghĩ về cái gì đó khác. Làm việc vất vả chưa bao giờ xuất hiện cho họ. Nếu họ đối diện với chướng ngại, bao giờ cũng có ai đó sẽ giúp họ. Không có kế hoạch nghề nghiệp, họ giống như con tàu không bánh lái. Tất nhiên họ dễ dàng bị thổi đi bởi cơn gió nhẹ nhất. Khi họ ở trường họ có thể thay đổi môn học, trượt lớp, bỏ học, hay mất nhiều năm để tốt nghiệp. Không có động cơ mạnh, nghề nghiệp của họ thường tù đọng vì họ không có động cơ hay quyết tâm vượt qua bất kì chướng ngại nào.
Khảo cứu này kết luận rằng những người có mục đích nghề nghiệp bao giờ cũng đi lên thành công trong tiến trình cuộc sống của họ. Họ có thể bắt đầu nhỏ nhưng cuối cùng họ đạt tới cái gì đó to lớn. Họ có thể khiêm tốn lúc ban đầu nhưng cuối cùng họ có được vinh quang lúc cuối. Khi một người dành nhiều tháng và năm phát triển kĩ năng của họ, và mở rộng tri thức của họ để thành công, họ có quyết tâm, động cơ, và đam mê để đạt tới điều họ muốn trong cuộc sống.
Là sinh viên đại học, điều quan trọng là hiểu rằng mọi thứ bạn đang làm hôm nay là một phần của cuộc hành trình lâu dài theo thời gian và đến cuối cuộc hành trình đó bạn sẽ thành công hay không. Khi bạn đặt mục đích nghề nghiệp của mình, bạn phát triển chiều hướng (định hướng) và kỉ luật để làm chậm trễ sự hài lòng cho tới khi bạn đạt tới mục đích của bạn. Tổ hợp của mục đích dài hạn và sự hài lòng được để trễ (long-time goals and delayed gratification -- trì hoãn sự thỏa mãn) đưa bạn lên con đường tới thành công.
Là sinh viên đại học, bạn phải nghĩ về nghề nghiệp của bạn. Quyết định chính xác bạn muốn là ai, bạn muốn làm loại việc làm nào, và bạn muốn đạt được bao nhiêu trong năm năm, mười năm kể từ nay. Viết nó ra trên giấy hay trong laptop của bạn. Làm kế hoạch về cách đạt tới chúng. Lấy hành động theo kế hoạch của bạn mọi ngày. Bạn có thể phát triển khả năng để trễ việc hài lòng (trì hoãn sự thỏa mãn). Thay vì đi chơi ăn uống và tận hưởng cái gì đó bây giờ, dừng lại và nghĩ về quyết định của bạn cũng như hậu quả --> lựa chọn có hệ quả. Bạn cần quyết định trước để “nghĩ cẩn thận” trước bất kì tình huống nào có thể xảy ra. Điều này có thể thay đổi cách bạn dùng thời gian của bạn ở đại học ngay lập tức. Nếu bạn học cái gì đó bạn thích, bạn sẽ giỏi cái đó, và chung cuộc bạn sẽ đi lên hàng đầu của lớp. Nếu bạn không biết chọn cái gì giữa việc trở thành bác sĩ hay kĩ sư phần mềm, hãy nhắm tới nghề nghiệp được trả lương cao nhất, cái có yêu cầu giáo dục đang được cần nhất. Nếu bạn thử chăm chỉ nhất đầu tiên, và quyết định nó quá khó khăn, hay bạn không thích nó, ít nhất bạn đã thử nó. Dễ chuyển sang một lĩnh vực với ít yêu cầu giáo dục về sau. Gần như không thể tiến lên được một khi bạn đã bắt đầu.
