https://phamnguyentruong.blogspot.com/2026/03/ban-o-tam-thuc-giang-giai-5.html
GIẢI MÃ BẢN ĐỒ TÂM THỨC
David R. Hawkins, M. D., Ph. D.
Phạm Nguyên Trường dịch
Chương 3
QUÁ TRÌNH TIẾN HOÁ CỦA TÂM THỨC
Vì tâm thức đang tiến hóa đơn giản chỉ bằng việc chúng ta nhận thức được rằng nó đang tiến hóa, cho nên đóng góp quan trọng của chúng ta vào đời sống là ghi nhận chi tiết quá trình tiến hóa của tâm thức.
CÓ - LÀM – HIỆN HỮU
Nhìn tổng quát Bản đồ Tâm thức cho thấy ba giai đoạn tiến hóa: từ có đến làm rồi đến hiện hữu.
◆ Ở các tầng tâm thức thấp hơn, quan trọng là những gì con người có. Những thứ mà người ta có được coi trọng. Tài sản mà người ta có mang lại cho họ hình ảnh về giá trị của chính mình và địa vị trên thế gian này. Họ mặc loại thời trang nào và lái loại xe nào để chứng minh tầm quan trọng của họ đối với nhóm xã hội của mình. Đối với họ, ngay cả những người thân thiết cũng chủ yếu là biểu tượng của địa vị, vì vậy họ muốn có người yêu ở bên cạnh để làm cho họ trông đẹp hơn trong mắt người khác, và họ muốn được người khác nhìn thấy trong đám đông sành điệu. Trong một số bối cảnh, họ giết người hoặc trộm cắp để có được một nhãn hiệu giày thể thao nào đó hoặc để kiểm soát một lãnh thổ hoặc để có được bất cứ thứ gì mà họ đánh gía như là tài sản.
Có được đánh đồng với sống còn, khả năng cạnh tranh, khả năng chiếm hữu và ganh đua. Ở tầng có điểm hiệu chỉnh khoảng 190, còn có thêm lòng trung thành với nhóm, chẳng hạn như “người của mình”. Cộng đồng của tôi, nhóm của tôi, lãnh thổ của tôi.
◆ Một khi người ta đã chứng minh được với mình rằng họ có thể có bất cứ thứ gì mình muốn, rằng nhu cầu cơ bản của mình có thể được đáp ứng, rằng mình có Sức mạnh đích thực để tự đáp ứng nhu cầu của chính mình và của những người phụ thuộc vào mình, thì tâm trí bắt đầu quan tâm nhiều hơn đến những việc họ làm, và sau đó họ chuyển sang nhóm xã hội khác, trong đó những việc họ làm trên thế gian là cơ sở cho giá trị và việc xếp hạng của họ. Địa vị và chức năng của con người là gì? Tên tuổi của họ đi kèm với những bằng cấp nào? Họ tham gia vào bao nhiêu hội đồng? Họ gắn thành tựu với sinh tồn, bằng cảm giác an toàn đến từ sự chấp thuận và uy tín trong nhóm rộng hơn. Họ coi hợp tác tập thể là phương tiện để đạt các mục tiêu chung, ví dụ, duy trì lợi ích của nhóm của mình thông qua các hoạt động cộng đồng.
◆ Khi con người thăng tiến trong tình yêu, hành động của họ ít bị chi phối bằng việc tự quảng bá và ngày càng hướng đến phục vụ người khác. Khi tâm thức trưởng thành, họ trải nghiệm rằng phụng sự — được định hướng bằng tình yêu dành cho tha nhân — tự nhiên dẫn tới việc các nhu cầu của chính họ được đáp ứng. (Không có nghĩa là hy sinh. Phụng sự không phải là hy sinh; đó là sẻ chia phát xuất từ sự viên mãn và niềm vui ở bên trong.) Hành động của họ tự động mang tính yêu thương và nuôi dưỡng sự sống xung quanh họ. Tại thời điểm đó, quan trọng không còn là những gì họ làm trên thế gian này mà là con người mà họ đang là. Họ đã chứng minh cho mình rằng họ có thể có được những gì mình cần, và nếu muốn, họ có thể làm được hầu hết mọi việc. Và giờ đây, con người mà họ đang là, cả bên trong lẫn đối với người khác, trở thành quan trọng nhất. Mọi người muốn thành bạn bè của họ, không phải vì những tài sản họ có, không phải vì những việc họ làm và những nhãn mác mà xã hội gán cho họ, mà vì con người mà họ đã trở thành. Vì phẩm chất của sự hiện diện và tình yêu của họ, mọi người chỉ muốn ở bên cạnh họ. Mô tả của xã hội về họ lúc này đã thay đổi. Họ không còn là người có căn hộ đẹp hay xe hơi sang, cũng không còn được gắn mác là Chủ tịch của Tập đoàn X hay một chức danh nào đó khác. Giờ đây, họ được mô tả là một người tuyệt vời, là người mà “bạn nhất định phải gặp”.
Tầng hiện hữu này là điển hình của các nhóm tự giúp nhau ẩn danh, ở đó không ai quan tâm đến những việc người khác làm trên thế gian này, những của cải mà họ có, hay thậm chí cả họ tên của họ. Họ chỉ quan tâm đến việc liệu mình đã đạt được những mục tiêu bên trong hay chưa, chẳng hạn như trung thực, cởi mở, yêu thương, sẵn sàng giúp đỡ, khiêm nhường và tỉnh thức. Họ quan tâm đến phẩm chất của tồn tại.
Do đó, chúng ta thấy rằng tâm thức tiến hóa từ sinh tồn đến yêu thương—nghĩa là, từ chú tâm theo lối ích kỷ vào sinh tồn của chính mình tới phạm vi quan tâm rộng lớn hơn, trong đó, hạnh phúc và hỗ trợ người khác được coi là tác nhân quan trọng đối với sinh tồn của chính mình, cuối cùng là siêu việt niềm tin cho rằng sinh tồn của mình là do bất kỳ “nguyên nhân” nào khác. Tại thời điểm đó, người đó thuộc về chính sự sống, tự do yêu thương và cho đi mà không cần bất cứ điều gì đáp lại.
TIẾN HOÁ TỪ SỐNG CÒN TỚI YÊU THƯƠNG
Muốn hiểu được các tầng tâm thức được hiệu chỉnh, thì tóm tắt sự xuất hiện của tâm thức trên hành tinh này và quá trình tiến hóa của nó qua vương quốc động vật đến biểu hiện của nó như là nhân loại là việc làm hữu ích. Trọng tâm của chúng ta ở đây là quá trình tiến hóa của bản ngã, với những hạn chế bẩm sinh của nó, đòi hỏi một cái nhìn thấu hiểu đầy từ bi.
Chìa khoá là bản ngã không phải là kẻ thù; nó là di sản sinh học của chúng ta. Nếu không có nó, sẽ không ai còn sống để than thở về những hạn chế của nó! Hiểu được nguồn gốc và vai trò quan trọng nội tại của nó đối với sự sống còn, bản ngã có thể được coi là lợi ích to lớn nhưng dễ trở thành khó kiểm soát và nếu không được hoá giải hoặc siêu việt thì sẽ gây ra các vấn đề về cảm xúc, tâm lý và tâm linh.
Sự sống đã xuất hiện trên hành tinh này như thế nào? Từ Phi Hiển Lộ tới Hiển Lộ, năng lượng của chính tâm thức đã tương tác với vật chất, và như một biểu hiện của Thần tính, nhờ tương tác đó mà sự sống xuất hiện. Trong những hình tướng sớm nhất, các biểu hiện của sự sống ở động vật rất nguyên thủy và không có nguồn năng lượng nội tại, bẩm sinh. Do đó, sống còn phụ thuộc vào việc thủ đắc năng lượng từ bên ngoài. Nhưng nó không còn là vấn đề trong thế giới thực vật - chất diệp lục tự động chuyển hóa năng lượng mặt trời thành các quá trình hóa học cần thiết. Động vật phải thủ đắc những thứ cần thiết từ môi trường xung quanh, và nguyên tắc sinh tồn như thế đã tạo ra cốt lõi chính của bản ngã, vốn vẫn chủ yếu liên quan đến tư lợi, thủ đắc, chinh phục và cạnh tranh với các sinh vật khác để sinh tồn. Tuy nhiên, quan trọng là nó cũng có những đặc điểm như tò mò, tìm tòi và do đó, học hỏi.
Điểm hiệu chỉnh dưới tầng 200
Sự sống ban đầu tồn tại nhờ tính vị kỷ. Bản ngã, cốt lõi của động lực sinh tồn này, chỉ đơn giản là làm những việc cần thiết khi sự sống tiến hóa từ vi khuẩn (điểm hiệu chỉnh 1) tới côn trùng (điểm hiệu chỉnh 6) rồi tới bò sát và khủng long. Rồng Komodo, với điểm hiệu chỉnh 40, là một ví dụ sống động của kỷ nguyên khủng long. Mục đích duy nhất của nó là “tôi”, và để “tôi” có thể sống sót được, nó cần phải ăn thịt “bạn”. Thật ra, một số người cũng có điểm hiệu chỉnh ở tầng đó và bị chi phối bởi trường năng lượng và các mô thức của nó. Rồng Komodo hoàn thiện quá trình này. Sau chỉ một cú đớp, nó nằm đó và chờ bạn chết, rồi thưởng thức bữa tối ấm áp! Mục đích của nó không bị tha hóa về mặt tâm linh. Nó chỉ muốn tồn tại bằng cách ăn thịt bạn.
