banner top | SORE TODAY STRONG TOMORROW

ĐỪNG SỢ

TỰ THUẬT 3 và 4 - Nguyễn Thành Thống

 https://petruspaulusthong.wordpress.com/2017/02/10/tu-thuat-3/
https://petruspaulusthong.wordpress.com/2017/02/10/tu-thuat-4/


Cà Đú. Một địa danh nghe ra thật quê mùa và thật là Chàm. Phải. Đó là nơi tôi sinh ra. Lúc nhỏ tôi không hề để ý, nhưng khi tôi đã lớn, khi người ta đã đổi cái tên Cà Đú ấy bằng cái tên Thanh Điền, rồi Lương Cách, thì tôi tiếc vô cùng. Đã có lúc tôi nổi giận nguyền rủa cái người “ngu dốt” kia đã dám đổi cái tên làng hay ho của tôi. Mặc dù đã bị đổi tên, nhưng tôi và những người làng của tôi, và nói chung những người dân ở Phan Rang, Ninh Thuận thuộc thế hệ của tôi trở về trước vẫn gọi đó là làng Cà Đú. 

Về sau, vào những năm 80, mỗi khi nhắc đến Cà Đú thì người ta nghĩ ngay đến Cầu Cà Đú. Mà Cầu Cà Đú còn có một tên gọi rất ư là nổi tiếng là Cầu Tử Thần. Tai nạn đã xảy ra liên miên ở đó. Cà Đú nổi tiếng cả nước vì cái cầu tử thần này. Nhiều lúc tôi trộm nghĩ mình cũng sẽ nổi tiếng vì mình là người Cà Đú! Thế rồi tôi tự đặt cho mình cái tên là Thống Cà Đú. Và bạn bè của tôi nay đã quá quen với cái tên này; nhất là các anh em Cựu Chủng Sinh Sao Biển Nha Trang. Cà Đú nghĩa là gì? Sở dĩ làng của tôi có tên là làng Cà Đú vì nó nằm dưới chân Núi Cà Đú. Núi Cà Đú thì ai cũng biết, một “tuyệt tác” núi đá nằm gần quốc lộ 1 cách Phan Rang mươi cây số về hướng đông bắc. Từ xa nhìn lại Núi Cà Đú có hình một con vích (rùa biển) khổng lồ. Vì vậy từ Cà Đú xuất phát từ từ tiếng Chàm là  CHƠK AĐUK (núi con vích), nếu viết theo hệ thống Latinh quốc tế hiện nay tức hệ thống Latinh Mã Lai Đa Đảo thì là CEK ANDUK. (C đọc là CH, E đọc là Ơ, ND đọc là Đ). Từ CHƠK AĐUK này đã có trong sách vở của người Chàm từ lâu đời rồi. Như vậy, từ CÀ ĐÚ là kết quả của sự kết hợp của phụ âm cuối K của từ CHƠK (núi) với từ AĐUK (con vích) mà hình thành. Đầu thế kỷ XX các học giả của Trường Viễn Đông Bác Cổ Pháp (EFEO) lần đầu tiên dùng từ KAĐUK là khi đề cập đến Bia Kađuk (C123), còn gọi là Bia Batau Tablah II, tức Bia Đá Nẻ 2. (Xem Tự thuật 2). Nhân nói về địa danh Cà Đú này tôi muốn lạc đề một chút về vấn đề địa danh của người Chàm. Đối với người Chàm, có một sự phân biệt rõ ràng khi đặt những địa danh. Đối những vùng đất rộng lớn như những tiểu vương quốc, hoặc những nơi quan trọng như thủ phủ thì người Chàm dùng từ Sanskrit như: Indrapura, Amaravati, Vijaya, Kauthara, Panduranga, Simhapura, Virapura… Còn những địa phương riêng lẻ bình thường thì xem ở đó có gì đặt nấy và bằng tiếng Chàm. 


Vì làng Cà Đú của tôi gần núi Cà Đú mà núi Cà Đú sở dĩ gọi như thế vì nó có hình con vích nên làng của tôi có cái tên đã được Việt hóa là làng Cà Đú. Nhân dịp này tôi cũng muốn đính chính một địa danh mà theo tôi người Việt đã giải thích sai, lâu rồi người ta vẫn tin là đúng, rồi các hướng dẫn viên du lịch học theo sách cứ thế mà giải thích cho khách du lịch. Đó là từ Nha Trang. Không mất thì giờ với lối giải thích “thật buồn cười” Nha Trang là do Nhà Trắng, tôi muốn nói ngay Nha Trang là do từ tiếng Chàm AIA TRANG. Đúng là như thế. Nhưng hiện nay, theo tôi, người ta đã giải thích sai nghĩa từ ngữ này. Người ta thường giải thích là: AIA là nước, sông. TRANG là lau sậy, tre. AIA TRANG là sông lau sậy, sông tre. Giải thích như vậy là không đúng. Vì trong tiếng Chàm, KRAUM chỉ cây tre, PABAOW chỉ lau sậy và PABAO TRANG chỉ cây mía đường. Lối giải thích này xuất phát từ một học giả trước 75 là ông Thái Văn Kiểm, mà ông này cũng chỉ học lại sự giải thích của một trí thức Chàm lúc bấy giờ là ông Lưu Quý Tân (Jaya Panrang) mà thôi. Thật ra AIA TRANG chỉ là một địa danh chỉ một nơi, một địa điểm, chứ không phải một vùng đất. AIA có nghĩa là nước, là sông, và TRANG có nghĩa là giao nhau. AIA TRANG không chỉ cả một vùng đất chạy dọc con sông Cái, hay cả một vùng đất Khánh Hòa ngày nay, vùng đất này đã có tên gọi là KAUTHARA rồi, mà chỉ một địa điểm, một nơi mà thôi. Đó là nơi có tháp Po Nagar. AIA TRANG có nghĩa là nơi con nước giao nhau. Chúng ta thấy ngay điều này khi đứng trên tháp nhìn xuống thấy hai nhánh sông Cái giao nhau ngay bên dưới chân tháp để đổ ra cửa biển. Nhân đây cũng nói rõ thêm từ Po Nagar. Người Pháp khi ghi âm « Po Nagar », chữ « g » đọc là « c », chữ « r » ở cuối vần dùng để ghi âm « nh » của tiếng Chàm, cho nên đúng ra phải phát âm là « Pô Na Cành », chứ không phải « Pô Na Ga » như người ta quen đọc như hiện nay. Đúng như vậy. Người Chàm gọi nữ thần trên tháp đó là « Pô Na Cành » chứ không gọi là « Pô Na Ga ». Thật ra còn rất nhiều chuyện cần sửa sai lắm. Nhưng tôi đã lạc đề quá xa rồi.


Trở lại chuyện Cà Đú. Làng Cà Đú của tôi gốc gác là một bãi đất hoang nằm dưới chân núi Cà Đú. Tôi có nghe các cụ kể rằng ngày xưa người Hời ở những làng phía trên thường cỡi ngựa lui tới chỗ này và có chôn cất người chết ở đây. Tôi không biết thực hư như thế nào. Nhưng rõ ràng trong làng có nhiều mã vôi và theo chỗ tôi biết thì người Chàm theo Bà la môn giáo, còn gọi là Chăm Ahiêr, và người Chàm theo Hồi giáo cổ truyền, gọi là Chăm Awal, còn thường gọi hơn nữa là người Bàni, cả hai đều không dùng hình thức mã vôi này. Vậy những mã vôi này là của ai? Đây là một đề tài cần phải nghiên cứu làm rõ. Ở trên tôi có nói người dân làng tôi nói riêng và dân Phan Rang nói chung quen gọi người Chàm là người Hời. Đây là một lối gọi quả là « ép uổng » vì đúng là chữ Hời xuất phát từ chữ Hồi, chỉ Hồi giáo. Nhưng người Chàm theo Hồi giáo chưa được một nửa. 

Có thể nói số người Chàm theo Bà la môn giáo có phần đông hơn. Người Chàm bà la môn giáo và người Chàm Hồi giáo không được phép lấy nhau.Và người Chàm theo Hồi giáo còn được phân biệt thành Hồi giáo cũ (Bà ni) và Hồi giáo mới (Islam). Người Chàm theo Hồi giáo cũ chịu ảnh hưởng tín ngưỡng dân gian bản địa và không hề quan tâm đến thánh địa Mecca. Tuy nhiên những người Chàm này vẫn thường được gọi là người Bà ni. Từ Bà ni xuất phát từ từ Ả Rập, Bêni là những người con, tức những người con của Mahômét ấy. Theo tôi, tuy đa số người Chàm theo Bà La môn giáo, nhưng vào giai đoạn cuối, vào thời các vương triều cuối cùng của Champa, Hồi giáo thịnh hành hơn. Do đó người Việt gọi người Chàm là Hời. 


Và ngày xưa chỉ có Núi Cà Đú. Làng Cà Đú chỉ xuất hiện khi một số giáo dân Công giáo tụ tập ở bãi đất hoang dưới chân Núi Cà Đú mà thôi. Số giáo dân ở đây cũng như ở làng Hộ Diêm, cách đó một cây số về phía bắc, là những người dân Bình Định theo cố G.Geoffroy vào đây trước thì làm ruộng muối sau thì làm ruộng lúa. Giáo họ Cà Đú của chúng tôi ban đầu có một nhà nguyện nhỏ mãi trong Đá Bắn. Về sau nhà nguyện này dời về bên trên quốc lộ. Sau lại dời về  bên dưới quốc lộ. Rồi nhà nguyện này được dời đến chỗ nhà thờ Cà Đú hiện nay. Sở dĩ tôi nói dài dòng về chuyện này vì tôi đã được sinh ra trên nền cũ cái nhà nguyện đã được dời lần cuối cùng này. Tôi đặt biệt lưu ý chuyện này vì muốn nói đến hoàn cảnh xuất thân của tôi. Tuy tôi xuất thân từ một làng quê nông nghiệp nhưng lại thuộc gia đình «trí thức». Cha tôi là một cựu chủng sinh của Tiểu chủng viện Làng Sông Bình Định. Về sau cha tôi là thầy giáo của Làng Cà Đú. 


Tôi sống giữa một làng nông nghiệp nhưng quả thật cha mẹ tôi không sống bằng nghề làm ruộng. Khi tôi lên năm thì cha tôi lại chuyển lên Đà Lạt dạy học ở một trường Tiểu học thuộc Nhà thờ Con Gà Đà Lạt, tức Nhà thờ Chính tòa Đà Lạt hiện nay. Một năm sau cha tôi lại chuyển về dạy ở Trường Tiểu học thuộc nhà Thờ Hầm Đà Lạt tức Domaine Marie Dalat do các Sœur Dòng Vincent de Paul điều hành. Đây là một trường học dạy các trẻ em người Pháp. Hằng ngày cha tôi vẫn đưa tôi đến lớp dạy của cha tôi. Lạ lùng và thoáng làm sao! Vì khi cha tôi dạy cha tôi thường để tôi ngồi ngay trên bàn thầy giáo nhìn xuống mấy chú học trò người Pháp. Tôi đã quen với chuyện dạy học khi còn rất nhỏ. Đến giờ phút này tôi vẫn còn thắc mắc không hiểu sao hiệu trưởng cho phép cha tôi làm như vậy. Hiện nay tôi muốn biết nguyên do nhưng cha tôi không còn nữa để tôi hỏi chuyện này. Về sau tôi cũng đã là học sinh của ngôi trường này, nhưng tôi không phải là học sinh của lớp cha tôi dạy. Và như thế từ nhỏ tôi được học tiếng Pháp. Và có thể nói «ngôn ngữ mẹ đẻ»(langue maternelle) của tôi là tiếng Pháp. Tôi không được học tiếng Việt! 


Mãi cho đến năm 1959 cha tôi mới trở về làng Cà Đú. Và niên khóa 1959-1960 tôi học lớp nhì, tức lớp bốn bây giờ, tại Trường Tiểu học Hộ Diêm, vì làng Cà Đú chỉ có lớp một cho đến lớp ba. Tôi học lớp nhì tiểu học chương trình Việt. Nhưng lại học rất giỏi. Thường là đứng đầu lớp! Và không hiểu sao luận văn tiếng Việt của tôi cũng rất giỏi! Bắt đầu niên khóa 1960-1961 tôi được tuyển vào học lớp huitième tại Tiểu chủng viện Sao Biển Nha Trang (TCVSB). Lúc đó Tiểu chủng viện này có tên Tây là Petit Séminaire Stella Maris và  dạy chương trình Pháp. Tôi lại trở về với chương trình Pháp! Tôi đã học ở đây từ lớp huitième cho đến hết lớp troisième (1960-1966). Ở đây ngôn ngữ chính vẫn là tiếng Pháp, sách vở đều là tiếng Pháp cả. Hai sinh ngữ phụ là tiếng Anh và tiếng Việt! Có một điều rất may cho chúng tôi là tuy tiếng Việt được coi là một sinh ngữ phụ nhưng chúng tôi đã được hai vị giáo sư người Việt dạy môn Việt văn, có lẽ vì ý thức dân tộc khá cao, đã dạy một chương trình Việt văn hoàn toàn ngoài chương trình. Vị thứ nhất là linh mục Nguyễn Hữu Ban. 


Ngay từ những lớp đầu cấp chúng tôi được học về các truyện nôm «Bích câu kỳ ngộ», «Chinh Phụ ngâm»… rồi thơ của Chu Mạnh Trinh, tôi không thể nào quên bài «Hương sơn phong cảnh ». Rồi cha còn «cách mạng» đến nổi cho chúng tôi học nhiều đoạn trong tác phẩm «Đời phi công» của Toàn Phong Nguyễn Xuân Vinh. Vị thứ hai là linh mục Lê Xuân Hoa, tức nhà thơ công giáo nổi tiếng Xuân Ly Băng. Ngoài việc theo sát chương trình Việt văn của chương trình Việt cha còn dạy chúng tôi chữ Hán theo cuốn sách giáo khoa dạy chữ Hán do Bộ Quốc Gia Giáo Dục xuất bản năm 1954. Đó là cuốn «Hán –Việt Tân Khóa Bản». Sách này nguyên là sách «Hán –Văn Tân –Giáo Khoa Thư» của ông Lê Thước, Nguyễn Hiệt Chi, Bộ Q.G.G.D. đã giao ông Nguyễn Quảng Xương hiệu đính và tăng bổ ; ông Phan Duy Tiếp, Đoàn Thăng, là những vị cử nhân duyệt chính. Theo tôi, đây là một cuốn sách giáo khoa dạy chữ Hán rất độc đáo do các tác giả Việt Nam soạn để dạy chữ Hán cho các học sinh người Việt đầu cấp trung học, một cuốn sách hiện nay các nhà sưu tập sách cổ khó tìm thấy. (Sở dĩ tôi viết chi tiết chuyện đây cũng vì lý do này). 