Một khi bạn đã chọn lĩnh vực của khu vực học tập, học nhiều nhất như bạn có thể học được. Hình dung ra bạn cần gì và đi tới đó, không để trễ tiến bộ của bạn vì bất kì hoạt động phụ nào, dù chúng có thể tốt đến đâu. Đừng bao giờ lo nghĩ về việc quá nghiêm chỉnh về nghề nghiệp và không tận hưởng điều đại học có thể đem tới. Làm cực đại tiềm năng của bạn để là sinh viên giỏi nhất bạn có thể là và không bao giờ mất cái nhìn về mục đích nghề nghiệp của bạn. Bạn sẽ đi lên sớm hơn bạn nghĩ.
—-English version—-
Upward mobility
Few years ago, HarvardUniversity conduct a study about upward mobility. Their researchers were looking for factors that would predict whether or not a person was going to move upward, succeed, be wealthier in the future. They studied many factors such as level of education, intelligence, environment, culture, and family connections. In every case, they found individuals who had been born in wealthy family, had every good thing usually did not do well in life. They also found individuals who had been born in poor environment, or with no advantages at all, usually have been more successful. They also found factors such as intelligence, culture, environment had nothing to do with the ability of an individual to move upward or be successful. They determined that there was only one factor that mattered: “The ability to set career goals”.
The study found that all successful people had career goals. All of them know what they wanted in life even when they were still young. Some set career goals even before they went to college. By having career goals, they then set direction and plan to achieve them. By having prepared earlier, they knew about obstacles and risks and they determined to overcome them. In all situations, they never lost sight of their career goals.
The study also found that people who were born in a wealthy family usually lack the determination to pursue anything. Many had no career goal as most things were arranged for them. Many did not have to work hard to get what they want. Most pursued pleasures in the short term as they felt that they deserve them. They all have what psychologist call “The inability to delay gratification.” These people had a tendency to take anything that come their way. They did not think deeply about anything as they believed that someone always took care of them. Because they came from well-connected family, their parents or relatives provided them with many things so they just spend whatever they got and rarely spend a single minute thinking on something else. Working hard never occurs to them. If they face obstacles, there were always someone who would help them. Without a career plan, they were like a ship without a rudder. They were easily be blown off course by the slightest breeze. When they were in school they were likely to change majors, failed classes, drop out, or took many years to graduate. Without a strong motivation, their career often stagnated because they did not have the motivation or determination to overcome any obstacles.
The study concluded that people with career goal always move up successfully in the course of their lifetimes. They may start small but eventually they achieve something big. They may be humble in the beginning but eventually they get the glory at the end. When a person spend months and years developing their skills, and expanding their knowledge in order to be successful, they have the determination, the motivation, and the passions to achieve what they want in life.
As college students, it is important to understand that everything that you are doing today is part of a long journey in time and at the end of which you are going to be successful or not. When you set your career goal, you develop the direction and discipline to delay gratification until you reach your goals. The combination of long-time goals and delayed gratification puts you onto the road to success.
As college students, you must think about your career. Decide exactly who you want to be, what kind of job you want to work on, and how much you want to achieve in five years, ten years and twenty years from today. Write it down on paper or on your laptop. Make a plan on how to achieve them. Take action on your plan every single day. You can develop the ability to delay gratification. Instead of go out to a party and enjoy something now, stop and think about that decisions as well as the consequences. You need to decide in advance to “think carefully” before any situation may happen. This can change the way you spend your time in college almost immediately. If you study at something you like, you will be good at it, and eventually you will move up to the top of your class. If you do not know what to choose between becoming a doctor or a software engineer, aim for the highest paid career that has the most demanding educational requirements. If you try the hardest first, and decide it is too tough, or you just do not like it, at least you will have tried it. It is easy to move to a field with lesser educational requirements later. It is almost impossible to move up once you have started.