Khi quá trình tiến hóa diễn ra, cùng với trí thông minh, các cơ chế sinh tồn trở nên phức tạp hơn, nhờ đó, thông tin được thu thập, lưu trữ, xử lý, tích hợp, so sánh và phân tầng. Sự sống có trí thông minh bẩm sinh. Nhận xét này là cơ sở cho lý thuyết “thiết kế thông minh” (điểm hiệu chỉnh 480), không đòi hỏi bất kỳ giả định nào về Thần tính hay Đấng Sáng Tạo.
Sau đó, sự sống tiến hóa thành các hình tướng cao hơn, và khi theo dõi quá trình này qua các kỷ nguyên tiến hóa vĩ đại, biểu hiện của nó trong vương quốc động vật sẽ trở nên rõ ràng. Ở các tầng tâm thức dưới 200 (không kể phần lớn các loài chim), cuộc sống có thể được mô tả là cướp bóc. Nó thủ đắc năng lượng sống bằng cách tước đi năng lượng sống của những con khác/người khác, và vì sự sống còn dựa vào giành giật nên nó coi những con khác/người khác là đối thủ và kẻ thù. Con hổ trông rất đẹp nhưng lại tham lam khi săn bắt và giết chết con mồi. Trong ngôn ngữ hiện đại nó được gọi là mang tính chiếm hữu, cạnh tranh, thù địch, hung hăng và độc ác khi những biểu hiện của nó trở nên cực đoan. Bằng quan sát, chúng ta có thể thấy rằng dưới tầng 200, một số người không khác động vật là mấy—thù địch, hung hãn, cạnh tranh, ..v.v..—làm những việc mà họ cho là cần thiết để sinh tồn. Tất cả những mánh khóe của bản năng con người đều có thể quan sát được trong quá trình tiến hóa của vương quốc động vật qua hàng triệu năm, nơi lừa dối, ganh đua, ngụy trang và Bạo lực thúc đẩy sinh tồn. Ở loài sói (điểm hiệu chỉnh 190), chúng ta thấy sự hình thành bầy đàn, con đực và con cái đầu đàn thống trị lãnh thổ và những biện pháp ngụy trang đánh lừa để tiếp cận mà con mồi không hề nghi ngờ. Những mô thức hành vi kiểu này của loài sói đặc trưng cho toàn bộ xã hội trong thế giới ngày nay.
Điểm hiệu chỉnh trên tầng 200
Ở tầng tâm thức 200 có một sự thay đổi theo hướng lành tính hơn, nghĩa là bên cạnh động vật ăn thịt còn xuất hiện động vật ăn cỏ. Sự chuyển đổi tâm thức quan trọng là sự xuất hiện của các loài động vật ăn cỏ trên các thảo nguyên rộng lớn ở châu Phi và Bắc Mỹ. Ở tầng 200, hươu cao cổ và ngựa vằn ăn cỏ; chúng không săn bắt và giết hại con mồi. Các loài động vật ăn cỏ không chỉ trả lại phân bón giàu nitơ cho đất và nhờ đó duy trì sự sống; chúng còn phát tán hạt giống trong phân của mình, do đó hỗ trợ sự sinh sôi nảy nở của thảm thực vật. Hươu, nai sừng tấm, bò, voi, cừu và ngựa đều có điểm hiệu chỉnh trên 200.
Từ tầng tâm thức 200 trở lên, bản chất của đời sống trở thành hài hòa hơn. Tình mẫu tử xuất hiện, cùng với đó là thái độ quan tâm đến người khác, và biểu hiện sơ khai của những hiện tượng sau này thể hiện trong bản chất con người thành liên hệ, giao tiếp xã hội, vui chơi, gắn kết gia đình và vợ chồng, và hợp tác nhóm để thực hiện những mục tiêu chung, chẳng hạn như sinh tồn thông qua các hoạt động cộng đồng. Ở chim mẹ, chúng ta thấy sự quan tâm chăm sóc chim non. Loài bò sát không quan tâm đến nhau; bò sát mẹ đẻ trứng rồi bỏ đi. Nhưng ở chim mẹ, có sự quan tâm đến sự sống còn của trứng và những chú chim non. Cùng với quá trình tiến hóa của đời sống động vật có vú, chúng ta thấy sự xuất hiện đầu tiên của sự quan tâm bền vững thực sự dành cho con khác, dưới hình thức tình mẫu tử. Như vậy, lần đầu tiên Tình yêu xuất hiện trên hành tinh này thông qua giống cái, thể hiện qua sự quan tâm và chăm sóc.
Cùng với quá trình tiến hóa, loài hai chân xuất hiện với hai chi trước không còn dùng cho vận động, cho nên xuất hiện loài đứng thẳng; hai chi tự do ngày càng trở nên khéo léo cộng thêm quá trình phát triển của ngón tay cái dẫn đến hình thành các nghề chế tạo công cụ lao động theo lối thủ công. Sự xuất hiện của não trước và vỏ não trước trán, trung tâm trí thông minh trong giải phẫu của con người, càng tạo điều kiện cho việc thực hiện những hoạt động ngày càng phức tạp hơn. Tuy nhiên, do bản năng động vật chiếm ưu thế nên trí thông minh ban đầu phục vụ cho bản năng nguyên thủy. Vì vậy, vỏ não trước trán trở nên lệ thuộc vào các động cơ sinh tồn của động vật.
Quá trình tiến hoá của nhân loại
Người nguyên thủy xuất hiện như những chồi non của cây tiến hóa, bắt đầu có lẽ là từ “Lucy” cách đây ba triệu năm, và rất lâu sau đó là người Neanderthal, người Cro-Magnon, Homo erectus (người đứng thẳng) và những giống người khác, tất cả đều có điểm hiệu chỉnh trong khoảng từ 80 đến 85. Mỗi chi hominid (thuộc họ Người) mới không hòa tan vào chi khác. Thay vào đó, một nhánh mới liên tục nổi lên như một biểu hiện riêng biệt. Gần đây nhất, có lẽ hàng trăm nghìn năm trước, có thể đã xuất hiện ở châu Phi tiền thân của loài người hiện đại, người Homo sapiens idaltu, với tầng tâm thức cũng từ 80 đến 85.
Do đó, dưới tầng tâm thức 200, vỏ não trước trán vẫn nằm dưới sự chi phối của bản năng động vật, và tất cả các chiến thuật sinh tồn của động vật trở nên tinh vi hơn. Con người không tấn công bằng răng mà bằng lời nói và các vũ khí khác. Chiến tranh và cạnh tranh vẫn diễn ra như thường lệ, và trang nhất của bất kỳ tờ báo nào cũng đưa tin về những sự kiện tương tự như những gì có thể quan sát được trên Đảo Khỉ ở bất kỳ vườn thú nào. Bầy khỉ này đang biến bầy kia thành “xấu” và bầy khác thành “tốt”; bầy này đang cố gắng thống trị bầy kia; những con đực đang lén lút cố gắng chiếm đoạt tất cả những con cái ở phía sau; cả đàn đều đang cố gắng làm cho đống phân của mình cao hơn đối thủ và sẽ ném nó vào bất cứ con nào mà chúng cho là đe dọa! Nghe quen thuộc chứ?
Khi tâm thức bên trong con người tiến hóa, vượt qua tầng 200, các bản năng động vật bắt đầu xung đột với năng lượng của sức mạnh tâm linh, sự thật và tình yêu. Những biện pháp lừa dối của bản ngã rất khéo léo, ở chỗ nó làm cho nạn nhân tin rằng kẻ gây ra tội ác “ở ngoài kia”, trong khi thực tế nó vốn có trong quá trình sinh tồn sinh học và do đó, “ở trong này”.
Hiểu (điểm hiệu chỉnh 400) của bản ngã và coi nó như một con thú cưng tạo điều kiện để nó giải thể dần dần. Nó có thể được coi là một con thú cưng nhỏ dễ thương cần được giám sát, nếu không nó sẽ làm cho người khác hoặc chính mình bị tổn thương. Cuối cùng, khi nhận thức được khuynh hướng của nó, người ta có thể chế ngự được những khuynh hướng này.
Rất hiếm người thoát ra khỏi tính duy lý của các tầng 400 để tiến hóa sang miền phi tuyến tính, khởi đầu từ tầng Tình yêu (điểm hiệu chính 500). Ở các tầng 500, tâm thức được chuyển hóa một cách căn bản. Con người ít còn bận tâm đến thế giới khách quan, mà sống chủ yếu từ trạng thái chủ quan của Cái Biết — khi người đó nhận ra rằng trải nghiệm đời sống phát sinh từ bên trong, từ một miền ân sủng nội tâm không thể đo lường được bằng công cụ, nhưng lại có thể trực nhận một cách sâu sắc.
Sự tồn tại dai dẳng của bản ngã nguyên thủy ở con người được gọi là cốt lõi ái kỷ của “chủ nghĩa vị kỷ”, ở tầng hiệu chỉnh dưới 200, chứng tỏ sự tồn tại dai dẳng của lợi ích cá nhân, coi thường quyền lợi của người khác, và coi người khác là kẻ thù và đối thủ cạnh tranh chứ không phải đồng minh. Vì an toàn, con người đã tập hợp thành các nhóm và khám phá ra lợi ích của tương hỗ và hợp tác, nó cũng là hệ quả của thế giới động vật trong việc thành lập nhóm, bầy đàn và gia đình trong vương quốc động vật có vú và loài chim.