Ngoài ra cha còn cho chúng tôi học thuộc lòng những câu trong «Minh Tâm Bửu Giám». Tôi còn nhớ rất rõ và đem ra áp dụng trong cuộc sống các câu như: «Vật dĩ ác tiểu nhi vi chi. Vật dĩ thiện tiểu nhi bất vi.» (Lưu Bị), và «Thiện nhân bất thiện nhân chi sư, bất thiện nhân thiện nhân chi tư. Nhu thắng cương nhược thắng cường, cố thiệt nhu thường tồn xỉ cương tắc chiết.» (Lão Tử). Thật ra cha giáo của chúng tôi dạy chữ Hán cho các chú tiểu chủng sinh nhỏ tuổi như chúng tôi là tiếp tục cái truyền thống dạy chữ Hán chữ Nôm trong các Chủng viện ở Việt Nam ngày xưa. Nghe tôi nói điều này sẽ có nhiều người cho là chuyện bịa đặt. 


Tôi chỉ nêu lên một sự thật là các kinh kệ thường nhật của người Công giáo «đọc trong nhà thờ» trước đây là bằng chữ Nôm. Các «cha già» vẫn thường xác nhận với chúng tôi rằng ngày xưa các cha đọc sách kinh chữ Nôm chứ không bằng chữ quốc ngữ. Ngắn gọn: hiện nay tôi đang có trong tay một số sách kinh này. Và tại Trung Tâm Dịch Hán Nôm Công Giáo do linh mục tiến sĩ ngữ học Nguyễn Hưng điều khiển hiện có rất nhiều sách Hán Nôm Công Giáo. Trước đây và cả bây giờ mỗi khi nói đến các nhà thơ Công giáo thì người đầu tiên người ta thường liên tưởng đến là Hàn Mặc Tử. Thật ra có thể nói được rằng Hàn Mặc Tử chỉ tìm nguồn thi hứng ở Công giáo mà thôi, nhà thơ Xuân Ly Băng mới thật sự là nhà thơ Công giáo với đầy đủ ý nghĩa. 


Nhà thơ Xuân Ly Băng lại là thầy dạy Việt văn của chúng tôi. Điều này cho thấy Việt văn rất được chú trọng ở trong một trường học dạy chương trình Pháp như Tiểu chủng viện Sao Biển Nha Trang. Đó cũng là một «cơ chế phản ứng tự vệ». Vì tôi học chương trình Pháp, tôi không có điều kiện học nhiều về Việt Nam cho nên tôi có khuynh hướng tìm học những môn mình không được học hoặc được học ít. Trong chương trình Pháp, ngoài việc học về văn minh Hi Lạp, La Mã ra, chúng tôi còn được học rất kĩ về Trung Cận Đông, văn minh Lưỡng Hà Địa (Mesopotamia) và văn minh Ai Cập. Đó cũng là điều kiện thuận lợi và cần thiết để tìm hiểu về thế giới Kinh Thánh. Có điều thú vị là giáo sư văn chương ngôn ngữ Pháp của chúng tôi lại kiêm luôn việc dạy lịch sử. 


Đó là cha J.Hirigoyen (Hương), một người Pháp gốc Basque, một tu sĩ hiện đại, đẹp trai và rất nghệ sĩ. Nói tới người là nói tới sự văn minh, trẻ trung, năng động nhưng rất đạo đức. Phương pháp dạy học của người mới mẻ gắn chặt với thực tế và thực hành. Chúng tôi viết những câu tiếng Pháp bên dưới những hình ảnh cắt từ các báo tiếng Pháp. Chúng tôi vừa học về chocolat và fromage Pháp vừa nhấm nháp những đặc sản này. Chúng tôi học về các loại hoa với những hình ảnh cắt từ các báo. Chúng tôi học về kỹ nghệ xe hơi của châu Âu với các échantillons nhỏ xíu trên tay. Và chúng tôi học về lịch sử âm nhạc cổ điển tây phương vừa được nghe đĩa các symphonies các morceaux của Handel, Haydn, Bach, Beethoven, Schubert, Schumann, Mozart, Liszt, Chopin, Tchaikovsky…vừa nghe người phân tích từng mouvement một. Nên nhớ đó chỉ là những giờ về lịch sử mà thôi, không phải giờ học về âm nhạc. 


Tôi cho rằng kiến thức về âm nhạc, nhất là về âm nhạc cổ điển tây phương tôi có được xuất phát từ những giờ học đó. Giáo sư Hirigoyen nay không còn nữa. Tôi viết những dòng này để tưởng nhớ đến vị thầy tài năng của tôi. Bắt đầu từ lớp sixième tôi còn được học chính khóa tiếng Latinh nữa. Và cổ ngữ này đeo đuổi tôi mãi đến năm lớp terminale, tức 7 năm trời. Thế mà vẫn chưa thông. Vì thế về sau này khi tôi nghe một vị học giả ở miền Bắc khoe rằng biết tiếng Latinh, nghĩa là thông, là rành tiếng Latinh vì đã từng được học môn này hai năm đầu cấp ở Trường Thiên Hựu (Providence) Huế thì tôi lấy làm ngạc nhiên lắm lắm. Chắc là «thiên tài»! 


Hiện nay các Đại Chủng viện ở Việt Nam chỉ học có hai năm cổ ngữ này với thời lượng hai tiết một tuần, theo tôi thì «chả làm ăn gì được»! Mất thì giờ vô ích! Ở TCVSB Nha Trang tôi đã học tiếng Latinh với Cố J.V.Clause (Hồng), (x. Tự thuật 1), cố L.P.Lagrange (Quang), một vị thánh sống rất hài hước có khiếu về biếm họa, đã từng bị trục xuất ra khỏi Trung Hoa Lục Địa, và tiến sĩ văn chương Anh Hoàng Kim Đạt; cha Đạt còn là giáo sư Anh văn của chúng tôi. Tôi cũng được học văn học Pháp với bề trên TCVSB là cố P.Jeanningros (Vị), cùng với những giờ tập hát Bình ca Grêgôriô (chant grégorien) vào các buổi sáng Chúa nhật. Cố Vị quả là một ca sĩ trứ danh. Quả thật cứ xem chương trình học cùng «dàn giáo sư» tôi «thọ giáo» ở TCVNSB thì biết được sở thích, sở trường và khả năng của tôi. Điều này cho thấy «yếu tố thầy giáo» có tính chất quyết định trong việc đào tạo học sinh. Tôi nhớ, những năm sau 1975, rất ít học sinh giỏi thi vào các Trường Đại Học Sư Phạm, đại đa số là học sinh trung bình. Tại sao? Vì làm thầy cô giáo thì nghèo lắm. Hồi đó vợ tôi ra chợ không dám xưng mình là giáo viên; sợ người khác thương hại. Dù vợ tôi là giáo viên Anh Văn của Trường cấp 3 hẳn hoi. 


Trước 75 một giáo sư đệ nhị cấp Anh văn, lúc đó gọi thế, rất có giá ; nếu đó là nữ giáo sư lại càng «sang» hơn nữa. Sau 75 chúng tôi thường nói đùa mà thật: «Thầy giáo là tháo giầy, giáo chức là dứt cháo!» Nhưng nếu không có học sinh giỏi thi vào Trường Đại Học Sư Phạm thì làm sao có thầy cô giáo giỏi được? «Đột biến» chăng? Trong khi Tiến sĩ Văn chương Anh Hoàng Kim Đạt dạy Anh văn cho chúng tôi là những học sinh các lớp Cinquième, Quatrième, Troisième, thì các học sinh lớp 7, lớp 8, lớp 9 ngày nay học tiếng Anh với ai ? Sở dĩ tôi nhấn mạnh đến điểm này là vì hiện tại người ta quá coi nhẹ việc đào tạo các giáo viên mẫu giáo, tiểu học và trung học cơ sở. Phần lớn các giáo viên này xuất thân vốn không phải là những học sinh giỏi mà lại được đào tạo trong một thời gian ngắn, thậm chí nhiều khi còn «cấp tốc» nữa thì thử hỏi việc giáo dục cơ bản làm sao có chất lượng. Thế có nghĩa là người ta quan niệm học sinh càng nhỏ tuổi càng dễ dạy. Thật là sai lầm! 


Vì tôi được may mắn học tập trong một môi trường tốt như thế cho nên đối với tôi việc thi cử diễn ra thật dễ dàng, tôi không hề cảm thấy một sự khó khăn nào. Và tôi đã dự thi liên tục. Cuối năm huitième tôi về nhà đâm đơn thi thí sinh tự do lấy bằng Tiểu học chương trình Việt, để rồi bốn năm sau khi tôi học xong lớp quatrième tôi nộp đơn thi thí sinh tự do bằng Trung học chương trình Việt. Hết năm troisième tôi thi Brevet, tức bằng Trung học của chương trình Pháp. Tôi kết thúc việc học ở TCVSB với mảnh bằng Brevet này. Sau đó chúng tôi được gửi ra học tại Trường Trung Học Thiên Hựu Huế. Đây là một trường trung học nội trú của Công giáo có từ năm 1933, một trường Trung học tư thục rất nổi tiếng và dạy chương trình Pháp. Khi mới được thành lập trường này có cái tên Tây là «Institut de la Providence». Chúng tôi có nhiều bậc đàn anh nổi tiếng xuất thân từ trường này. Ở cánh bắc thì có Phan Ngọc và Cao Xuân Hạo, hai vị này được học ở đây hai năm đầu cấp. Ở phía nam thì có các vị như: Dương Thiệu Tống, Bùi Xuân Bào, Tôn Thất Thiện, Lý Chánh Trung, Lê Thành Trị, Lê Thanh Minh Châu…Vào thời gian này Trường Thiên Hựu dạy song song hai chương trình Pháp và Việt. Ở trường Thiên Hựu tôi lại được may mắn «thọ giáo» các «đại tôn sư » Georges Lefas, Modeste Duval, Jean Oxarango, M.G.Cressonnier, và hai giáo sư người Pháp do Địa phận Nha Trang chi viện. Đó là cha J.J.A.Larroque, dạy môn vật lý, và cha René Gantier . 


Các vị này xét về tuổi tác thì đáng tuổi ông bà của tôi, xét về thâm niên giảng dạy thì thuộc hàng «trưởng lão» trong làng giáo dục Việt Nam. Ngoài ra tôi còn được học Việt văn với thầy Lâm Toại, một nhà giáo kỳ cựu và cũng là một huynh trưởng Hướng Đạo ở Huế. Thầy Lâm Toại cũng cho chúng tôi học đúng chương trình Việt văn của các lớp 10 và 11 chương trình Việt. Đặc biệt trong hai năm này tôi học Việt văn rất giỏi và thầy Lâm Toại vẫn thường đưa những bài làm của tôi đọc cho các lớp chương trình Việt nghe. Tôi rất phấn khởi. Có lẽ tôi đã chú ý và chăm học môn Việt văn hơn kể từ đó. 


Theo tôi, Trường Thiên Hựu nổi tiếng và thành công do hai đặc điểm này. Thứ nhất là kỷ luật rất «thép». Kỷ luật này tạo nề nếp cho học sinh và hình thành sự tự lập và tinh thần tự học. Hai hình ảnh gây ấn tượng nhất cho tôi là hình ảnh các học sinh được đi ra ngoài, chúng tôi quen gọi là sortie libre, hai giờ vào mỗi sáng chủ nhật. Nếu trong tuần học sinh nào có sai phạm thì sẽ bị «cấm túc», nhìn gương mặt mấy học sinh bị cấm túc mới thật não lòng làm sao. Hình ảnh thứ hai là cảnh im lặng trong phòng học chung; trong những giờ học tự do (étude libre).  Đặc điểm thứ hai là ban giáo sư giỏi và giàu kinh nghiệm. 


Ở Thiên Hựu hai giáo sư tôi thán phục nhất là cha Lefas và cha Duval. Cha Lefas là một huynh trưởng kỳ cựu của Hướng Đạo Pháp. Cha dạy chúng tôi văn chương Pháp và Sử Địa. Cha có một phương pháp phân tích văn chương rất đặc biệt. Đó là phân tích theo hình thức chia thành cột (mettre en colonnes). Cha rất chú trọng đến phép ẩn dụ (métaphore). Giáo án của cha là một tờ giấy lớn đã trổ màu vàng vì năm tháng gồm nhiều tờ giấy ghép lại, trên đó ghi chằng chịt nào chữ nào sơ đồ và rất rất nhiều những phần bổ sung sửa đổi. Tôi có cảm giác tờ giấy đó có từ thời cha bắt đầu dạy ở trường này; chắc các bậc đàn anh của chúng tôi đã từng thấy tờ giáo án này! Và hãy tưởng tượng một cụ già bê một cái máy quay đĩa từ tầng hai của một dãy nhà, xuống cầu thang để rồi băng ngang một cái sân rộng rồi lại leo lên cầu thang để đến một lớp học ở tầng ba một dãy nhà khác chỉ để cho chúng tôi nghe một đoạn đĩa chưa khi nào được mươi phút. Và khi đang nghe bỗng có tiếng chuông báo hết giờ thì cha tắt ngay kèm theo câu «c’est dommage!» với tiếng thở dài tiếc nuối. 


Cha Duval quả là một «thiên tài toán học». Cha cầm cuốn sách giáo khoa toán, chỉ cần liếc nhìn con số ghi bài tập là có thể viết ngay phương trình lên bảng. Tôi nghĩ cha đã thuộc lòng cuốn sách nên chỉ cầm trên tay cho có lệ. Lúc ấy chúng tôi đang học bộ sách Mathématiques của C. Bréard, một bộ sách toán học rất hiện đại và đương nhiên là «cao cấp» vào thời bấy giờ. Trong lớp cha Duval rất nghiêm. Hình như tôi chỉ thấy cha bật cười mỗi một lần khi cha đứng trên bục giảng nhìn xuống thấy thằng bạn của tôi đang cố bịt mũi bịt miệng cố ngăn cái hắt hơi nhưng không kiềm giữ được một âm thanh bị nghẽn thoát ra. Nhưng bên ngoài lớp học cha rất vui vẻ và gần gũi. 


Mỗi khi chúng tôi có ai đó mất chìa khóa valise cha sẵn sàng đến tận nơi, mang kính một mắt nhìn vào lỗ khóa cha cười kha kha mấy tiếng và hôm sau cậu học trò đó có thể đến phòng cha lấy một chìa khóa có hình thù rất ngộ nghĩnh. Vì thế có nhiều học sinh không hề mất chìa khóa nhưng vẫn báo mất cốt chỉ để có những chìa khóa có hình thù nhìn rất thích mắt kia. Ngoài ra tôi vẫn thường thấy khi thì cha nằm dưới gầm xe khi thì chui đầu dưới capô xe để sửa xe của một cha giáo sư nào đó. Cha Duval rất giỏi về máy móc. Tôi nghĩ vậy.  