Once you have select a field of study area, study it as much as you possibly can. Figure out what you need and go there, do not delay your progress for any extra activities, no matter how good they might be. Never worry about being too serious about a career and not enjoying what college can bring. Maximize your potential for being the best student you can be and never lose sight of your career goal. You will move up sooner than you think.
https://science-technology.vn/?p=1992
===
Hỏi xin sự giúp đỡ
03/07/2013
Là nhà giáo dục, chúng ta đã bao giờ tự hỏi tại sao sinh viên cần giúp đỡ không hay hỏi xin sự giúp đỡ không? Tại sao họ không tới gặp chúng ta khi có thời gian mà đợi cho tới khi quá trễ?
Tôi đã từng dạy kĩ nghệ phần mềm ở nhiều nước. Nếu tôi phải đi tới những nơi không nói tiếng Anh thì tôi phải nhờ vào bạn bè địa phương giúp đỡ. Năm ngoái, tôi dạy một xê mi na ở Nhật Bản, tôi đã ở Nhật Bản vài lần trong quá khứ cho nên tôi nghĩ rằng tôi có thể tìm được đường đi mà không cần giúp đỡ. Tôi đã phạm sai lầm và lạc đường ở trạm xe điện ngầm. Tôi đoán tôi đã lấy nhầm thang máy sang mức khác và không thể tìm được đường quay lại. Tôi cần đi tới cuộc họp vào lúc 9 giờ sáng và chỉ còn nửa giờ để đi tới đó. Tôi cảm thấy rất bất tiện và lẫn lộn. Trạm xe điện đông người và tất cả các biển báo đều bằng tiếng Nhật. Tôi đi từ tầng nọ sang tầng kia với hi vọng tìm ra đường mà không được. Tôi tự hỏi mình “Sao mình không nhờ một người bạn đi cùng mình?” Tôi đi quanh trong mười lăm phút trước khi ngần ngại nhờ sự giúp đỡ nhưng phần lớn mọi người nhìn tôi và nói cái gì đó bằng tiếng Nhật Bản mà làm cho tôi còn lẫn lộn hơn. Cuối cùng một sinh viên trẻ dường như hiểu và đưa tôi tới đúng thang máy và tôi có khả năng lấy taxi chạy về đại học Tokyo.
Kinh nghiệm này dạy cho tôi một bài học về hỏi xin giúp đỡ. Không dễ hỏi xin giúp đỡ và điều đó cần dũng cảm để làm như vậy. Bạn càng lẫn lộn càng khó cho bạn hỏi. Trong tình huống của tôi, tôi đã không hỏi xin giúp đỡ mãi tới những phút cuối cùng vì bằng cách nào đó tôi nghĩ tôi có thể tìm được lối ra. Bây giờ tôi biết tại sao sinh viên cần giúp đỡ thường không hỏi xin giúp đỡ. Có lẽ họ nghĩ rằng họ có thể tìm được câu trả lời đúng mà không có sự giúp đỡ. Thỉnh thoảng, bản chất của lớp học ảnh hưởng tới quyết định để hỏi xin giúp đỡ nữa. Nếu lớp học nhấn mạnh vào làm việc tổ, cộng tác với thảo luận mở, sinh viên có nhiều khả năng hỏi xin giúp đỡ hơn. Mặt khác, nếu đó là kiểu truyền thống nơi sinh viên bị đánh giá như cá nhân và thường bị so sánh với người khác, thế thì sinh viên ít có khả năng tìm kiếm sự giúp đỡ bởi vì họ không muốn bị bạn bè đánh giá. Trong trường hợp đó, các giáo sư phải can thiệp vào. Sinh viên đang chật vật không nên ngượng ngùng trước bạn bè họ.
Nếu ngượng ngùng, sinh viên sẽ không học được gì và có lẽ chẳng bao giờ muốn hỏi xin giúp đỡ lần nữa. Cách tốt nhất là giải quyết tình huống này ở chỗ riêng tư. Tôi thường bảo sinh viên không học tốt trong lớp tới gặp tôi ở văn phòng tôi để cho tôi có thể nói chuyện với họ một cách cá nhân mà không có người khác hiện diện. Tôi biết rằng nhiều sinh viên tự họ học tốt trong lớp nhưng một số người quả có cần bài học phụ đạo thêm. Bằng việc dành thời gian phụ để giúp đỡ, nhiều người có thể học tốt hay thậm chí xuất sắc.