Tầng tâm thức được hiệu chỉnh của con người tiến hóa rất chậm. Vào thời điểm Đức Phật đản sanh, tâm thức tập thể có điểm hiệu chỉnh 90. Sau đó, nó tăng lên 100 khi Chúa Jesus Christ giáng sinh và tiến hóa từng bước một trong suốt hai thiên niên kỷ và lên đến tầng 190, và duy trì ở tầng đó trong nhiều thế kỷ, cho đến cuối những năm 1980. Sau đó, vào khoảng thời gian diễn ra Hội tụ Hài hòa (Harmonic Convergence[i]), cuối những năm 1980, nó đột nhiên nhảy vọt từ 190 lên 204–205. Bước chuyển giao này dường như đánh dấu sự mở đầu của một kỷ nguyên mới trong quá trình tiến hóa của nhân loại — đó chính là sự xuất hiện con người tâm linh Homo spiritus (Xem I: Reality and Subjectivity).
Khoảng 85% dân số thế giới vẫn ở những tầng dưới 200 và do đó bị chi phối bởi bản năng, động cơ và hành vi của động vật (như được thể hiện trong các bản tin mỗi đêm). Các tầng dưới 200 cho thấy sự lệ thuộc vào Bạo lực, dù là cảm xúc, thể lực, xã hội, hay bất kỳ biểu hiện nào khác. Các tầng trên 200, tăng theo hàm logarit, cho thấy các tầng của Sức mạnh đích thực.
Khác nhau giữa “dưới 200” và “trên 200”
Quan trọng là sinh lý não bộ thay đổi đáng kể ở tầng tâm thức 200, đây là tầng mà chất lượng đời sống thay đổi, không chỉ ở loài người mà còn ở vương quốc động vật, từ săn mồi chuyển sang hiền từ. Được thể hiện bằng sự xuất hiện sự quan tâm đến phúc lợi, sống sót và hạnh phúc của tha nhân chứ không chỉ còn quan tâm tới chính mình nữa. Lợi ích của quá trình tiến hóa là thái độ quan tâm và sự phát triển tâm linh, được thể hiện rõ ràng trong biểu đồ bên dưới. Trên tầng tâm thức 200, não dĩ thái (etheric brain[ii]) xuất hiện. Nó không thuộc về nguyên sinh chất hay giải phẫu học, mà đúng hơn là thuộc về năng lượng. Não dĩ thái không chỉ tạo điều kiện cho việc xử lý các kích thích hiệu quả hơn mà còn ghi nhận các tần số năng lượng cao hơn mà nguyên sinh chất không thể phản ứng được. Tương tự như thế giới vật lý: cần có các công cụ tinh tế hơn để phân biệt các trường năng lượng tần số cao hơn, vượt quá khả năng của các giác quan (tai không thể nghe được sóng radio). Não dĩ thái (năng lượng) có khả năng nhận thức phi ngôn ngữ, phi tuyến tính. Người thuận tay phải sẽ có não phải chiếm ưu thế, và người thuận tay trái sẽ có não trái chiếm ưu thế. Những bán cầu não không ưu thế này được kích thích bởi nghệ thuật, âm nhạc, lòng vị tha và thẩm mỹ.
Dưới 200 | Trên 200 |
Não trái giữ thế thượng phong trong những người thuận tay phải | Não phải giữ thế thượng phong
|
Não phải giữ thế thượng phong trong những người thuận tay trái | Não trái giữ thế thượng phong |
Tuyến tính | Phi tuyến tính |
Căng thẳng- Adrenaline | An bình - Endorphins |
Chiến đấu hay bỏ chạy (Cảnh giác – Kháng cự - Kiệt sức) | Cảm xúc tích cực |
Căng thẳng tuyến ức | Hỗ trợ tuyến ức |
Tế bào tiêu diệt và miễn dịch↓ | Tế bào tiêu diệt↑ và Miễn dịch↑ |
Rối loạn hệ thống kinh mạch | Hệ kinh mạch cân bằng |
Bệnh tật | Chữa lành |
Cơ phản ứng yếu | Cơ phản ứng mạnh |
Chất dẫn truyền thần kinh - Setornin[1]↓ |
|
Đồng tử giãn ra | Đồng tử co lại |
Đường dẫn tới cảm xúc nhanh gấp đôi so với đi từ vỏ não trước trán tới cảm xúc | Đường dẫn tới cảm xúc chậm hơn so với đi từ vỏ não trước trán và não năng lượng. |
Thái độ của tâm trí thấp | Thái độ của tâm trí cáo |
Sự khác biệt giữa hai nhóm là rất lớn, bằng chứng là biểu đồ sau đây phân biệt thái độ của người có tâm trí thấp hơn so với người có tâm trí cao hơn.
Tâm trí thấp hơn (điểm hiệu chỉnh 155) | Tâm trí cao hơn (điểm hiệu chỉnh 275) |
Tích trữ / Gom góp | Tăng trưởng |
Thâu tóm / Thu được) | Thưởng thức/Tận hưởng |
Nhớ lại/Hồi tưởng | Chiêm nghiệm |
Giữ vững | Tiến hoá |
Suy nghĩ / Tư duy tuyến tính | Quy luật vận hành |
Bị cảm xúc/mong muốn điều kiển | Do lý trí/cảm hứng điều khiển |
Đổ lỗi | Nhận trách nhiệm |
Cẩu thả | Có kỉ luật |
Cụ thể, theo nghĩa đen | Trừu tượng, tưởng tượng |
Đạo đức cá nhân | Hệ thống chuẩn mực |
Định nghĩa | Thực chất, ý nghĩa |
Nhẫn tâm/Vô cảm | Nhân từ/Khoan dung |
Phê phán | Chấp nhận |
Hoài nghi | Thấu hiểu |
Nghĩa đen | Linh cảm |
Kiểm soát | Buông bỏ/Phó thác |
Cạnh tranh | Hợp tác |
Thiết kế/Ý đồ | Nghệ thuật |
Mặc cảm tội lỗi | Hối tiếc |
Bạo lực (Force) | Sức mạnh nội tại (Power) |
Ngây ngô và Dễ bị tác động | Sâu sắc/Tinh vi và Có tri thức |
Thái quá | Cân bằng |
Lối mòn tư duy | Mầm mống mới |
Xếp hạng | Thẩm định |
Né tránh | Đối diện và chấp nhận |
Thương hại | Thấu cảm |
Muốn | Lựa chọn |
Ham muốn | Trân trọng |
Trẻ con | Đã trưởng thành |
Tấn công | Né tránh |
Kết án | Tha thức |
Bủn xỉn/Keo kiệt/Hẹp hò | Rộng lượng/Hào phóng |
Hoài nghi tiêu cực/Yếm thế | Lạc quan, Hy vọng |
Nghi ngờ/Cảnh giác) | Tin tưởng/Tin cậy |
Thiếu tiền/Túng thiếu) | Đầy đủ |
Khăng khăng/Ép buộc | Đưa ra đề nghị |
Vội vã, Hấp tấp | Kiên trì tiến bước |
Dục vọng/Ham muốn mù quáng | Khao khát/Ham muốn có mục đích |
Vô ơn | Trân trọng/Biết ơn |
Thô thiển/Thô kệch/Trần tục) | Tinh tế/Thanh tao/Tinh khiết |
Nghiệt ngã, Nặng nề) | Hài hước, Vui vẻ nhẹ nhàng |
SUY NGẪM XUYÊN SUỐT 7 LĨNH VỰC CỦA ĐỜI SỐNG
Có những mảnh thông tin then chốt; chỉ cần nhận thức được là tâm thức tự nhiên dịch chuyển sang những tầng cao hơn. Dưới đây là một vài khám phá từ nghiên cứu hiệu chỉnh tâm thức giúp tăng cường hiểu biết về các lĩnh vực khác nhau của đời sống. Chính sự kiện là tất cả sự sống đều có tính tiến hóa tạo cho ta hy vọng. Ngay cả những giai đoạn cực kì khó khăn cũng có thể được hiểu là một phần không thể thiếu của quá trình trưởng thành.
1. Động vật
Các tầng tâm thức đã được hiệu chỉnh của vương quốc động vật phản ánh mức trung bình của toàn bộ quần thể; trong đó vẫn tồn tại sự khác biệt giữa từng cá thể, đồng thời cũng có sự khác biệt trong các tầng tâm thức được hiệu chỉnh của hành vi. Ví dụ, “chơi đùa” được hiệu chỉnh cao hơn khoảng 10 điểm so với tầng chức năng trung bình - có ý nghĩa quan trọng đối với cả động vật lẫn con người. Một điểm thú vị khác là khi một gia đình nhận nuôi một con vật, tầng tâm thức của con vật đó sẽ tăng lên 5 hoặc 10 điểm; đặc biệt là, một số loài chim và động vật đã trải qua tương tác lâu dài với những người yêu thương thực sự có điểm hiệu chỉnh tới 400. Koko, con khỉ đột được huấn luyện thể hiện khả năng ngôn ngữ và tình mẫu tử đáng ngạc nhiên (nó đã nhận nuôi và đặt tên cho một chú mèo con), đạt điểm hiệu chỉnh 405. Tầng hiệu chính này cho thấy khả năng tư duy và lý luận; do đó, tầng hiệu chỉnh giúp giải quyết cuộc tranh luận giữa các nhà khoa học thực nghiệm về việc liệu một số hành vi của động vật có thực sự phản ánh khả năng Lý luận hay không. Hơn nữa, một khám phá độc đáo là tiếng gừ gừ của mèo, tiếng hót của chim và cái vẫy đuôi của chó đều có tầng hiệu chỉnh cực kỳ cao (500) — trên thực tế, cao hơn phần lớn giống người chúng ta. Tầng 500 là năng lượng của trái tim. Việc thú cưng có khả năng tương tác và lan tỏa Tình yêu cho thấy đây là lĩnh vực cần nghiên cứu thêm để khám phá lý do vì sao những sinh vật đáng yêu này lại có khả năng yêu thương—nghĩa là, chúng thể hiện sự phát triển cao của “luân xa tim” và được coi là có tác dụng chữa lành đối với những người mắc nhiều loại bệnh khác nhau.