Hết năm seconde tôi lại về thi thí sinh tự do bằng Tú tài I chương trình Việt. Hết năm première, với bằng Tú tài một được một năm, tôi có quyền thi thí sinh tự do bằng Tú tài II chương trình Việt. Để thi lần này tôi phải mua sách triết để tự học thêm chương trình triết học lớp 12 vì ở lớp première chúng tôi chưa học triết. Tôi cũng thấy dễ dàng và không thấy khó khăn gì. Cả hai lần thi Tú tài đều nhằm vào kỳ hè cho nên tôi đã về thi tại Nha trang. Và như thế cuối niên khóa 1967-1968 tôi đã có mảnh bằng Tú tài II chương trình Việt. Rất tiếc tôi không được học lâu dài ở trường Thiên Hựu vì đã xảy ra một sự kiện bất thường vào năm 68. Đó là biến cố Tết Mậu Thân. Lúc bấy giờ Trường Thiên Hựu phải đóng cửa vì thế mấy tháng cuối cùng của lớp première chúng tôi phải dời về học ở Collège d’Adran Dalat. Từ Huế lên Đà Lạt có sự thay đổi lớn về khí hậu, nơi học tập và nhất là các giáo sư. Tôi đã từng thấy khi còn ở TCVSB Nha Trang có sự khác nhau trong phong cách giữa các chủng sinh TCVSB với các đệ tử Dòng Lasan, thậm chí trong cả môn chơi thể thao. Trong khi môn chơi có thể nói sở trường của chúng tôi là bóng đá thì họ lại chuyên về bóng rổ. Trường Trung học Adran Đà Lạt cũng là một trường Trung học nội trú dạy chương trình Pháp rất nổi tiếng. Ở Miền Nam này lúc bấy giờ có ba trường Trung học nội trú dạy chương trình Pháp do các sư huynh Lasan điều khiển. Đó là Trường Pellerin Huế, Trường Adran Đà Lạt và Trường Taberd Sài Gòn. Và sự thật là học sinh ở các trường này thường phải là những con nhà khá giả mới có đủ điều kiện theo học. Các giáo sư mới của chúng tôi là các Frères (sư huynh): Camille, Jérôme, Pierre, Placide, Humbert và hai cha Larroque và Mais do địa phận Nha Trang chi viện, cùng cha Lange của địa phận Kontum. Ngoài ra còn có một vài vị giáo sư bên ngoài được mời vào dạy nữa. Các sư huynh này là những nhà giáo kỳ cựu và nổi tiếng trong ngành giáo dục và cả trong Dòng Lasan lúc ấy. Chúng tôi không nội trú trong trường như những học sinh khác, nhưng ở trong một dãy nhà riêng thuộc cư xá sinh viên của Viện Đại học Đà Lạt. Hằng ngày chúng tôi đi xe đạp đến Trường Adran để học. Đường Đà Lạt mà đi xe đạp phải nói là một hiện tượng lạ mắt. Niên khóa 1968-1969 tôi học lớp terminale ở Trường Adran, nhưng vì tôi đã có Tú tài II chương trình Việt nên tôi đã tự ý ghi danh học năm thứ nhất, lúc bấy giờ gọi là năm dự bị, tại Đại học Văn khoa Đà lạt. Tôi phải học chính bên Adran và thỉnh thoảng trốn học về học bên Đại học. Và những giờ tôi thường trốn học là những giờ triết của Frère Camille. Hình như Frère có biết nguyên nhân. Hậu quả là điểm triết trong học bạ của tôi năm đó thấp. Và Frère có phê trong học bạ về điểm triết của tôi một câu không thuận lợi chút nào cho việc thi cử của tôi. Thế nhưng không hiểu sao trong kỳ thi Baccalaureat năm đó tại Lycée Yersin Dalat, theo tôi được biết, điểm triết của tôi cao nhất trong trung tâm thi đó vào năm ấy. Tôi có đem chuyện này trình với Frère, Frère cũng thuộc hội đồng chấm thi năm đó, tôi còn nhớ rất rõ câu trả lời của Frère: “Frère biết con học được, nhưng vì con hay trốn những giờ của Frère nên Frère phải phê như thế để con lo mà học.” Tôi có than phiền là Frère phê như thế là “giết” tôi, là gây trở ngại cho việc thi cử của tôi và “làm xấu đi” học bạ của tôi. Frère chỉ cười trừ. Và tôi không bằng lòng chút nào. Thật ra thì tôi không học ban triết, chương trình Pháp gọi là série A, mà học ban Khoa học thực nghiệm gồm ba môn “chủ lực” là Lý, Hóa và Vạn vật, và chương trình Pháp gọi là série D. Và thực tế là tôi rất giỏi môn Vật lý (Physique), vì tôi mộng trở thành nhà thiên văn mà! Cha Larroque, một cử nhân Lý Hóa của Tây, đã dạy tôi ba năm môn này. Năm 1970 tình cờ cha gặp tôi ở phi trường Tân Sơn Nhất trong khi đang chờ chuyến bay, có hỏi tôi đang học thứ gì. Tôi đã trả lời là tiếng Anh và tiếng Việt, và cha đã giơ hai tay lên trời hối tiếc vì cha cứ tưởng tôi đi theo con đường của cha. Ở Adran tôi còn chú ý đến Frère Humbert (Cương) vì Frère thường cho chúng tôi thực hành những thí nghiệm sinh vật tại phòng thí nghiệm của Viện Đại học Đà Lạt; lúc ấy Frère là giáo sư môn Sinh vật của Viện Đại học Đà Lạt. Chắc vì Frère Cương mà tôi cũng rất thích môn Sinh vật. Và điểm sinh vật của tôi trong kỳ thi Bac năm đó cũng cao. Nhưng hai câu nói gây sự chú ý của tôi nhất trong thời gian học ở Adran mà bây giờ tôi vẫn còn nhớ. Đó câu “đe dọa” của Frère Camille: “Après la mort vous verrez!” Và câu nói có tính cách đúc kết kinh nghiệm của Frère Jérôme: «Muốn xem người nào đó có trưởng thành hay không thì hãy xem người đó có tự quyết định được hay không.» Thường ngày các Frère giảng bài bằng tiếng Pháp, không hiểu sao hôm đó Frère lại buột miệng nói câu này bằng tiếng Việt. Với kinh nghiệm của tôi, tôi nhận thấy rằng học sinh thường rất để ý và không bao giờ quên một câu nói nào đó của thầy cô giáo. Và câu nói đó rất có ảnh hưởng đến học sinh, nhất là đối với những thầy cô giáo được học sinh kính nể trọng. Bản thân tôi đã từng giật mình vì bất ngờ nghe một học trò cũ lặp lại một câu nói của mình cách đó mười năm hai mươi năm mà bây giờ mình không còn nhớ nữa. Một trong những trường hợp đó là trường hợp của Hoàng Trần Vạn Thành, một học trò cũ của tôi hiện nay là kỹ sư của NASA (x.Tường thuật 2).  Đó là năm Thành học lớp 10. Trong một giờ học cậu học trò to con và tinh nghịch đã hỏi vì sao tên tôi là THỐNG. Tôi trả lời: THỐNG ở đây là THÀNH THỐNG, nghĩa là tất cả phải trở thành hệ thống; đối với tôi tất cả phải có hệ thống mới được. Chắc những gì tôi dạy em đã quên hết rồi, em chỉ còn nhớ câu trả lời của tôi đó mà thôi. Trong một mail từ Mỹ gửi về em cho biết em chỉ còn nhớ về tôi duy nhất câu trả lời của tôi ngày xưa đó. Em cho biết bây giờ làm ở cơ quan NASA thấy lời của tôi nói là đúng, tất cả phải thành hệ thống. Chính người học trò này đã cung cấp phần lớn những sách vở tài liệu để học các cổ ngữ, để tôi thực hiện mơ ước thời thơ ấu của mình. Cũng cần nhắc lại rằng số sách vở đó không phải là rẻ! Nói lên điều này tôi muốn lưu ý các thầy cô giáo hãy chú ý «mà liệu ăn liệu nói». Ngoài ra ảnh hưởng của các thầy cô giáo trên các em học sinh không phải là nhỏ. Từ đó triển khai thêm câu nói: «thầy cô giáo là tấm gương để học sinh noi gương theo.»… Cứ như thế cuối niên khóa 68-69 tôi đã thi hai nơi và vừa có bằng Baccalauréat vừa có chứng chỉ Dự bị Văn khoa Đà Lạt. Chính vì «đa đoan» như vậy nên mới có «ngả rẻ cuộc đời» (x. Tự thuật 1). Tôi xuống Saigòn chỉ để lãnh cái Certificat của Baccalauréat và định sau đó sẽ trở về Đà Lạt học Vật lý. Nhưng khi ở Sài Gòn thì bạn tôi tự ý lấy chứng chỉ dự bị Văn khoa của tôi nộp đơn để tôi thi vào Đại Học Sư Phạm Sài Gòn! Tôi đã thi đậu. Và tôi đã «ham vui» ở lại Sài Gòn thế rồi « kẹt » luôn ở đó, vì vào thời đó sinh viên ở trường nào sẽ làm giấy hoãn dịch ở trường đó; không đổi tới đổi lui được. Giấy hoãn dịch quả thật là «con đường sinh tử» của sinh viên. Thế mới hay mưu sự tại mình mà thành sự tại bạn bè. Một trang mới bắt đầu. Và lúc này vai trò của Đức Hồng y Phanxicô thật là quan trọng. (x.Tự thuật 1).

Đúng thế. Cái giấy giới thiệu của Đức Cha Nguyễn Văn Thuận gửi cho cha Henri Forest, giám đốc Cư xá Đắc Lộ Sài Gòn mang tính quyết định. Thư của Đức cha không dán, cốt để tôi mở ra xem lén. Nội dung thư chỉ nói vỏn vẹn tôi là một mẫu người nghiêm túc đang cần có điều kiện tốt để làm việc. Chỉ có vậy, và cha Henri Forest là người tạo điều kiện tốt đó cho tôi. Mà quả thật cha Henri Forest đã thực sự giúp đỡ tôi mãi cho đến ngày cha phải rời xứ sở này.

Hôm tôi vào gặp giám đốc Cư Xá Đắc Lộ thì tôi thấy trước tôi đang có một sinh viên ngồi trả lời những câu hỏi của giám đốc. Sự việc diễn ra đơn giản và nhanh chóng:

-Vì sao con xin vào Cư xá này?

-Vì con ở Đà Nẵng vào. Con cần một chỗ ăn ở để đi học.

-Đây không phải là hotel. Đây là một trung tâm giáo dục. Đây là một nơi để sinh viên làm việc.

Và tôi không nhìn thấy anh sinh viên này trong số những người được vào Cư xá năm đó.