Giáo sư có trách nhiệm để cho sinh viên biết rằng họ đang không học tốt trong lớp. Nhưng thông điệp đó có thể được trao theo cách làm tăng cơ hội mà sinh viên sẽ dừng né tránh vấn đề và bắt đầu nhận sự giúp đỡ họ cần. Cũng như thuốc thường đắng, thêm một chút đường làm cho nó dễ uống hơn. Sinh viên cần chút ít khuyến khích và hỗ trợ để đạt tới mục đích học tập của họ. Thái độ tiêu cực từ giáo sư về năng lực của họ sẽ làm hại cho tự tin của họ. Với thanh niên, tự tin là điều có thể giúp cho họ đạt tới điều nổi bật. Bằng cởi mở và làm cho bản thân bạn thành sẵn có cho sinh viên; bằng việc cho khuyến khích; và bằng việc có thái độ tích cực về tiến bộ của họ, giáo sư có thể trao lại cho sinh viên sự tự tin mà họ cần. Nhiều sinh viên bảo tôi rằng mười phút hỗ trợ thêm ở cuối bài/giờ học? có thể tạo ra khác biệt khổng lồ cho họ.
—-English version—-
Asking for helps
As educators, have we ever wonder why students who need help do not ask for help? Why didn’t they come to see us when there is time but wait until it is too late?
I have been teaching software engineering in many countries. If I have to go to places where English is not spoken then I have to rely on local friends to help. Last year, I taught a seminar in Japan, I have been in Japan several times in the past so I thought that I could find my way without help. I made a mistake and got lost in a subway station. I guessed I took the wrong elevator to different level and could not find my way back. I needed to go to a meeting at 9 a.m. and had just less than half hour to get there. I felt very uncomfortable and confused. The station was crowded with people and all the signs were in Japanese. I kept walking from floor to floor with the hope to find a way out but could not. I asked myself “Why didn’t I ask a friend to come along with me? I walked around for fifteen minutes before reluctantly asked for help but most people looked at me and said something in Japanese that made me felt more confused. Finally a young student seemed to understand and took me to the right elevator and I was able to get a taxi to TokyoUniversity.
The experience taught me a lesson about seeking help. It is not easy to ask for help and it takes courage to so that. The more confused you are the more difficult for you to ask. In my situation, I did not ask for help until the last minute because somehow I think I could find the exit. Now I know why students who need help often do not ask for help. They probably think that they could find the right answers without help. Sometime, the nature of the classroom affects the decision to ask for help too. If the class emphasizes teamwork, collaboration with open discussions, students are more likely to ask for help. On the other hand, if it is a traditional type where students are judged as individual and often compared to others, then students are less likely to seek help because they do not want to be judged by their friends. In that case, professors must interfere. Struggling students do not need to be embarrassed in front of their friends.
If embarrass, students will not learn anything and probably never want to ask for help again. The best way is to deal with this situation in private. I often ask students who did not do well in class to come to see me in my office so I can talk to them individually without others present. I know that many students do well in classroom by themselves but some do need extra tutorials. By spending extra time to help, many can do well or even excel.
Professors have a responsibility to let students know that they are not doing well in class. But that message can be given in ways that increase the chance that students will stop avoiding the issue and start getting the help they need. Just like bitter tasting medicine, sometime add a little sugar makes it much easier to take. Students need little encouragements and supports to achieve their learning goal. Negative attitudes from professors about their abilities will do harm to their confidence. With young people, confidence is one thing that can help them to achieve remarkable thing. By open and make yourself available to students; by giving encouragement; and by being positive about their progress, professors can give students back the confidence that they need. Many students told me that a ten extra minutes of support at the end of a class can make a huge difference to them.
https://science-technology.vn/?p=1823

.png)



0 Comments