2. Tác động của Yêu thương
Chỉ mới gần đây tình yêu mới xuất hiện trên hành tinh này, lần đầu tiên nó xuất hiện ở loài chim và động vật có vú bằng tình mẫu tử. Cần biết là quan tâm đến người khác, chứ chưa nói tới quan tâm tới môi trường hay chất lượng của đời sống trên hành tinh này, là hiện tượng cực kỳ mới trong quá trình tiến hóa của tâm thức qua hàng thiên niên kỷ. Sự kiện này làm tăng thêm sự trân trọng đối với sự hiện diện của tình yêu trong thời đại hiện nay, và chính sự trân trọng này lại có tác dụng làm gia tăng tình yêu.
Thật vậy, bất cứ điều gì được làm với tình yêu thương đều làm cho điểm hiệu chỉnh của nó tăng lên – có thể nhìn thấy trong lĩnh vực thực phẩm mà hàng ngày chúng ta vẫn ăn. Thức ăn chế biến bằng máy có điểm hiệu chỉnh từ 188 tới 200. Thức ăn nhà làm có điểm hiệu chỉnh tới 209, và nếu được ban phước, nó tăng lên tới 215. Bánh mì làm bằng máy ở siêu thị có điểm hiệu chỉnh 188, nhưng nếu bánh mì được làm từ tiệm nướng bánh trong cùng siêu thị đó, thì điểm hiệu chỉnh tăng lên tới 203 và còn cao hơn nữa nếu được ban phước. Bánh quy làm cho gia đình có điểm hiệu chỉnh 520. Những khác biệt về điểm hiệu chỉnh là một minh chứng độc đáo, tương tự như nguyên lý Heisenberg, ở chỗ đưa tâm thức và ý định của con người vào sẽ làm thay đổi trường năng lượng. Nó cũng chứng minh rằng lời cầu nguyện không chỉ là mơ tưởng hão huyền. Hệ quả là, ta mang thêm nhiều tình yêu vào đời sống chỉ đơn giản bằng cách luôn tỉnh thức nhận biết sự hiện diện của nó như nguồn cảm hứng dẫn dắt trong mọi hoạt động hàng ngày. Ví dụ, có thể nhận thấy điều này trong tình yêu thương khi chuẩn bị bữa tối cho gia đình, khi dọn dẹp chuồng mèo, hoặc khi đi làm để trả các hóa đơn. Những nỗ lực bình thường, nhưng được làm với tình yêu thương, mang lại sức mạnh to lớn. Hiệu chỉnh tâm thức khẳng định sự thật trong câu nói nổi tiếng của Mẹ Teresa: “Hãy làm những việc nhỏ với tình yêu lớn.”
3. Lãnh đạo xã hội
Trường năng lượng cao trong lãnh đạo xã hội là của hiếm, nhưng những ví dụ lịch sử gần đây cho thấy Sức mạnh đích thực của họ trong việc vượt qua những chia rẽ xã hội tưởng chừng như không thể vượt qua và tạo ra những bước đột phá lớn bằng các biện pháp hòa bình thay vì Bạo lực. Bạo lực, bằng quan điểm “mục đích biện minh cho phương tiện”, đã đánh đổi tự do lấy sự tiện lợi. Bạo lực mang lại những giải pháp nhanh chóng, dễ dàng. Trong khi Sức mạnh đích thực coi phương tiện và mục đích là như nhau, nhưng “mục đích” của nó đòi hỏi sự trưởng thành, kỷ luật và kiên nhẫn hơn thì mới thu được thành quả.
Những nhà lãnh đạo vĩ đại truyền cảm hứng để chúng ta có niềm tin và tự tin bởi sức mạnh của tính chính trực là cao nhất và phù hợp với các nguyên tắc phi bạo lực. Những người như thế hiểu rằng bạn không thể từ bỏ nguyên tắc mà vẫn giữ được Sức mạnh đích thực. Winston Churchill (điểm hiệu chỉnh 510) chưa bao giờ cần dùng Bạo lực với người dân Anh; Gandhi (điểm hiệu chỉnh 760) đánh bại Đế quốc Anh mà không cần thể hiện sự tức giận bằng cách vung tay lên; Nelson Mandela (điểm hiệu chỉnh 505) trải qua chuyển biến nội tâm sâu sắc trong suốt 27 năm bị chế độ phân biệt chủng tộc cầm tù – ông đã chuyển hoá từ một chiến binh bộ lạc thành một nhà lãnh đạo nhân văn có tầm nhìn nhất quán, đã lập ra chế độ dân chủ đầu tiên ở Nam Phi; Mikhail Gorbachev (điểm hiệu chỉnh 500) - chỉ trong vài năm, nhờ vào cảm hứng và tầm nhìn của mình - đã tạo ra cuộc cách mạng trong liên minh chính trị lớn nhất thế giới mà không cần bắn một phát súng nào.
Một trong những đặc điểm của Bạo lực là kiêu ngạo; còn đặc điểm của Sức mạnh đích thực là khiêm tốn. Bạo lực thì phô trương; nó cho rằng mình có tất cả các câu trả lời. Sức mạnh đích thực thì khiêm nhường. Stalin phô trương ưu thế quân sự, ông ta đi vào lịch sử như một tội đồ khét tiếng. Ngược lại, Mikhail Gorbachev khiêm nhường - chỉ mặc một bộ vest giản dị và dễ dàng thừa nhận sai lầm - đã được trao giải Nobel Hòa bình.
Mặc cho những sai sót hay khiếm khuyết, “sự vĩ đại” đích thực được toàn thế giới công nhận là tổng hợp các điểm mạnh, phẩm chất và đức tính được thể hiện bởi các nhà lãnh đạo trong nhiều lĩnh vực hoạt động của con người (điểm hiệu chỉnh 460–760):
Abraham Lincoln
Mother Teresa
Eleanor and Franklin D. Roosevelt
Benjamin Franklin
Helen KellerWinston Churchill
Ronald Reagan
Mahatma Gandhi
Parks Reece
Michelangelo
Beethoven
Mozart
Nijinsky
The astronauts
Susan B. Anthony
Martin Luther King, Jr.
Nelson Mandela
Oprah Winfrey
C. G. Jung
Joe DiMaggio
Rachel Carson
Louis Armstrong
Lily Tomlin
Mary Oliver
...và nhiều người khác nữa. Tất cả đều thể hiện tầm vóc và sự gắn kết với chính trực, xuất sắc, vẻ đẹp và dũng cảm. Những tầng tâm thức thấp hơn thường xuyên tấn công các nhà lãnh đạo vĩ đại. Trong lịch sử, tất cả các tổng thống, đặc biệt là trong thời chiến (ví dụ như Abraham Lincoln), đều phải chịu những lời chỉ trích gay gắt, những lời phỉ báng cực đoan, thậm chí là mưu sát và phải trải qua những thử thách đạo đức đau đớn, ví dụ như quyết định đầy khó khăn của Truman về việc có nên sử dụng bom nguyên tử để kết thúc Thế chiến II hay không. Quyết định của ông được tính toán ở tầng 475; đó là tình huống khó khăn, phải cân nhắc ảnh hưởng đạo đức của việc giết chết 180.000 thường dân nhằm ngăn chặn, không để sáu hoặc bảy triệu người bị giết hại.
4. Chủ nghĩa hiện thực (Realism)
Quá trình tiến hóa của tâm thức chứng tỏ: cho rằng người khác có cùng những giá trị quan như mình là một sai lầm lớn. Từ biểu đồ Sinh lý não, chúng ta thấy rằng những người có điểm hiệu chỉnh dưới 200 và những người có điểm hiệu chỉnh trên 200 thực sự là hai loại người khác nhau trong tri giác, xử lý thông tin và phản ứng trên thế gian này. Như đã nói bên trên, 85% người dân trên thế giới có điểm hiệu chỉnh dưới 200, bị thúc đẩy bởi lòng tham, thù hận, kiêu ngạo và các mục tiêu ích kỷ khác. Họ không đáng tin hoặc khó dạy. Do đó, thật ngây thơ khi cho rằng người khác có cùng sự chính trực như mình.
Chúng ta thấy cái giá phải trả cho sự ngây thơ như thế trong suốt chiều dài của lịch sử. Hàng chục triệu ngươi đã thiệt mạng vì những người tốt phóng chiếu sự tử tế bên trong của mình lên những kẻ xấu xa, và do đó, không thể phân biệt được “sói đội lốt cừu”. Với điểm hiệu chỉnh dưới 200, chó sói có trí thông minh, khả năng và thái độ tự tin hung hăng khi ở trrong đàn nhằm săn bắt và giết con mồi lớn hơn nó nhiều lần. Chó sói dùng ngụy trang (lừa dối) để tiếp cận mà con mồi không hề hay biết. Cừu, có điểm hiệu chỉnh 210, lại có năng lượng hoàn toàn khác; nó là loài ăn cỏ hiền lành, không săn mồi, sống bằng cách gặm cỏ. Con người và một số xã hội có điểm hiệu chỉnh 190, và họ là những bậc thầy về ngụy trang bằng cách che giấu ý định thực sự của mình dưới vỏ bọc hiền lành của “cừu”, dễ thoả hiệp, thiện chí và thậm chí là “kẻ kiến tạo hòa bình”. Hiệu chỉnh tâm thức ngay lập tức cho thấy bản chất của sói ẩn giấu trong vẻ ngoài của một con cừu.