Đến lược tôi, giám đốc Cư xá mở thư giới thiệu ra đọc và chỉ nói một câu rất đơn giản: «Entre, demain!» (Ngày mai con dọn vào!) Năm 72 tốt nghiệp Đại học Sư phạm Sài gòn, tôi phải rời Cư xá. Khi làm thủ tục rời Cư xá của tôi anh thư ký (secrétaire) ban đại diện sinh viên Cư xá mới hỏi tôi: «Sao hồ sơ của toi moi chả thấy gì cả, chỉ mỗi cái thư giới thiệu?» Khi dọn vào Foyer, hai ý nghĩ xuất hiện trong đầu tôi: Sao giống tu viện quá! Và…Sao sang vậy! Đúng vậy. Đi vào cổng của Trung tâm Đắc Lộ, chẳng khác gì đi vào cổng của một tu viện; cũng kín cổng cao tường như thế. Lúc bấy giờ cũng có những sinh viên đi vào thư viện của Trung tâm để học, nhưng cầu thang lên thư viện thì nằm sát tại cổng ra vào vì thế sinh viên vào thư viện thì lên ngay cầu thang và Trung tâm vẫn có được cái không gian yên lặng hoàn toàn. Đi ngang qua bức tường ngăn cách giống như bức bình phong là sân trong, và ngay đó là một sân bóng rỗ. Chỉ có một anh sinh viên đang chơi trong sân, hai ba anh khác đứng bên ngoài, trông có vẻ muốn vào chơi lắm nhưng sao chỉ đứng ngoài nhìn mà thôi. Về sau này tôi mới biết nguyên do. Rồi tôi đi ngang một cái sân nhỏ, cỏ trong sân được chăm sóc kỹ lưỡng, xanh tươi mát mắt, và rồi một bức tượng Đắc Lộ bằng đồng. Ngay tại cửa ra vào của Cư xá có một anh sinh viên ra đón tôi. Tôi nhìn thấy ngay trên tường trước mặt một huy hiệu (insigne) lớn hình mặt la bàn mũi kim chỉ một tôn chỉ (devise) bằng tiếng Latinh: ESTO VIR. Trước khi lên cầu thang tôi liếc vội bên trái thấy trong phòng khách (salon) có một hai anh sinh viên khác đang ngồi đọc cái gì đó. Và anh sinh viên đưa tôi vào phòng của tôi. Người bạn cùng phòng không có ở đó. Để đồ đạc vào tủ, tôi mở cửa sổ nhìn xuống sân thấy một hai người đi lại. Nhưng rất lạ: một không khí yên ắng của tu viện! Việc đầu tiên là tôi đi vào toilet. Sáng sủa và sạch bóng. Tôi nhìn thấy ở đầu hành lang có một người đang cọ rửa sàn nhà. Tôi có cái cảm giác rất ngại đi trên cái sàn vừa mới được cọ rửa đó. Sang thật! Vâng tôi đã ở trong cái môi trường rất «tu viện» và rất «sang» đó được ba năm (1969-1972). Sau khi ra trường mỗi dịp về Sàigòn tôi vẫn thường về ở đó. Có phòng dành riêng cho các cựu sinh viên cư xá, anh em thường gọi là các AFAR. Và mỗi lần về như thế bao giờ tôi cũng có cái cảm giác mình vẫn còn là FAR, tức sinh viên đang ở trong cư xá. Đối với tôi, tuy Cư Xá Đắc Lộ (Foyer Alexandre de Rhodes) không phải là một Trường Đại Học, nhưng quả đúng là một Trung tâm giáo dục, như tôi đã từng nghe cha giám đốc nói với anh sinh viên quê Đà Nẵng không được vào Cư xá mà tôi đã nói ở đoạn trước. Cư xá Đắc Lộ đã góp phần rất lớn trong việc hình thành kiến thức và nhân cách con người của tôi. Về kiến thức như đã nói trước đây (x. tự thuật 1 và tự thuật 2), ở tiểu học và trung học tôi đã được học trong những môi trường rất tốt cả về chương trình học lẫn ban giảng huấn. Tôi nghĩ ở Việt Nam mà có những điều kiện học tập như tôi thì thành thật mà nói «nhất nước» rồi. Thế nhưng khi lên Đại học, tôi không cảm thấy bằng lòng về những gì tôi được học ở Trường, và xin lỗi phải nói thật thôi, tuy «nói thật thì mất lòng». Tôi cảm thấy rất nhiều giáo sư ở các Đại học tôi đã từng «thọ giáo» quả thật chưa được «đúng tầm». Thật ra có một vài vị tôi rất ngưỡng mộ nhưng tôi lại không có điều kiện học cho đến nơi đến chốn. Trước tiên tôi phải nói đến giáo sư Đặng Đình Áng. Trong khi tôi vừa học bên Đại học Sư Phạm vừa học bên Đại Học Văn Khoa để «ôm» cả tiếng Anh lẫn tiếng Việt và chữ Hán, chữ Nôm, thì tôi mới vỡ lẽ ra rằng «chả tốn công tốn sức bao nhiêu». Sao nó nhẹ nhàng «như tơ hồng» vậy. Một phần, nhưng có lẽ là phần quyết định, là tôi không tìm gặp được những bậc thầy tôi ngưỡng mộ như khi học ở Trung học! Thế rồi vì ĐHSP ở sát ngay bên Trường Đại Học Khoa Học và vì tôi đã có sẵn cái Baccalauréat ban khoa học tự nhiên, tôi mới nhớ lại môn Vật Lý nên ghi danh học chứng chỉ MGP (Mathématiques Générales et Physique). Tôi không gặp được một «thần tượng» Vật Lý nhưng lại gặp Gs. Đặng Đình Áng. Thật ra Gs. Áng chỉ dạy Giải tích 2 mà thôi, còn những thầy khác dạy những môn khác nữa như: Gs. Trần Văn Tấn, Khoa trưởng ĐHSP, dạy Giải tích 1, Gs Lâm Lý Hùng dạy Đại số, Gs. Lý Công Cẩn dạy Vật lý và một vị nào đó ăn mặt thật gọn gàng, nhưng tôi quên mất tên rồi, dạy Hình học. Tôi nhớ cả năm trời Gs. Áng chỉ «quay qua quay lại» với Tập Hợp Kín và Tập Hợp Hở mà thôi. Cứ Kín và Hở cả năm như vậy, «cua cấy» rất khó ghi, cũng may giáo sư có giới thiệu cho chúng tôi cuốn «Principles of Mathematical Analysis» của Walter Rudin. Tôi có «rình» mua được cuốn này, hiện nay tôi còn giữ làm kỷ niệm. Phải «rình » vì lúc bấy giờ không phải dễ mua  một cuốn sách toán bằng tiếng Anh như thế; hơn nữa các sinh viên khác cũng đang «săn»  cuốn sách đó như tôi. Tôi nhớ tôi đã mua được cuốn sách đó tại Bookshop ở đường Ngô Đức Kế Sài gòn với cái giá «cắt cổ». Mừng thì mừng thật nhưng ruột đau như cắt! Sau năm 75 tôi có tìm được một bản dịch tiếng Việt cuốn sách này do một số giáo sư toán ở miền Bắc dịch. Tôi chú ý đến bản dịch này là để học những thuật ngữ toán học tiếng Việt. Tôi có suy nghĩ: cả đến miền Bắc mà người ta cũng biết đến cuốn sách này thì quả là cuốn sách này thật rất nổi tiếng. Thế đó, tôi  thích học với Gs.Áng và một mình Gs. Áng mà thôi, tuy ngày đó tôi không biết vị trí của giáo sư trong làng toán học Việt Nam và quốc tế. Tiếc là tôi không tiếp tục đeo đuổi việc học đó được vì tôi đã phải trốn học bên ĐHSP là trường điểm danh sinh viên hàng ngày, và cuối năm thì lại không thi được vì trùng vào những ngày thi ở ĐHSP và ĐHVK ; khó khăn lớn nhất của tôi là việc giấy tờ hoãn dịch của tôi «kẹt cứng» bên ĐHSP, tôi không thể coi thường và bỏ ngang việc học bên đó được. Thế nên đành «nửa đường đứt gánh» vậy. Quả thật có những thầy tôi cũng rất kính nể, như cha tiến sĩ ngữ học Lê văn Lý, thầy Dương Thiệu Tống, thầy Giản Chi, thầy Lê Ngọc Trụ, thầy Nguyễn văn Trung, thầy Trần Thái Đỉnh, thầy Lê Tôn Nghiêm … nhưng hình như vẫn không «lọt vào tầm ngắm» của tôi vì những môn các thầy đó dạy lúc ấy chưa phải là những đề tài tôi quan tâm chú trọng. Tôi có nghe nói về cha Kim Định và đã đọc các tác phẩm của cha, nhưng tiếc là tôi không có duyên học giờ nào của vị giáo sư triết gia này. Cũng nói thêm là vào thời kỳ đó triết học và văn học Tây phương ở miền Nam đang độ phát triển và chín mùi nhất. Vì theo «xu hướng thời đại» tôi cũng có đọc sách triết học và văn học hiện sinh, thậm chí tôi còn ghi danh học mấy chứng chỉ như: «Lịch sử Triết học Tây phương», «Đạo đức học», «Luận lý-Siêu hình». Tôi có học với thầy Đỗ Khánh Hoan, học nhiều giờ là đàng khác, có đọc những tác phẩm dịch thơ Tagore của thầy, nhưng sao tôi vẫn thấy đó là chuyện «cực chẳng đã», tôi vẫn thấy đọc thơ Tagore trong bản tiếng Anh hay hơn. Cái cảm giác «cực chẳng đã» này về sau khi tôi dạy tiếng Anh cho học sinh tôi lại nhận ra. Lúc ấy và cả bây giờ khi dạy tiếng Anh tôi thường liên tưởng đến người Anh, người Mỹ dạy tiếng Việt.

Vì không thỏa mãn với những gì học chính khóa ở các trường Đại Học cho nên tôi mới tìm cách tự học. Tự học tôi muốn nói ở đây là hoàn toàn chủ đạo, chủ động ở tôi cả. Tự học ở đây không có nghĩa là không có thầy. Phải có thầy. Vì «không thầy đố mày làm nên». Nhưng thầy do tôi chọn và thầy ở đây rất đa dạng. Trong đó phải kể đến sách vở là những vị thầy «phổ biến» nhất của người tự học. Trung tâm Đắc Lộ nói chung và Cư xá Đắc Lộ nói riêng là môi trường rất tốt để tôi tự học. Trung Tâm Đắc Lộ lúc đó gồm có một thư viện, một đài truyền hình và một cư xá sinh viên. Cư xá sinh viên là một dãy nhà ba tầng, nhưng có không đến 50 mươi sinh viên thuộc nhiều phân khoa khác nhau, trong đó chỉ một phần năm là sinh viên Công giáo. Một bất ngờ đối với nhiều người. Và ở ngay trong Trung tâm có khoảng mươi linh mục Dòng Tên (Jésuites) thuộc nhiều quốc tịch. Trong số các cha Dòng Tên ở đây tôi chú ý nhất là Linh mục M.J.Lichtenberger, một nhà khoa học về phôi sinh học, giáo sư của Đại Học Y khoa Sài gòn. Cha có nghiên cứu về vân (chỉ) tay. Tôi có đọc trên tờ Science et Vie, số 675 tháng 12/73  một bài viết về công trình nghiên cứu của cha Lichtenberger về việc tính tỉ lệ độ dài cánh mũi của vợ chồng có thể đoán trước một cách khoa học bố mẹ sẽ sanh được nhiều  trai hay nhiều gái. Một bài nghiên cứu độc đáo, và rất «lạ đời». Và bản thân tôi thích những chuyện «lạ đời» như vậy. Tiếc là tôi không được học với cha! Và người thứ hai tôi đặc biệt kính nể, đương nhiên là giám đốc Cư xá Đắc Lộ của chúng tôi. Linh mục Henri Forest. Một người Canada vóc dáng to cao, toát lên trên gương mặt sự bản lĩnh, nghị lực, sự nghiêm nghị và…tình yêu thương. Tôi còn tìm thấy ở cha sự từng trải nữa. Các thế hệ sinh viên Cư xá luôn hãnh diện về vị giám đốc của mình. Và tất cả anh em chúng tôi đều nhìn nhận vị giám đốc này quả đúng là một người cha. Phần tôi, ngoài rất nhiều kỷ niệm khác, mỗi khi nghĩ về cha Henri Forest tôi đều nhớ lại ngay ba sự việc. Sự việc thứ nhất xảy vào một buổi chiều lúc tôi đang ngồi đọc báo trong salon của Foyer. Một bóng người cao lớn đi ngang qua cửa, rồi người đó quay lại và trước mặt tôi là cha Henri Forest. Cha nói: «Tại sao con không bật đèn lên? Con phải giữ đôi mắt của con chứ. Còn dùng đến chúng lâu dài nữa chứ.» Sự việc thứ hai: sau khi đã mỏi mệt ngồi học trong phòng, tôi mới đi thư giản bằng cách mò lên Thư viện của Trung tâm, kiếm một chỗ ngồi rồi không phải để đọc hay để học mà để «rửa mắt». Không hiểu sao lúc đó tôi lại thấy bóng dáng cha Henri Forest trước cửa phòng đọc của Thư viện. Trưa hôm đó giám đốc Cư xá gọi tôi lên «trình diện». Cha nói: «Tại sao con lên ngồi ở đó. Con có biết con ngồi ở đó là chiếm mất một chỗ của người khác không? Chỗ đó đâu phải là chỗ của con.» Và tôi đã hiểu vì sao các anh sinh viên của Thư viện Trung tâm đứng ngoài sân bóng rỗ không được phép vào chơi trong sân trong khi trong sân chỉ có một sinh viên của Cư xá. Sau đó tôi phải nộp một khoản tiền phạt, anh em trong Foyer chúng tôi thường gọi là amende. Vâng. Ở đây thường phạt như cảnh sát phạt, tức phạt bằng tiền. «Có thực mới vực được đạo.» Có phạt tiền như vậy mới «nhớ đời». Mới tởn! Sự việc thứ ba là vào tháng tư năm 75. Sau khi gia đình tôi «bỏ của chạy lấy thân» vào tới Sài gòn thì «sạch sành sanh». Tôi đến gặp cha Henri Forest ở Tòa Khâm Sứ Tòa Thánh tại đưòng Hai Bà Trưng Sài gòn. Lúc ấy cha Henri Forest đã về làm bí thư cho Khâm Sứ Tòa Thánh Henri Lemaitre. Tôi có than phiền lo sợ về sự mất tự do. Cha Henri Forest cho tôi một thông điệp nhớ đời: «N’oublie pas que tu as LA LIBERTÉE INTÉRIEURE. Personne ne peut l’enlever.» Bây giờ tôi vẫn chiêm nghiệm câu nói này. Sau đó cha có đưa tôi một phong bì. Có 100.000 đồng trong đó! Tôi biết rất rõ giá trị của những đồng tiền này vào lúc đó và trong hoàn cảnh gia đình tôi khi ấy. Chuyện bây giờ mới kể! Cha Henri Forest là như vậy. Không cần nói thêm gì nữa.

Về Foyer Đắc Lộ thì còn nhiều chuyện để nói. Ở đây tôi chỉ muốn nói đến bản sắc (identité) của nơi này mà thôi. Foyer Đắc Lộ đã chọn một câu nói của Thánh Phanxicô Xaviê làm tôn chỉ: ESTO VIR. «Hãy là người». Thật là nhân bản và cũng thật là nhân văn. Hàng ngày anh em sinh viên của Foyer đều nhìn thấy tôn chỉ này, và mỗi người có mang một cái «insigne» nhỏ trên ngực. Đây không phải là một hotel, như lời cha giám đốc đã khẳng định, mà là một trung tâm giáo dục, một nơi để sinh viên làm việc. Việc của họ là học hành, là rèn luyện mình thành người, những người có năng lực, những người ưu tú, không ích kỷ riêng tư nhưng hữu ích cho xã hội Việt Nam, một xã hội hãy còn nghèo nàn lạc hậu. Các sinh viên của Foyer làm việc trong những điều kiện đầy đủ nhất và tốt nhất. Đó cũng là chủ trương giáo dục của Dòng Tên. Có rất nhiều người nhìn thấy điều kiện làm việc của sinh viên ở đây đầy đủ và quá tốt như thế sanh ra nghi kỵ nghi ngờ. Họ đâu biết rằng tuy chén bát trông sạch sẽ sang trọng như thế nhưng những thức ăn trong những chén bát ấy rất bình thường. Họ đâu biết rằng các sinh viên thường đi làm công tác xã hội ở những khu dân cư nghèo, hớt tóc, tắm rửa cho các trẻ em, khám bệnh, phát thuốc cho bệnh nhân và người già. Và họ đâu biết rằng hàng tuần vào tối Chủ nhật, trong khi có thể các sinh viên khác đang vui chơi giải trí ở đâu đó, thì tất cả sinh viên của Foyer từ anh sinh viên năm thứ nhất cho đến anh sinh viên Y khoa năm thứ sáu sắp ra trường, tất cả tụ họp tại salon để nghe cha giám đốc Foyer giảng dạy về đạo đức, giảng dạy về học làm người. Và anh em sinh viên sống với nhau như anh em, không phân biệt thành phần, tôn giáo, ngành học. Vì thế anh em thích dùng từ Foyer hơn từ Cư xá; Foyer có cái hơi ấm gia đình hơn. Hiện nay không còn FAR nữa chỉ toàn là AFAR. Anh em đang chuẩn bị cho ngày kỷ niệm 50 năm thành lập Foyer Alexandre de Rhodes. Đó sẽ là một ngày hội ngộ lớn của «con cái» cha  Henri Forest.

Cách đây mươi năm, tôi có dạy tiếng Việt cho một sinh viên người Đức, cô Viola, nghiên cứu sinh đang viết luận án tiến sĩ về đề tài địa lý kinh tế Việt Nam. Cô học tiếng Việt với tôi trong ba tháng. Cuối kỳ học, giáo sư bảo trợ của cô có qua thăm Việt Nam mà cụ thể là Nha Trang. Cô có nhờ tôi giới thiệu Tháp Po Nagar Nha Trang cho vị giáo sư tiến sĩ địa lý học này nghe. Sau khi tôi giới thiệu về Tháp Po Nagar trong hai tiếng đồng hồ bằng cái tiếng Đức học được ở những lớp tiếng Đức tại Trung tâm Goethe Sài gòn trong ba năm ở Cư xá Đắc Lộ và học các Đại Học ở Sài gòn, ngài giáo sư Frederik mới hỏi tôi: «Chắc ông có đi học ở nước ngoài? » Trả lời: «Chưa lần nào.» Hỏi: «Vì sao không đi học nước ngoài mà ông biết nhiều như vậy?» Nghe câu hỏi đó tôi đã ngừng lại hơi lâu, không phải để tìm câu trả lời nhưng vì tôi đang bận nhớ lại Tiểu chủng viện Sao Biển Nha Trang, Trường Thiên Hựu Huế, Trường Adran Đà Lạt, các Trường Đại học ở Đà Lạt và Sài gòn, và Cư xá Đắc Lộ Sài gòn, cùng với các thầy giáo tuyệt vời của tôi và hai vị ân nhân «không lời nào tả xiết» là Đức Hồng Y Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận và Cha Henri Forest.



Có thể nói được là tôi xuất thân con nhà “võ biền”. Ông cố nội của tôi là người Đông Định, Phước Hậu, Tuy Phước, Bình Định. Ông có hơn mười mẫu đìa nuôi cá. Vào thời xa xưa đó làm nghề này thường phải có võ để bào vệ tài sản! Người Bình Định có võ là chuyện bình thường. Thế nên ở đây vấn đề võ nghệ cao thấp mới là chuyện quan trọng. Cứ theo lời kể của cha tôi thì ông nội tôi và các ông chú của cha tôi ít khi đi qua cổng để vào nhà mà thường nhảy phốc qua hàng rào để vào. Ông ngoại tôi cũng là một người võ nghệ cao cường cũng từ Bình Định vào sinh sống tại làng Hộ Diêm, Hộ Hải, Ninh Thuận. Cứ theo lời mẹ tôi kể, ông ngoại tôi một mình có thể đánh tan tác sáu người không có võ nhưng có vũ khí. Mẹ tôi là con một nhưng vì là “phận nữ nhi” nên chuyện võ nghệ không được học đến nơi đến chốn. Cha tôi tuy là cháu đích tôn và là con trai duy nhất của ông nội tôi nhưng từ nhỏ đã đi chủng viện thành ra không học được gì về võ nghệ. Thế nhưng hình như trong người tôi vẫn có cái “gène” di truyền kia nên tôi vẫn luôn thích “chuyện võ nghệ”. Trong gia đình người Công giáo Việt, thường thì người cha đi chủng viện nhưng không làm linh mục được thì con trai lại tiếp tục được đưa vào chủng viện. Nhưng tôi cũng chỉ “nửa đường đứt gánh” mà thôi. Việc cha tôi được học bốn năm ở Tiểu Chủng Viện Làng Sông Bình Định đã dẫn đến hậu quả là gia đình tôi không còn thuộc thành phần nông dân nữa tuy có sống ở nông thôn một thời gian. Và tôi đã được học ngoại ngữ, cụ thể là tiếng Pháp, từ rất nhỏ.


Thật vậy, khi tôi bốn tuổi (1953) tôi đã hằng ngày theo cha đến lớp ngồi đó và nghe cha dạy tiếng Pháp cho các anh “Pháp con” tại trường tiểu học Domaine de Marie Dalat do các xơ Dòng Vincent de Paul điều khiển. Sau đó khi đến tuổi học tiểu học tôi lại được “thực thụ” học ở trường này. Tôi nhớ là tôi không được học tiếng Việt ở trường. Tôi chỉ học vần O I E A Ư Ơ U Ê Ô ở nhà và do cha tôi dạy. 


Ở trường tôi chỉ biết có tiếng Pháp. Tôi còn nhớ rất rõ những bài học thuộc lòng dài thòng bằng tiếng Pháp khi thầy giáo gọi hai người một lên đọc đua ai đọc xong về trước sẽ được điểm cao hơn. Lúc tôi bảy tuổi (1956), cha tôi đã mua cho một cuốn tự điển bỏ túi Pháp Việt của Đào văn Tập. Lần đầu tiên sở hữu một cuốn sách nhỏ xíu như thế tôi hạnh phúc vô cùng. Tôi thường bỏ trong túi mang theo bên mình. Tôi còn dùng dao lam tự xén cho nó nhỏ hơn nữa để bỏ vừa ở túi áo trên ngực. Tôi bắt đầu yêu sách vở từ đó. 


Năm sau cha tôi còn mua cho tôi một cây Stylo 303 bé tí nữa. Năm 1960 cha tôi lại mua cho tôi một cuốn Petit Larousse màu đỏ rất xinh. Báu vật này hiện tôi còn giữ. Đó là những vật dụng yêu thích lúc nhỏ tôi luôn mang theo bên mình. Thói quen mang theo sách bên mình để học ngày nay tôi vẫn còn giữ, có điều là hiện nay tôi không thể nào bỏ những cuốn sách yêu thích trong túi quần túi áo được nhưng phải bỏ trong ba lô mang trên vai. Mỗi lần tôi đi xa, vợ tôi vẫn thường trách tôi “nặng nề với sách vỡ” là như vậy. 


Theo tôi, nên tranh thủ đọc sách. Hai vật tùy thân của tôi là cuốn sách và cây bút chì có đầu tẩy. Và đọc, nghĩa là học, bất cứ ở đâu. Có người nhận xét rằng người Việt mình ít đọc sách quá trong khi người nước ngoài lúc nào cũng có cuốn sách trên tay. Nhận xét này mới có từ những năm Việt Nam “mở cửa”; khi đông đảo khách du lịch nước ngoài vào đây. 


Thật ra thì sách mà “Tây” thường cầm đó đa phần là những cuốn Guidebook; cũng có một số mang theo tiểu thuyết để đọc. Điều tôi đặc biệt quan tâm ở đây là đọc gì thì đọc, đọc cần gắn liền với học. Đây là một hình thức tự học sơ đẳng và căn bản nhất. Ngày nay khi máy vi tính, nhất là laptop, thịnh hành đến độ phổ thông thì có người cho rằng ôi thôi rồi sách vỡ đã lỗi thời. Đương nhiên, kỹ nghệ thông tin mà cụ thể là  máy vi tính quả là một cuộc cách mạng chưa từng thấy, giúp con người làm việc, học tập hiệu quả và nhanh chóng gấp trăm gấp ngàn lần trước đây, nhưng thực tế thì sách vỡ vẫn phát triển mạnh, vẫn còn là một nhu cầu của con người thời đại và tôi thì vẫn còn cảm thấy rất thích thú khi cầm cuốn sách “cụ thể” trong tay; nhất là sau những giờ căng thẳng ngồi bên chiếc máy vi tính. Điều mà tôi sợ nhất có lẽ là sợ hại mắt. Nghe nói nhìn màn hình vi tính lâu, nhiều, hại mắt lắm. 


Ngoài ra, quả là có thể tìm, đọc nhiều thông tin, nhiều sách trên mạng, nhưng thực tế là những sách hiện tôi đang cần đọc để học tôi đều phải đặt mua từ bên ngoài, nghĩa là những cuốn sách cụ thể “giấy trắng mực đen”. Nên chi tôi không đồng ý chút nào với những ai cho rằng có máy vi tính, nhất là có laptop, thì dẹp sách vỡ. Có người cho rằng tôi bảo thủ. Thật ra chính xác phải nói là tôi  thủy chung. Trở lại chuyện học hành. Năm 1959 cha tôi về lại làng Cà Đú. Thế nên niên khóa 59-60 tôi tạm ngưng việc học tiếng Pháp. Tôi vào học lớp nhì, ngày nay gọi là lớp bốn, tại một trường làng, trường tiểu học Hộ Diêm, Hộ Hải, Ninh Thuận, cách Cà Đú quê tôi một cây số. Lần đầu tiên và cũng là lần duy nhất tôi được học tại một trường chương trình Việt. Nhưng những bài luận văn tiếng Việt của tôi vẫn vào hạng nhất lớp. Có lẽ được như vậy vì tôi đã tự học tiếng Việt qua việc đọc những sách tiếng Việt mà tôi tìm thấy trong tủ sách của cha tôi, nhất là bộ “Quốc Văn Giáo Khoa Thư”. 


Về sau tôi còn bổ túc tiếng Việt của mình bằng những truyện dịch của Hà Mai Anh. Và chỉ có thế vì bắt đầu từ năm 1960 đến năm 1969 tôi lại trở về với tiếng Pháp. Cũng may là trong khoảng thời gian đó, tuy học chương trình Pháp, tiếng Việt được xem là sinh ngữ hai, tôi và các bạn cùng lớp đã gặp được những giáo sư Việt văn luôn ý thức chúng tôi là người Việt nên đã “phá luật” dạy chúng tôi theo đúng chương trình Việt văn của những trường dạy chương trình Việt. Phần tôi, những bài luận Việt văn thường được các giáo sư khen, thậm chí còn được đưa sang đọc ở những lớp khác, nên tôi phấn khởi lắm. 


Và thế là tôi tiếp tục tự học tiếng Việt bằng đọc sách và tạp chí. Có một dịp khác nữa đã góp phần làm cho tiếng Việt của tôi khá hơn lên là các kỳ thi lấy bằng chương trình Việt. Tôi đã dự thi tất cả các bằng bên chương trình Việt: tiểu học, trung học đệ nhất cấp, tú tài một, tú tài hai. Muốn dự thi các kỳ thi đó tôi phải mua những sách giáo khoa của các lớp chương trình Việt và tranh thủ tự lên lịch và tự học tất cả. Có lẽ tôi thuộc dạng người hiếu kỳ hơn là hiếu học, nên tôi đã vượt qua một cách rất dễ dàng. Đúng là tôi học như chơi vậy. 


Tôi nhớ rất rõ tôi đã đọc toàn bộ các cuốn sách giáo khoa triết của lớp đệ nhất hoàn toàn trên võng với cuốn sách và bút chì trên tay trong vòng một tháng hè; cũng may trường của tôi cho nghỉ hè một tháng trước kỳ thi tú tài hai chương trình Việt. Và số thí sinh đậu bình thứ ban C kỳ thi Tú Tài hai năm 1968 tại Hội Đồng thi Nha Trang không vượt qua con số năm. Tôi hãnh diện nằm trong số đó. Khi lên đại học thì bạn bè lại xúi tôi học Việt Hán. Khi ra trường, ngoài những giờ dạy tiếng Anh ra, tôi còn được “chia” dạy Việt văn. Mà quả thực trước 1975 tôi thích dạy Việt văn hơn là Anh văn vì lúc ấy, và cả bây giờ, tôi vẫn luôn nghĩ rằng người Việt dạy Anh văn chẳng khác gì người Pháp, người Mỹ dạy Việt văn. Và  khi có dịp dạy Việt văn thì Việt văn của tôi càng khá hơn. Đúng là muốn khá về môn nào thì nên dạy về môn đó. Nghe ra thì mâu thuẫn nhưng sự thật là thế. Điều khó khăn trở ngại là mình có được dịp dạy môn đó hay không mà thôi. Ở trên, tôi có nói đến “trước 1975” vì sau 1975 tôi chỉ được phân công dạy văn ở lớp 10 và lớp 11 mà thôi, vì người ta bảo rằng tôi không thể dạy văn lớp 12 được vì chương trình văn học lớp 12 nặng về phần văn học cách mạng. Thế nên năm 1984 trưởng phòng tổ chức Sở Giáo Dục Khánh Hòa, sau khi trao đổi với tôi về việc không thể dạy văn lớp 12, đã chuyển tôi qua dạy Anh văn. Ông ta cho rằng như vậy hợp lý hơn. Phần tôi thì rơi vào tình trạng “tiến thoái lưỡng nan” vì tôi không thấy hứng thú gì khi dạy tiếng Anh vào lúc ấy, vì thú thật chương trình tiếng Anh cấp 3 lúc đó nó “làm sao ấy”. Cũng may sau đó “tôi mất dạy”! 


Tôi nói “cũng may” là vì suốt hai niên khoá (1984-1986) “mất dạy” tôi phải “bươn chải” bằng cách hàng ngày đạp xe đạp từ Thành về Nha Trang, 10 cây số, để dạy kèm tiếng Anh. Và một bữa nọ, một ông bạn họa sĩ biết tôi “biết ngoại ngữ” có hỏi tôi có cuốn sách tiếng nước ngoài” nào viết về Paul Gauguin không. Tôi đã lấy cuốn tiểu thuyết “The Moon and Sixpence” của Somerset Maugham dịch sang tiếng Việt để ông bạn “đọc chơi”. “Đọc chơi” thôi vì  muốn thử sức mình có khả năng dịch một tác phẩm văn học có dính dáng đến hội họa để một họa sĩ đọc không. Nói là “chơi” nhưng làm thật vì tôi quen thói nghiêm túc và say mê. Vì thế trước khi dịch cuốn sách này tôi đã tìm đọc lại những tiểu thuyết và truyện ngắn của S.Maugham và cả những tài liệu tôi có về tác giả này. 