Điểm hiệu chỉnh của “sói đội lốt cừu” là 120, còn tệ hơn là dự kiến lúc ban đầu, vì hầu hết các phương pháp chính trị đều có điểm hiệu chỉnh khoảng 190 (cực kỳ ngạo mạn và tự mãn). Điểm hiệu chỉnh 120 nghĩa là phải trở thành người tinh tế và nhận ra rằng bản chất và tri giác là hai thứ hoàn toàn khác nhau. Tri giác sai là sai lầm nghiêm trọng, chứ không phải nhỏ. Cho rằng rồng Komodo là con vật an toàn vì bạn là một “người nhân đạo” và “người yêu động vật” không có nghĩa là bạn có thể bước vào chuồng của nó khi đang đi dép. Mặt trái của nền văn minh phương Tây là hành động dựa trên niềm tin rằng “chúng ta phải đối xử tốt với tất cả rồng Komodo và mời chúng đến đây, vì chúng chỉ là những con vật hiền lành.” Sai lầm đó là khá nghiêm trọng.
Đó là sai lầm của Thủ tướng Anh Neville Chamberlain. Ông đã gặp Adolf Hitler trong Thế chiến II để ký hiệp ước hòa bình song phương rồi trở về London và tuyên bố một cách tự hào rằng “hòa bình cho thời đại của chúng ta” đã tới. Hitler đã chế giễu sự “ngu ngốc” của Chamberlain. Trong khi ký Hiệp ước Munich, Hitler đã hứa với Chamberlain rằng, nếu được trao một số vùng lãnh thổ nhất định, ông ta sẽ không xâm lược những vùng khác. Trong vòng một năm, khi bom bắt đầu dội xuống nước Anh, Chamberlain bị coi là ngu ngốc vì không có khả năng đánh giá thực tế. Tất nhiên, Hitler đóng vai chó sói đội lốt cừu và chưa bao giờ có ý định tôn trọng thỏa thuận mà mình đã ký. Chamberlain (điểm hiệu chỉnh 185) là người thiếu thực tế, ông không thể bảo vệ được đất nước mình. Ý định của Chamberlain là tốt (điểm hiệu chỉnh 500), nhưng khả năng của ông thì quá kém.
Cục diện tương tự đang lặp lại trong thời gian gần đây, khi giới lãnh đạo chính trị đặt niềm tin ngây thơ vào thiện chí của những quốc gia mà thực chất là sẵn sàng sử dụng vũ khí hạt nhân để hủy diệt chúng ta. Nhượng bộ khủng bố có điểm hiệu chỉnh ở tầng “tâm trí thấp” (155), và trong mắt của chính những kẻ khủng bố, đó là biểu hiện của sự yếu đuối và hèn nhát.
Với các loài săn mồi, những “con mồi ngồi yên chờ chết” thì “xứng đáng” với kết cục của mình, giống như những chủ xe để chìa khóa trong chiếc xe không khóa cửa. “Khoan dung” (điểm hiệu chỉnh 190 khi chỉ dừng ở mức khẩu hiệu) là sai lầm của những người biện hộ thuộc “phe cực tả”: họ đã vô tình mở cửa cho con ngựa thành Troy, trong khi lại ma quỷ hóa việc đánh giá trung thực các yếu tố rủi ro cao. Cũng như một bầy sói cảm nhận được sự yếu thế của con mồi, những kẻ gây hấn lợi dụng chủ nghĩa lý tưởng ngây thơ của nước Mỹ.
Hiệu chỉnh tâm thức cho thấy sự thật của bất kỳ xung đột chính trị hoặc ngoại giao nào, vì ý định tiềm ẩn của mỗi bên có thể được phát hiện ngay lập tức. Như đã nêu trong danh sách các quốc gia trong cuốn Phân Biệt Thật Giả, một số quốc gia và/hoặc các nhà lãnh đạo của họ có điểm hiệu chỉnh ở những tầng cần phải đặc biệt chú ý, nhất là khi họ đang có hoặc tích cực gia tăng năng lực hạt nhân của mình. Hoa Kỳ, điểm hiệu chỉnh 421, tiếp cận năng lực hạt nhân bằng quan điểm duy lý và kiềm chế, những giá trị quan cao này lại bị những người ở tầng tâm thức thấp hơn chế giễu, coi là “yếu đuối”. Ngược lại, các nước hoặc phong trào chính trị có điểm hiệu chỉnh dưới tầng 200 bị thúc đẩy bởi các giá trị như lòng hận thù. Trong khi hiện nay việc tỏ ra “khoan dung” đang trở thành mốt chính trị, thì có thể nói rằng thà là một người hiện thực còn sống, còn hơn làm một kẻ theo thuyết tương đối luận đã chết.
Truyền thông góp phần làm cho người ta đánh mất quan điểm thực tế, đấy là do khẩu hiệu “Công bằng và khách quan” tạo ra. Hàm ý, tất nhiên, là thông qua tương đối luận, giả dối có giá trị ngang với sự thật, chỉ nhìn bên ngoài là đã thấy phi lý rồi. Ví dụ, chúng ta có thể coi quan điểm Trái Đất phẳng là lập luận công bằng và cân bằng để phản bác quan điểm Trái Đất tròn hay không. Người ta còn dùng luận điểm sai lầm: “Mọi vấn đề đều có hai mặt” để trau chuốt thêm nữa (Quan điểm này có điểm hiệu chỉnh là sai và thực tế đấy là bình luận của một quan chức bị bắt quả tang trên video khi đang ăn cắp tiền và giấu trong hộp thiếc trong tầng hầm nhà mình.)
Xã hội Mỹ có điểm hiệu chỉnh 421 (tháng 11 năm 2007). Ngược lại, những người chỉ trích nước Mỹ có điểm hiệu chỉnh 190. Trong khi đó, các buổi cầu nguyện hòa bình có điểm hiệu chỉnh 305, các cuộc biểu tình hòa bình có điểm hiệu chỉnh 170. Khái niệm tự do ngôn luận có điểm hiệu chỉnh 340, nhưng tự do ngôn luận, như đang được thực thi ở Mỹ, chỉ có điểm hiệu chỉnh 187, tức là cùng tầng với ái kỷ. Trong xã hội hiện nay, xu hướng phổ biến là thể hiện thái độ bài Mỹ, chống lại giới quyền uy một cách công khai và gay gắt (“Tinh thần Hollywood,” điểm hiệu chỉnh khoảng 170 đến 190) nhằm thu hút sự chú ý của giới truyền thông. Trong khi khẩu hiệu “Nghi ngờ quyền lực” có tính thù địch và có điểm hiệu chỉnh 160, thì bất đồng chính kiến trung thực lại có điểm hiệu chỉnh 495.
5. Các biện pháp bảo vệ
Một công trình nghiên cứu về nền văn minh phương Tây cho chúng ta biết rằng tầng tâm thức chung cùa của nó hiện đang suy giảm đến mức ngay cả giáo dục chính quy cũng không còn là biện pháp bảo vệ nhằm chống lại thiếu chính trực một cách trắng trợn và những lời dối trá nghiêm trọng tràn lan trên các phương tiện truyền thông và giới hàn lâm.
Các biện pháp đối phó thiết thực nhất là:
1. Hòa hợp về mặt tâm linh với sự thật (điều này tạo điều kiện thuận lợi cho sự thay đổi tích cực trong những phản ứng hóa học diễn ra trong não bộ).
2. Sự tinh tế trí năng đạt được qua việc am tường các tác phẩm kinh điển của phương Tây.
3. Nhận thức về Bản đồ Tâm thức.
4. Nâng cao tầng tâm thức của chính mình bằng cách noi theo và thực hành những giáo huấn tâm linh đã được kiểm chứng, cùng với những nguyên tắc giúp phân biệt đúng – sai, thật – giả (ví dụ, xem Chương 8 và 9 của cuốn sách này).
6. Tâm từ bi
Chính nhờ bản ngã tồn tại rất dai mà chúng ta mới còn sống để đọc cuốn sách này. Khi nhìn bản ngã từ quan điểm tiến hóa qua hàng thiên niên kỷ, hiểu biết này tạo điều kiện cho chúng ta có tâm từ bi. Bản ngã không phải là “kẻ thù” của chúng ta mà là một con “thú cưng” cần được chăm sóc. Thay vì lên án, căm ghét và có mặc cảm tội lỗi về nó, thì biện pháp làm suy yếu nó là nhìn nhận nó một cách khách quan, đúng như nó đang là – đó là tàn dư còn sót lại từ nguồn gốc tiến hóa của chúng ta. Ngược đời là, lên án, gán cho nó nhãn hiệu “tội lỗi”, ăn năn hối lỗi với áo bao tải và tro rắc lên đầu[iii], và chìm đắm trong mặc cảm tội lỗi lại càng làm cho bản ngã vững chắc hơn. Những cách tiếp cận như thế chỉ đơn giản là sử dụng bản ngã để tấn công chính bản ngã, và bằng cách đó, củng cố nó.
Freud đã phát hiện được rằng, vì mặc cảm tội lỗi, chúng ta kìm nén bản chất động vật của mình và sau đó phóng chiếu nó lên những người khác hoặc một vị thần được cho là có cùng những khiếm khuyết về tính cách như những con người xấu xa nhất. Không thể giải thể bản ngã bằng cách lên án hay tự căm ghét chính mình — vốn chính là những biểu hiện của bản ngã — mà bằng sự chấp nhận một cách nhân từ, không phán xét về mặt đạo đức, cùng với tâm từ bi, phát sinh từ hiểu biết về bản chất nội tại và nguồn gốc của nó. Mặc dù mặc cảm tội lỗi và hối hận có thể có một số lợi ích mang tính thực tiễn nhất định trong những giai đoạn ngắn trong quá trình tiến hóa tâm linh của một người, nhưng cần lưu ý khi xem xét Bản đồ Tâm thức: Mặc cảm tội lỗi, Hận thù (tự căm ghét chính mình), Hối tiếc, Tuyệt vọng và tất cả những lập trường tiêu cực như vậy đều nằm ở dưới đáy thang đo, trong khi Tha thứ, Tình yêu, Chấp nhận và Niềm vui nằm ở đỉnh và dẫn tới Chứng ngộ.
Bản đồ Tâm thức cho chúng biết rằng thế giới cung cấp một bức tranh toàn cảnh vô biên, và bằng cách đóng vai trò của mình trong việc là con người mà mình đang là, chúng ta phụng sự tha nhân. Mỗi người trong chúng ta đều phụng sự những người khác chỉ đơn giản bằng sự hiện diện của mình. Những người ở các tầng tâm thức thấp hơn không phải là “người xấu” chỉ vì họ đang là như vậy; họ phụng sự chúng ta bằng cách buộc chúng ta phải đặt lại thực tại và giá trị của họ vào bối cảnh khác. Cuối cùng, chúng ta đều tôn trọng tất cả mọi người. Dù chúng ta có nghĩ họ sai lầm đến mức nào, chúng ta vẫn có thể tôn trọng những người sẵn sàng hy sinh mạng sống vì đất nước, vì Thiên Chúa, hay vì bất cứ điều gì mà họ tin là mình đang làm.
Chính chiến tranh cũng phục vụ cho quá trình tiến hóa của tâm thức, nó tạo ra con đường cho hàng triệu người vượt qua hèn nhát để tiến tới dũng cảm khi họ bước đi giữa mưa bom bão đạn nhân danh một nguyên tắc cao cả hơn, nhân danh Thiên Chúa, nhân danh tổ quốc, nhân danh nhà vua hay gia đình. Chiến tranh là con đường mà trong quá khứ, những người đàn ông, như những chiến binh, đã vượt qua ranh giới tới hạn ở tầng 200. Theo truyền thống, phụ nữ cũng làm được điều tương tự, đấy là sinh con, sẵn sàng chết—người chửa cửa mả—để sinh ra một sinh linh mới. Do đó, không cần phải phán xét hay lên án bất kỳ sự kiện nào trong quá trình tiến hóa của tâm thức, vì mỗi biểu hiện đều phụng sự toàn thể, đấy là do bản chất của nó tại thời điểm đó.
7. Đối trọng
Nghiên cứu hiệu chỉnh tâm thức cho thấy khoảng 92% các vấn đề xã hội xuất phát từ những người có điểm hiệu chỉnh dưới 200, và giá phải trả về mặt tài chính mà người dân phải gánh chịu là quá lớn, không thể nào tính toán được. Do đó, xã hội quá dễ dãi hay dung túng cho thiếu chính trực sẽ phải trả giá cực kì cao không chỉ về chất lượng của đời sống mà còn trong tất cả các lĩnh vực khác, thậm chí đơn giản là an toàn về thể chất mỗi ngày.
Vì những người chính trực thường không nhận ra rằng họ thực sự chỉ là thiểu số, nên cần phải nhắc lại rằng chỉ có 15% người dân trên thế giới có tầng tâm thức trên 200 mà thôi. Tuy nhiên, sức mạnh tập thể của 15% đủ để cân bằng những tiêu cực của 85% còn lại trên thế gian này. Vì thang đo Sức mạnh đích thực tăng theo hàm logarit, chỉ một Thánh Thần Giáng Thế có điểm hiệu chỉnh tâm thức 1.000 có thể và thực sự hoàn toàn đối trọng được với tiêu cực tập thể của toàn thể nhân loại. Kiểm tra bằng phương pháp cơ thể động học cho thấy:
Một người ở tầng 700 đối trọng với 70 triệu người ở những tầng dưới 200.
Một người ở tầng 600 đối trọng với 10 triệu người ở tầng dưới 200.
Một người ở tầng 500 đối trọng với 750.000 người ở tầng dưới dưới 200.
Một người ở tầng 400 đối trọng với 400.000 người ở tầng dưới 200.
Một người ở tầng 300 đối trọng với 90.000 người ở tầng dưới 200.
Mười hai người ở tầng 700 tương đương với một Thánh Thần Giáng Thế ở tầng 1.000.
Nếu không có những đối trọng này, nhân loại chắc chắn sẽ tự hủy diệt. Tuy nhiên, sự khác biệt về sức mạnh giữa một suy nghĩ đầy yêu thương và một suy nghĩ đầy sợ hãi là vô cùng lớn, vượt quá khả năng tưởng tượng của con người. Từ phân tích bên trên, chúng ta có thể thấy rằng chỉ cần một vài suy nghĩ yêu thương trong ngày – do Sức mạnh đích thực tuyệt đối của chúng - cũng đủ để cân bằng tất cả những suy nghĩ tiêu cực của chúng ta trong ngày hôm đó.
Cách duy nhất để nâng cao Sức mạnh đích thực của một người trên thế gian này là gia tăng tính chính trực, hiểu biết và tâm từ bi. Nếu cộng đồng dân cư đa dạng của nhân loại có thể nhận ra điều này, thì sự tồn tại của xã hội nhân loại và hạnh phúc của các thành viên của nó sẽ được đảm bảo hơn. Chỉ cần biết rằng việc nâng cao tâm thức sẽ làm giảm tiêu cực trên thế giới sẽ thúc đẩy ý định tiến hóa lên các tầng cao hơn.
Ý ĐỊNH: TIẾN HÓA VƯỢT RA NGOÀI QUAN HỆ NHÂN QUẢ
Người chân tu chỉ cần biết một vài điều. Chỉ cần nghe hoặc đọc những điều ấy thôi, là tiến trình đã bắt đầu rồi. Điều quan trọng nhất cần biết là: mọi sự đều tự nó đang diễn ra. Không có cái gì là nguyên nhân của bất cứ cái gì khác. Tất cả các hiện tượng đều là hệ quả tự động của trường vô biên. Trường đó là Sức mạnh đích thực toàn năng, vô biên, không nhìn thấy được. Nó bao trùm tất cả, giống như một trường điện từ khổng lồ, không có khởi đầu và không có kết thúc, cả trong không gian lẫn thời gian, luôn luôn hiện hữu và mãi mãi có đó. Sự hiện diện của nó vô cùng dịu dàng và vô cùng mạnh mẽ. Sức mạnh đích thực của nó lớn đến nỗi tất cả tiềm năng đều được kích hoạt để trở thành hiện thực.
Từ trạng thái của tâm thức thuần khiết, người ta chứng kiến rằng mọi thứ đều đang diễn ra một cách tự phát nhờ Sức mạnh đích thực vô biên của trường Thần tính. Mọi thứ đang diễn ra trong và theo bản chất riêng của nó như là hệ quả của cái mà nó đang là, chứ không phải là hệ quả của những việc nó làm, — bởi “làm” hàm ý nhị nguyên: có người hành động đứng sau hành vi.
Điều mà thế giới coi là quá trình tiến hóa thực chất là chứng kiến quá trình sáng tạo, diễn ra liên tục. Cái Phi Hiển Lộ trở thành Hiển Lộ thông qua Ân điển Quan phòng (Divine Providence[iv]) như là Toàn thể Công trình Sáng tạo của Tạo hóa (Totality of Creation[v]) — vốn xuất hiện một cách phi nỗ lực. Trong trường tâm thức này, tiềm năng được hiện thực hóa bởi ý định. Do đó, mỗi sự vật xuất hiện, biểu lộ di sản nghiệp lực của nó; nghiệp lực của nó là tiềm năng bẩm sinh, và khi điều kiện thích hợp, thì tiềm năng đó trở thành hiện thực, tự thân nó, như là hệ quả của Sức mạnh đích thực vô biên của trường này.
Trường này mạnh đến mức nếu một người liên tục giữ một ý nghĩ, nó sẽ trở thành hiện thực; nếu không thì sẽ không có người nào chứng ngộ được. Do đó, ý định là vô cùng mạnh mẽ. Bản ngã rất xảo quyệt. Khi một tiềm năng bắt đầu hiển lộ, nó sẽ nhận công lao là mình tạo ra. Nếu một người lấy một cái kéo và cắt cuống quả táo, bản ngã nghĩ rằng chính nó đã làm cho quả táo rơi xuống đất! Bản ngã phớt lờ trọng lực, nhưng đó là cách mọi thứ đang diễn ra—một cách tự động, giống như trọng lực. Không có một “tự ngã cá nhân” riêng biệt nào là nguyên nhân của bất cứ điều gì. Cũng giống như con người không nhận thức được trọng lực, nếu không có trọng lực thì tất cả chúng ta sẽ rơi khỏi trái đất, tương tự như vậy, con người không nhận thức được Thần tính như một trường năng lượng vô biên mà nếu không có nó thì không có gì tồn tại được.