Trước 75 tôi đã từng đọc một số bản dịch tiếng Việt các tác phẩm của S.Maugham và tôi đã yêu thích ông từ độ đó cho nên chuyện dịch tác phẩm “The Moon and Sixpence” diễn ra không những suôn sẻ mà còn hứng thú nữa. Tôi không hiểu sao lúc ấy tôi lại hưng phấn như vậy. Có nhiều đêm tôi dịch một mạch được hơn mươi trang nguyên bản. Về sau có nhiều đọc giả cho tôi biết “Vầng trăng và đồng sáu xu” là bản dịch tuy là đầu tay nhưng được xem là thành công nhất của tôi. Chắc có lẽ được như thế vì khi dịch  tôi rất thoải mái không hề bị câu thúc hoặc lo lắng về bất cứ chuyện gì. Tôi không hề đặt vấn đề in ấn xuất bản, nhuận bút bản quyền hay sợ ai đó đang “chạy đua” ra sách trước tôi. Quả thật các dịch giả ngày nay luôn bị chi phối bởi những chuyện này. Thế rồi ông bạn họa sĩ đọc thấy hay đã tự động đưa sách in ở nhà xuất bản. Khi nhà xuất bản in xong ông bạn báo đến nhà xuất bản nhận. Khi cầm cuốn sách trong tay tôi mới ngỡ ngàng và khó chịu với cái tên sách “Vầng trăng và sáu xu”. Quả thật khi dịch tác phẩm này được một phần ba tôi mới hiểu ra thâm ý của tác giả. Một bên là nghệ thuật nó to nó đẹp như một vầng trăng một bên là  chuyện tầm thường trong cuộc đời nó nhỏ nó thường tình như một đồng sáu xu của Anh. Thế nên tôi đã dịch là “Vầng trăng và đồng sáu xu”. Một đối một. Nhưng bây giờ thì một đối sáu. Tuy là sáu xu, không phải ba xu, nhưng trông cuốn sách quả không có giá trị gì. Giám đốc Nhà Xuất Bản Phú Khánh lúc bấy giờ, về sau là Nhà Xuất Bản Khánh Hòa, cho biết vì nhà xuất bản không có biên tập viên sách dịch nên đã gửi bản thảo vào nhờ biên tập viên của Nhà Xuất Bản Tổng Hợp Thành Phố Hồ Chí Minh. Và biên tập viên của nhà xuất bản này bảo rằng bên Anh không có đồng sáu xu (sixpence) chỉ có sáu xu (six pennies) mà thôi. Thế nên mới có cái tên sách như thế. Tôi phải khổ sở đạp về đạp đi hai mươi cây số để đem đến cho giám đốc xem cái hình đồng sáu xu (sixpence) in trong cuốn sách dạy tiếng Anh tôi học hồi còn nhỏ. Sự việc đã lỡ đành phải chịu thôi. Thế nhưng “trong cái xui lại có cái hên”. Giám đốc hỏi tôi có muốn làm biên tập viên sách dịch cho nhà xuất bản hay không. Thế là tôi trở thành biên tập viên sách dịch. Tôi đã trở thành người dịch sách kiêm luôn biên tập viên sách dịch. Một nghề nghiệp ngoài dự dịnh của tôi. Thật ra thì những năm học đại học tôi đã kiếm tiền bằng hai công việc: dạy kèm toán lý hóa và dịch thuê. Cho nên việc dịch không xa lạ gì với tôi. Nhưng lúc ấy tôi chỉ dịch những bài báo, chưa bao giờ dịch một tác phẩm văn học, và nay còn làm thêm một công việc tôi chưa từng học là biên tập sách dịch. Thế nhưng theo tôi, muốn giỏi về việc gì thì nên làm chính công việc đó. Dĩ nhiên sẽ là “vừa học vừa làm”, nhất là trong thời gian đầu. Và việc tự học vẫn là điều kiện tiên quyết. Một khi đã ngồi vào bàn của một biên tập viên sách dịch, công việc đầu tiên là sửa bài. Thật là nặng nề và to tát! Nghe ra cũng rất tự cao tự đại! Một biên tập viên sách dịch cần phải có kinh nghiệm về dịch thuật, nếu không muốn nói phải là người dịch  trước đã. Yêu cầu này xác định sự khác nhau giữa một biên tập viên sách dịch với những biên tập viên khác. Hiện nay có nhiều than phiền về các biên tập viên sách dịch ở các nhà xuất bản, theo tôi, chủ yếu vẫn do chuyện này. Cũng như người dịch, một biên tập viên sách dịch phải vững tiếng Việt, vững ngoại ngữ, và phải có kiến thức về lãnh vực viết trong cuốn sách mình biên tập. Thực tế thì các yêu cầu này ít được đáp ứng, vì thường thì người vững tiếng Việt lại không vững về ngoại ngữ, người vững về ngoại ngữ thì trình độ tiếng Việt không cao. Đa số các biên tập viên xuất thân từ những người học ngữ văn. Còn những sinh viên học ngoại ngữ thì có thì giờ đâu để luyện tiếng Việt. Đó là chưa nói đến kiến thức các lãnh vực chuyên môn. Vì thế những than phiền là chuyện thường ngày. Ngoài ra biên tập viên nói chung phải có hai đức tính là khiêm tốn và tự tin. Khiêm tốn để lắng nghe, tiếp thu và tự tin thể hiện bản sắc, lập trường. Tuy chỉ là một nhà xuất bản địa phương, nhưng tôi vẫn hân hạnh được biên tập những bản dịch của những “cây đa cây đề”, vì lúc bấy giờ nhu cầu hàng đầu là sách được xuất bản nên các vị dịch giả không nề hà gì chuyện địa phương hay trung ương. Lý tưởng như thế nên khó khăn vô cùng! Bởi vậy hiện nay người ta đã đơn giản hóa thành ra có nhiều than phiền. Khó khăn như thế chỉ có một cách khắc phục, đương nhiên là từ từ. Đó vẫn là tự học. Vì thực tế những người dạy về biên tập sách dịch không chừng chưa khi nào biên tập một cuốn sách dịch. Cũng như những vị dạy về dịch thuật không biết đã từng dịch một cuốn sách nào chưa. Đây là trường hợp thường thấy ở Việt Nam. Trong khoảng thời gian làm biên tập viên, sáu năm, tôi đã tự học hoàn toàn. Vì đó là một nghề tôi không hề được học ở đâu cả, và vì cũng không hề có dự định làm nghề này. Nhưng có điều chắc chắn là tiếng Việt của tôi đã khá hơn rất nhiều nhờ làm nghề biên tập sách dịch này. Bản thảo đầu tiên tôi biên tập là bản dịch cuốn “The Carpetbaggers” của Harold Robbins do Mạnh Hà và Thanh Sơn dịch với tựa đề “Người lữ hành kỳ dị”. Quả thực tựa đề sách này rất khó dịch sang tiếng Việt, dầu sao tôi không thích cái tựa đề này, nhưng là một đầu sách mà trưởng phòng biên tập của Nhà Xuất Bản chúng tôi đã cố công thuyết phục Nhà Xuất Bản Lao Động “chuyển nhượng” cho Nhà Xuất Bản Phú Khánh nhằm mở đầu cho một loạt sách dịch ở một Nhà Xuất Bản địa phương nên tôi không thể góp ý gì nhiều được. Đàng khác tuy tôi là người trực tiếp biên tập đầu sách này nhưng vì là người “mới vào nghề” nên  đứng tên biên tập vẫn là bút danh của trưởng phòng biên tập. Theo tôi hai dịch giả của bản dịch này đã nắm bắt được khá tốt nội dung cũng như tình tiết của cuốn tiểu thuyết, tuy vậy khi đối chiếu với bản gốc tiếng Anh tôi thấy rằng đây chỉ là  một dạng phóng dịch, một hình thức dịch thuật hiện đang phổ biến ở Việt Nam. Có nhiều quan niệm khác nhau về dịch thuật nhưng đại thể có hai khuynh hướng chính: phóng dịch và trực dịch. Có người chủ trương dịch là sáng tạo; bản dịch trở thành tác phẩm của chính người dịch. Có người lại cho rằng dịch là chuyển giao một thông điệp, cho nên khi dịch phải bám sát cấu trúc ngữ nghĩa, cấu trúc cú pháp, và ý nghĩa chính xác từ vựng nguyên bản. Ở đây bản dịch ngoài việc chuyển tải thật chính xác nội dung thông điệp vẫn mang dấu ấn, văn phong của tác giả nguyên bản. Có thể nói được rằng trực dịch, nôm na gọi là dịch sát, là chuyển ngữ. Nhiều người cho rằng bản trực dịch như thế sẽ nặng nề, sẽ ‘Tây”, sẽ “Tàu” hoặc gì gì đó chứ không phải bản văn của ngôn ngữ của người dịch. Họ có lý vì những bản trực dịch thường rơi vào tình trạng này. Tôi cho rằng những khó khăn này không phải là không thể vượt qua. Vấn đề căn bản là người dịch cần luôn chú ý đến đặc tính, bản sắc của ngôn ngữ dịch và ngôn ngữ được dịch. Ngoài ra bản dịch vẫn có thể là một sáng tạo của người dịch; vẫn mang dấu ấn người dịch. Dĩ nhiên bản trực dịch đạt trình độ nghệ thuật sẽ chứng minh cụ thể, rõ ràng nhất bản lĩnh và tài năng của người dịch. Ở Việt Nam hiện nay người ta thường đánh giá một bản dịch chỉ căn cứ trên bản dịch mà thôi; ít có điều kiện đối chiếu bản dịch với nguyên bản. Tôi đơn cử trường hợp dịch giả Phùng Khánh, tức Thích Nữ Trí Hải. Ni sư Trí Hải rất nổi tiếng với những bản dịch sách Phật học. Trong lời dẫn bản dịch cuốn “Thanh Tịnh Đạo” ni sư có viết: “Bản này khi in lại lần hai đã được rút gọn và sửa sai nhiều, bỏ bớt những chỗ trùng lắp, lối hành văn xưa, và thỉnh thoảng dùng một vài từ thời đại cho đỡ khô khan, nhưng bảo đảm không đi quá xa với nguyên bản. Không tin, quý vị thử so với bản Anh ngữ thì sẽ thấy.” (x. trg. IV, Thanh Tịnh Đạo, Nxb Tôn giáo, 2001). Tôi hơi bất ngờ về câu cuối cùng này. Và từ đó nảy sinh hiếu kỳ muốn xem xem tài nghệ của vị ni sư này. Tiếc là lúc bấy giờ tôi không có bản dịch tiếng Anh “The Path of Purification” tác phẩm nguyên bản tiếng Pali “Visuddhimagga” của Bhadantacariya Bhuddhaghosa do Bhikkhu Nànamoli dịch sang tiếng Anh. Tôi bèn nảy ra ý định tra cứu “đỡ” một bản dịch rất nổi tiếng khác, “Bắt trẻ đồng xanh”, do vị ni sư này dịch từ tác phẩm rất nổi tiếng “The Catcher in the Rye” của nhà văn Mỹ J.D. Salinger. Thì hỡi ôi có nhiều điều không được “cẩn trọng và chân xác” như lời của Thượng tọa Thích Minh Châu đã từng viết trong “Lời giới thiệu” bản dịch “Thanh tịnh đạo” (x. sđd. trg. III). Thế mà nhiều đọc giả Việt Nam đã từng tán thán bản dịch “Bắt trẻ đồng xanh”! Tôi vẫn biết các tác phẩm của Salinger, nhất là “The Catcher in the Rye”, quả là rất khó dịch. Nhiều người đã “chết” vì tác phẩm này, trong đó có Jean-Baptiste Rossi,   người dịch tác phẩm này sang tiếng Pháp với nhan đề “L’attrape-coeurs”. Ông này sau khi dịch cuốn sách đã bị nhà xuất bản cắt hợp đồng không cho dịch những tác phẩm khác của Salinger. Nhưng khó không có nghĩa là không thể. Đây không phải như trường hợp thơ Hồ Xuân Hương và tác phẩm “Finnegans Wake” của James Joyce; tôi cho rằng đây mới là những tác phẩm không thể nào dịch “chân xác” được. Điều tôi muốn nói ở đây là các đọc giả và cả các nhà phê bình Việt Nam khi đánh giá một bản dịch tiếng Việt thường không đối chiếu với tác phẩm nguyên bản. Trường hợp thứ hai là bản dịch “Thế giới của Sophie”, do Huỳnh Phan Anh dịch từ bản dịch tiếng Pháp “Le monde de Sophie” cuốn tiểu thuyết nguyên bản tiếng Na Uy “Sofies verden” của tác giả Jostein Gaarder. Đây là một tác phẩm rất nổi tiếng đồng thời cũng là sách bán chạy (bestseller) tiểu thuyết hóa cả một nền triết học Tây phương. Tôi rất hăm hở khi đọc bản dịch này vì đây là một cuốn tiểu thuyết đã được dịch sang nhiều thứ tiếng, có đến mười lăm mười sáu thứ tiếng và lần đầu tiên lại được dịch sang tiếng Việt. Đề tài lại lạ. Hơn nữa người dịch cũng có tiếng, lại nguyên là người dạy triết ở trung học. Tôi nghĩ và nhiều người cũng nghĩ như thế là “trúng tủ” rồi. Tôi chỉ đọc bản dịch tiếng Việt thôi vì không có nguyên bản và những bản dịch các ngôn ngữ khác. Nhưng ngoài những lỗi morat (morasse), rất nhiều, nghe nói chính người dịch đã giành phần sửa bản in, tôi thấy có nhiều điều bất hợp lý trong câu chữ. Tôi sinh nghi ngờ. Tôi đoán ở những chỗ đó người dịch chưa hiểu hết câu chữ tiếng Pháp. Thế rồi tôi lại tìm được chính bản dịch tiếng Pháp “Le monde de Sophie”, do Hélène Hervieu và Martine Laffon    dịch từ bản gốc tiếng Na Uy. Tôi nghĩ mình đã có lý. Nhưng tôi vốn đa nghi nên lại đi tìm một bản dịch tiếng nước ngoài khác. Tôi đã tìm được một bản dịch tiếng Anh, “Sophie’s World”, do Paulette Moller dịch từ nguyên bản tiếng Na Uy. Tôi so sánh bản dịch tiếng Pháp với bản dịch tiếng Anh. Về sau tôi còn tìm được những bản dịch tiếng Đức, tiếng Nhật, tiếng Thụy Điển và cả nguyên bản tiếng Na Uy. Bây giờ thì tôi tin là mình hoàn toàn có lý: người dịch không phải là người “rành” tiếng Pháp lắm đâu. Nghe ra thì lạ tai, phản cảm và dễ gây mất lòng. Nhưng sự thật là thế. Vì vậy nghe đồn vẫn là tin đồn, cần phải kiểm tra lại; đừng vội tin. Những gì tôi muốn nhấn mạnh ở đây là: Tôi vốn không tin tưởng lắm ở những bản dịch không từ nguyên bản. Và phương pháp học dịch của tôi, một phương pháp hoàn toàn tự học và riêng tư, là so sánh các bản dịch nhiều ngôn ngữ khác nhau. Công việc chính của tôi là dịch thuật. Nhưng tôi vốn thích nguyên bản hơn; dịch thuật chẳng qua là chuyện cực chẳng đã. Và để học tập về dịch thuật tôi lại thường tìm kiếm và so sánh các bản dịch khác nhau. Ngoài ra dịch đối với tôi là trực dịch, nôm na gọi là dịch sát, tiếng Anh gọi là Literary Translation. Tôi không cho rằng phóng dịch là hình thức thích hợp cho dịch thuật văn học. “The Carpetbaggers” là tác phẩm nổi tiếng nhất, theo tôi cũng là hay nhất, của Harold Robbins. Tác giả này thường được xếp vào hàng những nhà viết tiểu thuyết giải trí, không được đánh giá cao về văn học nghệ thuật. Nhưng theo tôi, đây là một cuốn sách tuyệt vời. Tôi luôn xếp nó ngang hàng với cuốn “Exodus” của Leon Uris. Đây là hai cuốn tiểu thuyết “đời thường” tôi rất yêu thích và luôn được đặt ở vị trí đặc biệt trên kệ sách của tôi. Tôi không nói “The Carpetbaggers” là một tác phẩm văn học tuyệt vời nhưng là một cuốn tiểu thuyết tuyệt vời. Có lẽ nhiều đọc giả cũng đồng ý với tôi cho nên cuốn tôi có trong tay in năm 1971 mà đã là ấn phẩm lần thứ 69. Sự tuyệt vời ở bố cục diễn biến tình tiết câu chuyện và ở kiến thức bách khoa của tác giả. Chúng ta không tìm thấy ở đây những gì bóng bẩy mượt mà nhưng là những ngôn từ sống thực, đời thường, nhưng đặc thù của từng giới. Câu chuyện thì lôi cuốn hấp dẫn khiến người đọc cứ đọc đọc mãi không dứt ra được. Chính vì sự hấp dẫn của cuốn tiểu thuyết này nên tôi đã mua “dự trữ” coi như toàn bộ các tiểu thuyết của Harold Robbins. Nhưng tôi đã bị “hớ”, vì theo tôi chỉ cuốn “The Catpetbaggers” là xuất sắc, ở các cuốn tiểu thuyết khác Harold Robbins đã sa đà vào chuyện tính dục! Có lẽ vì điều này nên các nhà phê bình văn học không đánh giá cao các tiểu thuyết của tác giả này. Có điều thuận lợi là tôi đã sở hữu từ trước một nguyên bản cuốn tiểu thuyết “The Carpetbaggers” và đã đọc hai lần rồi cho nên khi biên tập tôi có cái hứng thú xem xem người dịch đã “làm ăn” như thế nào. Và tiến trình công việc biên tập đầu tay này diễn ra hoàn toàn tự biên tự diễn vì tôi đã được học để làm công việc này đâu. Tôi bỏ qua công đoạn đọc nguyên bản vì đã đọc hai lần rồi. Tôi đọc thẳng bản dịch ngay. Vì là một bản phóng dịch cho nên tôi chỉ đọc từng đoạn của bản dịch để xem có trục trặc chỗ nào không hoặc có sự bất hợp lý nào không. Tôi sẽ dừng lại để đối chiếu với nguyên bản ở những nơi tôi nghĩ là có sự cố. Và lấy quyền của biên tập viên tôi tự ý và tự tin sửa những chỗ có vấn đề đó, dĩ nhiên là phải theo văn phong không phải của tôi mà của người dịch. Đây là lúc thể hiện bản lĩnh của biên tập viên. Nhưng phải có bản lĩnh thì mới thể hiện được; làm thế nào có thể thể hiện những gì bản thân không có. Đàng khác đây cũng là lúc cho thấy tính chất “làm dâu trăm họ” và “nhập gia tùy tục” của người biên tập. Các biên tập viên ngày nay thường hay bị phàn nàn cũng vì hai yếu tố bản lĩnh và tính chất này. Bản dịch thứ hai tôi biên tập là “Nô lệ hay nữ hoàng” do Vũ Đình Phòng dịch từ cuốn tiểu thuyết tiếng Pháp “Esclave ou Reine” của Delly. Đây là một cuốn tiểu thuyết giải trí dành cho các bà. Delly là bút danh của hai chị em, Jeanne-Marie (1875-1946) và Frédéric Petitjean de la Rosière (1876-1949). Có đến 105 đầu sách mang tên tác giả