Ý định xuất phát từ cơ thể dĩ thái (etheric body[vi])—không phải từ tâm trí của bản ngã, điều mà hệ hình nhân quả của Newton muốn bạn tin. Chuyển động đã xảy ra trước khi bạn quyết định rằng bạn sẽ di chuyển. Tôi nhận ra thực tại ấy vào năm 16 tuổi, khi một con thỏ bất ngờ chạy băng qua trước đầu xe. Bàn chân lập tức đạp phanh, và tôi bắt gặp bản ngã đang nhận công về hành động đó. Bản ngã nghĩ rằng: tôi đã đạp phanh để cứu mạng con thỏ. Không phải vậy. Phanh đã được đạp trước khi tâm trí kịp xử lý sự việc. Phải mất 0,0001 giây (một phần mười nghìn giây) để “trung tâm người trải nghiệm” của bản ngã di chuyển từ hiện tượng sang bản ghi chủ quan. Bản ngã giống như bộ theo dõi băng ghi, và bản ghi này được tạo ra trong 0,0001 giây sau khi thực tại đã xảy ra. Vì thế, tri giác luôn chậm hơn bản chất 0,0001 giây. Khi sự giám sát của bản ngã dừng lại, đó là một cú sốc, bởi nhận biết và trải nghiệm trở nên đồng thời. Do đó, tri giác mang tính cá nhân, có động cơ và có chọn lọc. Trái lại, bản chất là sự chứng kiến phi cá nhân đối với toàn thể. Nó ghi nhận mọi sự, nhưng theo lối thụ động, không tìm kiếm, không truy cầu.
Vì lợi ích của bán cầu não phải — vốn học hỏi bằng sự quen thuộc và bằng việc quay vòng trở lại — cần nhắc lại rằng người ta chỉ cần biết một điều duy nhất: mọi sự đều đang tự diễn ra, theo trật tự thiêng liêng (divine ordination[vii]), khi Phi Hiển Lộ trở thành Hiển Lộ, tự nó, nhờ sức mạnh vô biên của trường Thần tính, và không vì bất kỳ lý do nào khác. Điều xảy ra là do: tâm trí, chỉ trong một phần mười nghìn giây, liền nhanh chóng nhận mình là tác giả của hành động. Nếu một người nào đó thật sự và triệt để trung thực —vượt quá khả năng của đa số — thì bằng cách nào đó, người ấy sẽ đi trước được khoảnh khắc một phần mười nghìn giây ấy, và hoàn toàn phó thác cho Thực tại rằng mọi sự đều diễn ra bởi phòng Quan phòng Thiêng liêng, theo ý chí của Thiên Chúa, chứ không vì lý do nào khác. Kẻ duy nhất chống lại hiểu biết này là bản ngã; công việc của bản ngã là tự nhận mình là Thiên Chúa, và sau hàng thiên niên kỷ tiến hóa sinh học, nó làm việc này rất thành thạo.
SỰ THẬT VÀ TRƯỜNG VÔ BIÊN
Nguyên tắc cơ bản của trường vô biên này là nó nhận ra sự thật ngay lập tức. Trường Tâm thức vô biên ghi nhận tất cả những gì đã từng xảy ra trong mọi thời đại. Mọi suy nghĩ, mọi cảm xúc, mọi chuyển động, mọi hành động đều được ghi lại mãi mãi. Không có khái niệm riêng tư. Mọi thứ đều phát ra năng lượng mà hàng nghìn năm sau vẫn có thể đọc được. Chúng ta có quyền truy cập vào tất cả các thông tin đang tồn tại chỉ trong một giây! Chỉ mất ngần ấy thời gian để khám phá ra bất kỳ bí mật nào trong vũ trụ.
Có thể ngay lập tức phân biệt được thật giả là một món quà vô cùng quý giá. Không biết sự khác biệt giữa thật và giả đã kéo nhân loại vào những cuộc chiến không bao giờ ngưng, gây ra nghèo đói, man rợ, bệnh tật, đau đớn, khổ sở và chết. Khổ đau của con người chính là do vô minh. Tất cả các Thánh Thần Giáng Thế Vĩ Đại, Krishna, Chúa Jesus Christ và Đức Phật đều nói rằng chỉ có một “tội”, chỉ có một vấn đề, và đó là vô minh. Cho đến lúc này, chúng ta không có biện pháp phân biệt thật giả, trừ những lời dạy của các bậc thầy tâm linh vĩ đại. Giờ đây chúng ta đang có trong tay một món quà tượng trưng cho hệ quả của quá trình tiến hoá tâm thức của con người.
Thúc đẩy sự thật không nhất thiết mang lại bình yên. Trên thực tế, nó có thể gây xáo trộn mọi thứ trong một khoảng thời gian nào đó. Những người tu tập tâm linh hình dung tương lai sẽ tràn ngập yêu thương và hoa lá, cùng với khả năng là hòa bình sẽ đến như là kết quả của các cuộc tuần hành vì hòa bình hoặc các hoạt động khác. Đúng thế, chúng ta sẽ có hòa bình, nhưng có thể phải mất vài nghìn năm nữa! Không có lý do gì để thiếu kiên nhẫn với quá trình tiến hóa tâm thức. Cách tốt nhất để đóng góp là công việc thầm lặng, siêng năng, tự hoàn thiện chính mình để trở thành người yêu thương, tử tế và có trách nhiệm hơn.
Chỉ cần biết rằng mọi thứ đang diễn ra theo lẽ tự nhiên, không có nguyên nhân bên ngoài, là đã bắt đầu phá vỡ vọng tưởng của thuyết nhị nguyên, vốn cho rằng có tác nhân hành động. Khó khăn của hầu hết các đệ tử tâm linh là họ bị mắc kẹt trong hệ hình về thực tại của vật lý học Newton, trong đó có “cái này” gây ra “cái kia”. Hệ thống niềm tin nhị nguyên này nằm ở cốt lõi của bản ngã và là nguồn gốc của suy nghĩ cho rằng có một cá nhân “Tôi” riêng biệt.
Không có một “Tôi” cá nhân riêng biệt nào đang nói ở đây. Bởi vì có khán giả hoặc độc giả, thì trường này, tức là Sự Hiện Diện, tự phản hồi lại chính Nó như là chính Nó, và “Tôi” với tư cách là người nói hoặc người viết không liên quan gì đến nó. Tự ngã cá nhân đã biến mất từ nhiều năm trước, và tâm trí trở nên im lặng, trạng thái này vẫn tiếp tục cho đến ngày nay. Sự Hiện Diện Vô biên mạnh mẽ đến nỗi nó dập tắt bất cứ thứ gì không phải là chính Nó.
CÂU HỎI VÀ TRẢ LỜI
Hỏi: Làm sao tôi có thể hiểu đời sống của mình khi không có “Tôi”?
Trả lời: Đừng cố gắng! Bạn sẽ chỉ bị mắc kẹt trong một khái niệm mà bạn gọi là “phi nhị nguyên”. Chân lý không nằm ở khái niệm, mà ở ngộ/thể ngộ. Chỉ cần nghe nói rằng mọi thứ xuất hiện một cách tự phát, đấy là do bản chất vốn có, thì bạn sẽ không cần làm gì khác ngoài việc bắt đầu chú ý đến nó. Bạn không cần phải suy nghĩ về nó hay tìm ra ý nghĩa của nó. Đơn giả là bắt đầu nhận thấy rằng mọi thứ đang xảy ra một cách tự phát, đấy là do bản chất của nó và không có cái gì là nguyên nhân của bất cứ cái gì khác.
Trong trạng thái tâm thức thuần khiết, mọi phóng chiếu đều chấm dứt, và mọi thứ được tiết lộ là hoàn hảo, là cái mà nó đang là. Trong Thực tại, bạn thấy rằng ý nghĩa của bất cứ cái gì chính là cái nó đang là. Đó là ý nghĩa của nó. Ý nghĩa của nó là cái nó đang là. Ý nghĩa của một con hươu cao cổ là gì? Ý nghĩa của một con hươu cao cổ là trở thành một con hươu cao cổ.
Hỏi: Ông nói rằng sáng tạo và sự tiến hóa là một và như nhau. Làm sao có thể như thế?
Trả lời: Điều ta chứng kiến là tiềm năng liên tục nổi lên như là sáng tạo. Tiến hóa là sáng tạo. Tôn giáo truyền thống đã tách hai cái này ra, ngụ ý rằng Chúa đã hoàn thành công việc sáng tạo sau một tuần và sau đó Ngài nói “Tạm biệt. Ta sẽ gặp lại các ngươi vào Ngày Phán Xử!” Tôn giáo cho rằng Chúa đã tạo ra vũ trụ, ném quả bóng, và nói, “Chúc mọi người may mắn. Hy vọng các vị sẽ thành công!” Trong Thực tại, sáng tạo là liên tục, có nghĩa là tiềm năng trong quá trình sáng tạo đang trở thành hiện thực, và bạn đang chứng kiến sự xuất hiện của nó. Thậm chí bạn không chứng kiến “thay đổi.” Đó là một vọng tưởng khác, bởi vì “thay đổi” cần thời gian, và trong Thực tại không có thời gian. Tất cả đều là khái niệm hóa của tâm trí. Nếu tôi hỏi một con thỏ, “Mấy giờ rồi?” nó sẽ không biết tôi đang nói về cái gì. Thời gian là khái niệm hóa của tâm trí mà bản ngã phóng chiếu lên trải nghiệm. Tiến hóa, khi được nhìn như một chuỗi tuyến tính trong thời gian, cũng chỉ là khái niệm hóa. Trong Thực tại, cái bạn nhìn thấy không phải là thời gian, không phải là trình tự hay biến đổi, mà là sự xuất hiện liên tục của tiềm năng đang trở thành hiện thực.