Delly. Đây là những sách bán rất chạy vào những thập niên năm mươi, được dịch nhiều thứ tiếng và đã bán được hàng chục triệu bản. Theo chỗ tôi biết thì trước 75 chỉ mới có một bản dịch là “Chiếc áo màu thời gian”, nguyên bản là “Ma robe couleur du temps”. Sau 75 thì có được mươi bản dịch tiếng Việt, và “Nô lệ hay nữ hoàng” có lẽ là bản dịch tiếng Việt đầu tiên. Đây cũng là một đầu sách “chuyển nhượng” từ Nhà xuất bản Lao Động. Sở dĩ có những sự chuyển nhượng như thế này vì trưởng phòng biên tập Nhà Xuất Bản Phú Khánh vốn trước đó là người của Nhà Xuất Bản Lao Động. Sở dĩ tôi nói rõ về sách của Delly vì lúc đó sau khi đọc nguyên bản cuốn “Esclave ou Reine” này tôi biết ngay đây loại tiểu thuyết nên dịch ra hàng loạt để bán. Vì thế ngay sau đó tôi đi Sàigòn vào khu sách cũ ở đường Calmette mua khá đầy đủ sách nguyên bản tiếng Pháp của Delly, để dành “làm ăn”. Về bản dịch “Nô lệ hay nữ hoàng” của Vũ Đình Phòng, tôi nhận thấy người dịch không nắm vững những thuật ngữ nhà đạo Công giáo, chưa phân biệt được giữa linh mục và mục sư. Tôi đã chỉnh sửa tất cả những sai sót này. Tuy tác giả Delly chưa thể gọi được là nhà văn Công giáo, nhưng câu chuyện được miêu tả ở các tiểu thuyết của Delly phần lớn là chuyện của một nhân vật người Công giáo. Chắc không cần nhắc lại những thuật ngữ nhà đạo của người Công giáo khác với những thuật ngữ của người Tin Lành, nói chi đến những thuật ngữ của tín đồ của các tôn giáo khác. Ngoài điểm đặc biệt các sách của Công giáo có ghi Nihil obstat (Không có gì ngăn trở) và Imprimatur (Được phép in) chúng ta vẫn có thể nhận ra đâu là sách của người Công giáo đâu là sách của người Tin Lành, nếu chúng ta biết rõ các thuật ngữ thường dùng của tín hữu, tín đồ của hai tôn giáo này. Chính vì những dị biệt và đặc thù này tôi chưa bao giờ có dự định dịch một cuốn sách về Phật học khi chưa nắm bắt được các thuật ngữ của người theo Đạo Phật. Tuy đã có dịp đọc nhiều các sách Phật học bằng tiếng Anh nhưng tôi vẫn thường đọc đi đọc lại cuốn “Phật pháp” (Chương trình của Gia Đình Phật Tử. Do Ban Đại Chứng Minh Tổng Hội Phật giáo Việt Nam chứng minh. Thích Minh Châu, Thích Thiện An, Thích Đức Tâm, Thích Chân Trí biên tập. Tổng Hội Phật giáo duyệt y và xuất bản năm 1962.) để học ngôn ngữ nhà Phật. Ngoài ra tôi còn đọc đối chiếu cuốn “Các tông phái của Đạo Phật” (do Tuệ Sỹ dịch, gần đây đã được chỉnh sữa và có tựa đề mới là “Tinh Hoa của Phật giáo”) với bản tiếng Anh “The Essentials of Buddhism Philosophy” của Junjiro Takakusu để mong “thấm nhuần” phần nào ngôn ngữ Phật học. Gần đây có nhiều Từ Điển, Tự Điển Phật Học, Phật giáo, được xuất bản đã giúp ích rất nhiều cho việc học của tôi. Sở dĩ tôi đã dài dòng về những việc này là muốn nhấn mạnh đến tầm quan trọng của các thuật ngữ đặc thù, chuyên môn, chuyên ngành mà người biên tập cũng như người dịch phải đặc biệt lưu ý, bằng không những bản biên tập, những bản dịch sẽ “lật tẩy” cho thấy sự dốt nát của các đương sự. Đây cũng là dịp cho thấy tay nghề, bản lĩnh của người biên tập, của người dịch. Sau cuốn “Nô lệ hay nữ hoàng” tôi có cho cộng tác viên dịch và xuất bản hai cuốn khác là “Bước gian truân” (Sous l’oeil des Brahmes) và “Mắt em màu xanh” (Hoelle aux yeux pers). Ngoài Delly, ở Pháp còn hai tác giả sách giải trí khác cũng được đọc rất nhiều ở những thập niên năm mươi sáu mươi là Magali và Max du Veuzit. Tôi cũng đã mua để dự trữ rất nhiều sách của hai tác giả này. Thế rồi vì “vật đổi sao dời” và vì bận nhiều việc khác nữa tôi không tiếp tục cho dịch những cuốn khác của các tác giả này nữa. Và hiện nay số sách của Delly, Magali, Max du Veuzit và Harold Robbins đó phải chịu nằm “trơ gan” trên kệ kho sách cũ nhà tôi. Bản dịch thứ ba tôi biên tập là một bản dịch cuốn “Le fils de la baleine” của tác giả Cung Giũ Nguyên. Nhưng vì bản dịch này “quá tệ” thành ra thay vì biên tập tôi đã phải đích thân dịch tác phẩm này. Một chuyện thật tình cờ. Đó là bản dịch của ông Cung Giũ Hốt, còn có tên là Nguyễn văn Hùng, một người em của học giả Cung Giũ Nguyên. Ngày ấy tôi có nghe tiếng Thầy Cung Giũ Nguyên, nhưng chưa từng gặp mặt. Tôi biết thầy là một huynh trưởng Hướng Đạo kỳ cựu, một nhà báo lâu năm và nhất là một nhà văn người Việt viết tiếng Pháp và nghe nói có cuốn tiểu thuyết gì đó “sém” được giải Goncourt của Pháp, vì thế tôi rất hứng thú khi cầm bản thảo bản dịch cuốn “Le fils de la Baleine” của thầy trong tay. Tôi đã đọc hơn mươi trang bản dịch và cảm thấy nó “sao sao ấy”. Ngày ấy những người dịch không có thói quen gửi đến nhà xuất bản bản dịch kèm với nguyên bản, một phần có lẽ vì sợ mất bản gốc một phần vì nghĩ rằng các biên tập viên không đọc được “tiếng Tây tiếng U”; hơn nữa đó lại là biên tập viên của một nhà xuất bản địa phương. Tôi nói “ngày ấy” vì cũng có đến hơn hai mươi năm rồi. Ngày nay thì có thể biên tập viên đọc được nguyên bản, tôi chỉ nói là “có thể” thôi, nhưng thường không có đủ thì giờ vì mắc “chạy đua” nên chi hãy còn nhiều chuyện than phiền. Tôi đã yêu cầu người dịch cho xem nguyên bản tiếng Pháp. Tôi đã tập trung đọc “tốc hành” 220 trang tiếng Pháp trong hai ngày, nghĩa là vẫn có thì giờ thưởng thức. Tôi khám phá thấy đó là một cuốn tiểu thuyết tuyệt vời. Nhà văn học giả người Pháp nổi tiếng Daniel-Rops đã từng khen tác phẩm đây như thế này: “Un roman au gout savoureux écrit dans une langue pure, élégante, qui se refuse aux effets faciles mais est pleine des subtiles résonances… Un mélange de réalisme paysan et de rêve. Avec tout le temps, sous-jacente, cette ironie légère et tendre faite de beaucoup de sagesse et aussi de sympathie humaine… Qu’un Cung Giu Nguyên puisse rivaliser un Pourrat, un Ramuz, un Giono…, voilà qui est nouveau…” Tôi đọc lại bản dịch. Quả là quá tệ. Không tương xứng. Tôi đã yêu cầu người dịch dịch lại.  Người dịch không đồng ý. Thế rồi một tuần sau tôi có dịp đến nhà Thầy Cung Giũ Nguyên. Thầy đã đặt tôi vào tình trạng “tiến thoái lưỡng nan”. Tôi đã chê người khác thì tôi phải làm được chứ. Thế rồi tôi lại phải dịch “tốc hành” cuốn sách ấy đúng một tháng trong điều kiện khó khăn vật chất, đèn điện nhá nhem, và tinh thần, phải “chạy đua”. Thế nhưng tôi vẫn giữ đúng phương pháp dịch của tôi, nghĩa là dịch sát, bám sát văn phong của tác giả và bảo đảm về phần tiếng Việt. Nhưng ở đây thú thật tôi có phá lệ phần nào khi dịch tên tác phẩm. Tôi dịch là “Kẻ thừa tự của Ông Nam Hải” thay vì “Người con trai của Cá Ông”.Trong tác phẩm của mình Thầy Cung Giũ Nguyên chỉ phóng dịch phiên phiến những câu ca dao miền trung và những đoạn của Bài ca Bả trạo, còn tôi thì đã phục nguyên hoàn toàn. Thách thức lớn nhất lúc ấy là tác giả vẫn ở đó, khác với trường hợp khi dịch các tác phẩm nước ngoài không phải đối mặt với chính tác giả. Ngay trang đầu bản thảo dịch của tôi Thầy Cung Giũ Nguyên đã viết như thế này: “Cám ơn anh Nguyễn Thành Thống đã chịu khó đọc lại một tác phẩm hình như đã mờ trong dĩ vãng. Nha Trang 15-1-1990.” Câu này đã làm tôi an lòng. Rồi sau đó vào ngày 15-2-1996 khi gửi cho tôi một bản photo bản dịch tiếng Đức “Der Sohn des Waltishs” của dịch giả người Đức S.Stahlmann, thầy đã đề như thế này: “Mến tặng Nguyễn Thành Thống và cám ơn về bản dịch tiếng Việt Kẻ thừa tự của Ông Nam Hải.” Để rồi vào ngày 3-8-1998 khi gửi cho tôi cuốn “Câu chuyện ngành Tráng” thầy lại ghi: “Mến gửi Nguyễn Thành Thống người có công dịch Le Fils de la Baleine và nhờ đó đã giúp cho Kẻ Thừa Tự Ông Nam Hải (Mỗ) sau mấy mươi năm lưu lạc ở Pháp và Canada đã trở về được quê hương.” Đây cũng là bản dịch thứ ba trong “nghề nghiệp dịch thuật” của tôi vì bản dịch thứ hai sau bản dịch “Vầng trăng và đồng sáu xu” là bản dịch “Bay quanh mặt trăng”, tác phẩm tiếng Pháp “Autour de la lune” của Jules Verne. Một sự tình cờ khá thú vị là hai bản dịch đầu tiên của tôi đều có từ TRĂNG cả! Sở dĩ tôi dịch cuốn “Autour de la Lune” là vì hai lý do. Có thể nói Jules Verne là cha đẻ của tiểu thuyết viễn tưởng. Từ trước cho đến nay tác giả này vẫn luôn thu hút người đọc. Ở Việt Nam vào những năm 80 các dịch giả chú ý đặc biệt đến hiện tượng này. Tôi cũng là người hâm mộ J.Verne. Hơn nữa vốn mê thiên văn học nên tôi chọn ngay cuốn “Autour de la Lune” để dịch. Thật ra trước cuốn này có cuốn “De la terre à la Lune” nhưng tôi dịch cuốn “Autour de la Lune” trước vì thích cuốn này hơn và vì câu chuyện có vẻ gần giống với thực tế khoa học hiện đại hơn. Sau đó tôi có dịch cuốn “De la Terre à la Lune” nhưng khi sắp sửa đưa đi sắp chữ thì đã thấy xuất hiện trên thị trường một bản dịch khác rồi. Thành ra bản dịch của tôi “đành lỗi hẹn”! Vì là biên tập viên sách dịch cho nên bản dịch của tôi phải do một biên tập viên khác biên tập. Không lẻ vừa đá bóng vừa thổi còi. Nhưng người biên tập đồng nghiệp lại không đọc được tiếng Pháp thành ra phải nhờ đến một cộng tác viên. Thú vị là vị cộng tác viên này lại chính là Thầy Cung Giũ Nguyên. Vì thế ở trang bìa 3 của cuốn sách có ghi là “Bản dịch: Nguyễn Thành Thống. Người hiệu đính: Cung Giũ Nguyên”. Thật là một vinh dự bất ngờ. Chuyện này thầy Cung Giũ Nguyên không hề hay biết vì mãi mãi về sau này khi tôi biếu thầy một bản “Bay quanh mặt trăng” để làm kỷ niệm thì thầy rất ngạc nhiên, thậm chí lúc ấy thầy mới nhận ra “Lời giới thiệu” của cuốn sách ấy chính do thầy viết, tuy ghi là Nhà Xuất Bản Tổng Hợp Phú Khánh. Có điều tôi lấy làm tiếc là tuy cuốn sách in 25.200 bản mà Nhà Xuất Bản lại quên không biếu cho thầy một bản nào. Chính vì thế nếu xem lại toàn bộ những gì Thầy Cung Giũ Nguyên viết chúng ta không thấy thầy đề cập gì đến chuyện hiệu đính cũng như “Lời giới thiệu” này. Có thể nói thời gian tôi làm biên tập viên sách dịch ở Nhà Xuất Bản Khánh Hòa (1986-1992) là “cao trào” của tiểu thuyết dịch ở Việt Nam. Cho nên ngoài việc biên tập ra, tôi cũng tranh thủ dịch vừa để in ở Nhà Xuất Bản của chúng tôi vừa để gửi in ở những Nhà Xuất Bản khác. Vì số lượng tiểu thuyết cần dịch khá nhiều và vì phải “chạy đua” với nhiều người dịch khác cho nên tôi phải huy động đến nhiều cộng tác viên. Và cũng như bao nhiêu người khác tôi đặc biệt chú ý đến những tác giả có sách bán chạy (bestseller) lúc ấy như Danielle Steel, Janet Dailey, Jackie Collins, Sidney Sheldon, Stephen King, Harold Robbins…Tôi có mua dự trữ sách của các tác giả này và cho các cộng tác viên tiến hành dịch, nhưng quả thật tôi không còn thì giờ chăm chút đến chất lượng dịch vì phải “chạy đua”. Tuy nhiên tôi bắt đầu chú ý đến các tác giả đoạt giải Nobel, Pulitzer, Booker, National Book Award, National Book Critic… Đa phần là các tiểu thuyết tiếng Anh. Tôi có theo dõi các tác giả đoạt giải Goncourt của Pháp nhưng không mặn mà lắm vì đang là thời thống trị của tiếng Anh. Riêng tư, tôi rất quan tâm đến các tiểu thuyết thuộc văn học Anh Mỹ, cả cổ điển lẫn hiện đại. Tôi đặc biệt chú trọng đến những tác giả mà tôi cho là những cột mốc trong văn học tiểu thuyết Anh Mỹ cận đại như Henry James, Thomas Hardy, Joseph Conrad, D.H.Lawrence, Virginia Woolf, James Joyce… Tôi đã dịch cuốn Tess of d’Urbervilles của Thomas Hardy và lấy tựa đề là  “Người phụ nữ trinh trắng” và nhận thấy giữa Thomas Hardy của Anh và Nguyễn Du của Việt Nam có nhiều điểm tương đồng. Nhưng lạ lùng là bản dịch này của tôi cứ “trầy trật” mãi đến nay vẫn chưa in được. Tôi cũng rất quan tâm đến hai tác giả tiểu thuyết Nhật là Yasunari Kawabata (川端 康成) và Shusaku Endo (遠藤 周作). Tuy đã có nhiều bản dịch cuốn “Xứ tuyết” (雪国 Yukiguni) của Yasunari Kawabata, nhưng tôi vẫn dịch lại cuốn này theo kiểu của tôi. Và dịch rồi để đó chưa biết bao giờ in được. Đối với Shusaku Endo thì cuốn tôi thích nhất là “Trầm mặc” (沈黙, Chinmoku), học giả linh mục Dòng Tên nổi tiếng dịch đã dịch sang tiếng Anh với nhan đề là “Silence”. Nhưng hiện nay một đầu sách như thế không dễ tìm được đầu ra. Có hai cuốn tiểu thuyết mỏng tôi rất thích là cuốn “Platero y yo” của nhà văn Tây Ban Nha được giải Nobel văn học là Ruan Ramón Jiménez và cuốn “Jonathan Livingston Seagull” của Richard Bach. Tôi đã dịch xong cuốn sách thứ hai này lâu rồi với tựa đề là “Bài ca một cánh chim biển”. Trước 1975 có một bản dịch tiếng Việt mang tên “Chàng hải âu kỳ diệu”. Chắc người dịch muốn thi vị hóa tựa đề sách nên đã biến “Mòng biển” (Seagull) thành “Hải âu” (Albatros). Thật ra thì Mòng biển rất khác với Hải âu. Và trong cuốn tiểu thuyết vắn gọn rất thơ và triết lý này, tác giả muốn mượn câu chuyện cũng như đặc điểm của loại mòng biển không lấy gì thơ mộng, nghệ sĩ để đề cao một nhân sinh quan dấn thân lạc quan yêu đời. Đó là sống cho hay cho đẹp cho có nghệ thuật mới là điều quan trọng. Trong câu chuyện tác giả có đề cập và phân biệt rõ ràng ba loại chim biển là mòng biển (seagull), hải âu (albatross) và bồ nông (pelican). Bản dịch của tôi vẫn còn ở dạng “lưu hành nội bộ”. Gần đây sau một thời gian dài chìm nghỉm, các tác giả tiểu thuyết hiện đại được giải và bán chạy đã được dịch nhiều nhưng chất lượng theo tôi, nói theo ngôn ngữ hiện nay, vẫn chưa được “bền vững”. Tôi đã sưu tập khá đầy đủ các tiểu thuyết tiếng Anh được giải nhưng để đọc là chính, chưa định chuyển ngữ sang tiếng Việt vì vấn đề bản quyền và đầu ra. Ngoài ra tôi còn đặc biệt quan tâm đến các tác giả tiểu thuyết trẻ và thuộc nữ giới. Tôi có sưu tập khá đủ các tiểu thuyết được giải Orange, một giải thưởng mới xuất hiện gần đây (1996) dành phát hàng năm cho các tiểu thuyết của các tác giả nữ. Nhưng có thể nói lãnh vực văn học mà hiện nay tôi quan tâm nhất là Văn Học Du Ký (Travel Literature). Tôi vốn là người thích du lịch nhưng chưa có dịp đi nhiều nên thích đọc những tác phẩm du ký, vì ở đó sẽ có dịp học biết và thưởng thức những điều các nhà văn du ký trải nghiệm viết ra. Tôi vẫn cho rằng du lịch là một hình thức tự học. Từ năm 1992 đến nay công việc dịch thuật của tôi chú trọng nhiều hơn đến mảng sách nghiên cứu, chuyên khảo và  công cụ. Và nhiều đọc giả đã cho biết bản dịch cuốn “The Road Less Traveled” của M.Scott Peck là thành công nhất. Đây là cuốn sách bán chạy (bestseller) đã từng đứng trên danh mục sách bán chạy của tuần báo New York Times liên tiếp trong 598 tuần lễ. Phải nói là vô địch. Guinness the Book of Records đã xác nhận điều này. Bản dịch của tôi có tựa đề là “CON ĐƯỜNG CHẲNG MẤY AI ĐI”, nhưng công ty liên kết xuất bản đã sợ là “con đường chẳng mấy ai đi” thì “sách chẳng mấy ai mua” nên đã sửa lại là “HÀNH TRÌNH TRƯỞNG THÀNH ĐÍCH THỰC”. Tuy vậy vẫn không thoát khỏi tình trạng “sách chẳng mấy ai mua”! Thế mới biết Đông Tây khác nhau như thế nào!

Từ ngày bắt đầu dấn thân vào cái nghề không dự định cũng chẳng được đào tạo này, ngoài việc dịch thuật ra, tôi còn biên soạn được một số sách. Phải nói là  dịch thuật là một hình thức tự học rất tốt, vì khi dịch chúng ta có dịp tìm hiểu nội dung thông điệp tác giả trình bày trong  cuốn sách. Nghiền ngẫm như thế tức là học rồi. Nắm được nội dung rồi còn phải tìm cách làm thế nào đó diễn đạt cho người khác hiểu và tiếp thu thông điệp đó qua ngôn ngữ dịch nữa. Đó lại là học lần thứ hai. Nhưng biên soạn thực sự là một phương pháp tự học còn tốt gấp đôi dịch thuật. Vì khi biên soạn chúng ta sẽ phải chủ động hoàn toàn. Trong suốt tiến trình dài nhập liệu, tiêu hóa, suy nghĩ, sắp đặt, sáng tạo chúng ta phải luôn luôn chủ động học hỏi tiếp thu. Vì thế không lạ gì đã có nhiều người đúc kết kinh nghiệm đưa ra một kết luận xem ra mâu thuẫn nhưng rõ ràng là sự thật. Muốn thông suốt một đề tài, một vấn đề gì thì nên viết sách về đề tài, vấn đề đó. Ý thức về việc này, đồng thời cũng vì nhu cầu, song song với dịch thuật tôi cũng biên soạn được một số sách. Ở đây chỉ nêu lên bốn cuốn sách làm tiêu hao nhiều năng lượng nhưng không phải là những cuốn sách “bán được”, nói chi đến “bán chạy”; tuy nhiên tôi đã tự học rất nhiều trong tiến trình “mang nặng đẻ đau” này. Cuốn sách thứ nhất có tựa đề: “Giáo dục giới tính cho thanh thiếu niên” (xuất bản năm 1994). Đó là một cuốn sách xuất hiện vì nhu cầu. Nhu cầu có kiến thức để dạy dỗ con cái mình, từ đó có thể giúp những bậc phụ huynh khác dạy dỗ con cái của họ. Quả thực cái kiến thức này, ở Việt Nam, lúc đó không có ở đâu dạy cả. Phải tự học thôi. Khi viết cuốn sách này tôi đã dựa trên lập trường ba điểm: 1. Cha mẹ là người có thẩm quyền và điều kiện nhất để dạy con cái về giới tính. 2. Kiến thức về giới tính để dạy cho con cái không cần nhiều như hiểu biết của chuyên gia giáo dục, tâm lý hay y khoa, vậy đừng sợ. 3. Phải luôn luôn nói sự thật đúng nơi đúng lúc. “Để trở thành người phụ nữ duyên dáng” là cuốn thứ nhì. Sách cũng được xuất bản năm 1994 và cũng xuất phát từ nhu cầu, nhu cầu của chị em phụ nữ cần có kiến thức để làm cho mình duyên dáng hơn lên. Lập trường khi biên soạn cuốn sách này: chị em phụ nữ đừng bao giờ bắt chước các thần tượng, hãy tự tin, biết “sở trường sở đoản” của mình và khai triển “bản sắc”. Cuốn thứ ba, “Truyền thông, kỹ năng và phương tiện” (xuất bản năm1996), xuất xứ từ một giáo trình. Một đề tài rất mới, và chưa từng trở thành một môn học chính khóa ở Việt Nam. Kiến thức về truyền thông cần thiết cho mọi người mọi giới trong xã hội; thậm chí nhiều rạn nứt đỗ vỡ trong hôn nhân gia đình một phần là do thiếu kiến thức về truyền thông. Thế nhưng lúc ấy không có nơi nào, thầy nào, sách nào dạy về truyền thông. Vậy phải tự học, phải viết sách để khai thông cho mình và giúp ích người khác. Cuốn sách thứ tư, “Lịch sử văn học Anh trích yếu” (xuất bản năm 1997), là một cố gắng đúc kết kiến thức có được về một nền văn học có ảnh hưởng rất lớn đến độc giả hiện nay trên toàn thế giới. Có thể nói văn học Anh đã dần dà thay thế vị trí ảnh hưởng của văn học Pháp. Nhưng thực tế số sách tiếng Việt nghiên cứu về văn học thế giới nói chung và văn học Anh nói riêng quả không nhiều nhỏi gì. Bộ sách hai tập “Lịch sử văn chương Anh” của tác giả Đỗ Khánh Hoan là một bộ sách tiếng Việt đầy đặn và độc đáo. Cuốn “Lịch sử văn học Anh trích yếu” tuy  không dày lắm nhưng có đặc điểm là đưa ra được những trích đoạn tiêu biểu thể hiện văn phong của các tác giả mà tôi cho là cột mốc và tiêu biểu của nền văn học Anh. Tiếc là tôi không có thì giờ dịch sang tiếng Việt các trích đoạn này. Việc này đã cản trở, không giúp gì được các đọc giả phổ thông thưởng thức văn chương Anh. Ngoài ra khi sách được xuất bản thì tôi không còn đứng lớp, do đó số người mua sách không nhiều. Việc làm bảng tra (index) đã làm cho tôi mất nhiều thì giờ vì tôi đã làm hoàn toàn “thủ công”, lúc ấy tôi chưa biết tận dụng hết những “khả năng” của máy vi tính.

Sau hai mươi lăm năm gắn bó với công việc dịch sách viết sách và với hơn bảy mươi đầu sách đã xuất bản tôi cảm thấy không cần thiết phải tiêu hao năng lượng ở những đề tài phổ thông nữa nên đã giới hạn ở một số đề tài chọn lọc mà thôi. Các lãnh vực này vừa phải đáp ứng nhu cầu của độc giả vừa nhu cầu của chính bản thân tôi là tiếp tục việc tự học.

Như vậy, theo tôi, biên tập sách, dịch sách và viết sách là những phương thức tự học rất có hiệu quả. Tinh thần tự học ở đây thể hiện qua sự dấn thân chủ đạo và chủ động. Tuy nhiên đây không phải là một hình thức phổ biến về tự học vì hình thức tự học này đòi hỏi một hoàn cảnh nghề nghiệp đặc thù và một trình độ học thức nhất định, trong đó trình độ ngoại ngữ giữ vai trò rất quan trọng.


Post a Comment

0 Comments