Rào cản lớn nhất đối với Chứng ngộ, đối với những người đã đi khắp nơi, làm đủ mọi việc và nghe qua mọi bậc thầy, chính là nguyên lý nhân quả —cho rằng mọi sự đều có nguyên nhân và trình tự tuyến tính, rằng “cái này” gây ra “cái kia.” Chừng nào bạn còn tin rằng “cái này” gây ra một “cái kia”, thì bạn sẽ có kẻ ác và nạn nhân, bản ngã và tâm linh, tự ngã và Đại ngã, và bạn sẽ bị mắc kẹt. Nguyên lý nhân quả có điểm hiệu chỉnh khoảng 460, tương tự như thuyết tiến hóa của Darwin. Cử toạ điển hình ở các bài giảng Veritas có điểm hiệu chỉnh khoảng 420, vì vậy 460 nghe có vẻ uyên bác, nhưng từ tầng 550 và cao hơn, nó lại có vẻ nực cười! Sự thật tối thượng là: mọi sự hiện hữu đều xuất sinh nhờ Sự Hiện Diện của Thần tính. Không có gì khác có sức mạnh tự tạo ra sự tồn tại của chính nó. Sách Sáng Thế (Genesis, điểm hiệu chỉnh 600) nói rằng từ Thần tính phát ra Ánh Sáng, và từ Ánh Sáng ấy sự sống cùng vũ trụ được khai sinh. Sự sống nảy sinh từ sự tiến hoá tự phát của Thần tính. Vạn vật xuất hiện một cách tự phát, từ tiềm năng thành hiện thực, nhờ Sức Mạnh Vô biên của Sự Hiện Diện của Thiên Chúa[viii]. Cái mà tâm trí gọi là trình tự và nhân quả thực ra không hề vận hành theo lối tuyến tính. Ngay trong giây phút này, bạn và tôi đang hiện hữu một cách tự phát trong Trường Vô biên.
Hỏi: Nếu thế giới hình thành nhờ Sự Hiện diện của Thiên Chúa, mà bản chất được cho là Tình Yêu, vậy tại sao người tốt lại gặp những chuyện chẳng lành?
Trả lời: “Tốt” hay “xấu” là do tri giác của bạn. Thực ra, nghịch cảnh có thể được coi như một món quà. Nhiều người sống sót sau ung thư sẽ nói với bạn: “Đó là điều tốt nhất từng xảy ra với tôi.” Thần tính toàn tri còn bạn thì không. Tri giác của bạn không phải là Thực tại. Điều bạn cho là “bất công” có thể chính là phương tiện để giải thoát. Điều bạn muốn biết là liệu có công lý nội tại trong thế giới này hay không và liệu những sự kiện xảy ra trên thế giới có diễn ra một cách công bằng và chính trực hay không. Vâng, có. Đời sống của con người là công bằng về mặt nghiệp lực, hoàn toàn và trọn vẹn. Mỗi người tự chèo lái con thuyền của mình. Vì Tình Yêu là Luật Cao Nhất của Vũ Trụ (tuyên bố này có điểm hiệu chỉnh 750), mỗi người được sinh ra trong những hoàn cảnh mang lại lợi ích tâm linh cao nhất.
Nếu một điều gì đó là “bất công”, thì vũ trụ hẳn là có tính ngẫu nhiên hoặc thất thường. Không có gì là ngẫu nhiên và Thần tính thì không thất thường. Lĩnh vực phi tuyến tính của Sức mạnh đích thực Vô biên xuyên suốt mọi thời đại, Thần tính, giống như một trường điện từ có kích thước vô biên và sức mạnh đích thực vô biên, trong đó những mạt sắt nhỏ tự động sắp xếp phù hợp với “điện tích” của chúng. Vạn vật tồn tại bằng nghiệp lực đều có cực, có điện tích. Vạn vật trong lĩnh vực của Thần tính đều được sắp xếp bên trong trường đó theo di sản nghiệp lực của riêng nó; do đó, Công lý của Thiên Chúa là tức thời. Không một mạt sắt nào có thể ở bất cứ nơi nào khác ngoài vị trí của nó.
Sự Hiện Diện của Thiên Chúa là Sức mạnh đích thực Vô biên không có bộ phận, vị trí, chuyển động; không có sự phóng chiếu mang tính nhân vị; không có cảm xúc; không có vấn đề tâm lý và tâm trí vô thức! Thần tính không thất thường; không tức giận, không bị rối loạn cảm xúc, hay thù hận; và không cần phân tâm học và trị liệu! Thần tính là Trường Sức mạnh Vô biên và do đó, chắc chắn là, không có phân chia; nó giống như trọng lực, là trường không thể phân chia, trong đó mỗi chúng ta đều xếp hàng theo nghiệp lực của mình—mà, ở một tầng nào đó, là tổng thể của tất cả những gì chúng ta đã từng nói “vâng”, dù chúng ta có nhớ hay không. Luôn luôn có tự do lựa chọn; vì vậy, trong mỗi khoảnh khắc, ta đều đang đưa ra quyết định của mình. Thế giới này có thể được mô tả như là cơ hội tối đa cần thiết cho quá trình tiến hóa tâm thức mỗi người. Đây là chiều kích nơi lựa chọn là không có giới hạn, từ những điều kinh hoàng và tàn khốc nhất cho đến những trạng thái phúc lạc cao nhất.
Câu “Thế giới như là cơ hội mang tính nghiệp chướng” có điểm hiệu chỉnh 600 và là một giáo lý của Đức Phật, nói rằng tất cả các trải nghiệm trên thế gian này đều là cơ hội cho quá trình tiến hóa tâm linh: “Được sinh ra làm người là hiếm; được nghe nói về Chứng ngộ còn hiếm hơn nữa; và theo đuổi Chứng ngộ là hiếm nhất”.
Hỏi: Tôi có thể thấy rằng tâm trí phóng chiếu nhân quả vào những chỗ không có nhân quả, rồi sau đó, một cách vô thức, có xu hướng bỏ qua tất cả dữ liệu chứng tỏ điều ngược lại. Để thực sự phân biệt được nguyên nhân của bất cứ điều gì, tôi phải biết tất cả những gì đã từng xảy ra trong suốt mọi thời đại, bởi vì mọi thứ đều được kết nối với mọi thứ khác. Có đúng thế không?
Trả lời: Bạn nhận biết được giới hạn của trí năng. Biện pháp bảo vệ để không bị trí năng giam cầm chính là khiêm nhường. Trí năng chỉ có khả năng làm một số nhiệm vụ nhất định, trong một phạm vi nhất định, và ngoài phạm vi đó, nó là trở ngại. Trí năng hữu ích cho miền tuyến tính, chứ không phải miền phi tuyến tính. Bạn sẽ không dùng búa để mở hộp đựng súp. Bạn không thể dùng trí năng để nắm bắt thực tại tâm linh.
Trong thế giới tuyến tính của vật chất và y học, chúng ta thấy giá trị to lớn của trí năng đối với thế giới. Khi tôi bắt đầu làm bác sĩ, tôi phụ trách một bệnh viện lớn, ở đấy mọi người thường xuyên chết vì những căn bệnh mà giờ đây thậm chí không còn tồn tại nữa! Bệnh bại liệt hầu như không còn. Lợi ích mà các tầng 400 mang lại là vô cùng to lớn, và chúng ta trân trọng trí năng. Trí năng đã là ân nhân vĩ đại của xã hội. Khi tầng tâm thức của một người thăng lên, họ ngày càng trở nên có lợi cho thế giới, và những người ở các tầng 400 tạo được ảnh hưởng vô cùng to lớn. Thế giới khoa học đã chuyển hóa đời sống của chúng ta từ bệnh tật, đau khổ và khốn cùng sang những ca phẫu thuật tương đối ít đau đớn, sinh nở an toàn hơn, và khả năng hồi phục khỏi nhiều loại bệnh hơn. Chúng ta vô cùng biết ơn trí năng và khoa học. Chúng ta không hạ thấp trí năng; trái lại, chúng ta trân trọng nó, bởi nếu không có trí năng, thì không ai trong chúng ta có mặt ở đây trong ngày hôm nay. Vấn đề chỉ đơn giản là cần chấp nhận rằng trí năng có giới hạn; nó không phải là Thiên Chúa.
Hỏi: Thế giới là gì, và nó phục vụ cho quá trình tiến hóa tâm thức như thế nào?
Trả lời: Có vô số quan điểm về thế giới, và chúng có thể được hiệu chỉnh theo tầng sự thật của chúng:
Quan điểm của một người về thế giới là hệ quả của tầng tâm thức của người đó: 485.
Thế giới thực sự là nơi thuận lợi cho sự cứu chuộc và cứu rỗi: 575.
“Tôi tạo ra thế giới mà tôi nhìn thấy”: 350.
Thế giới và vũ trụ chỉ là những ảo ảnh thoáng qua do bản ngã tạo ra để giữ cho nó tách biệt khỏi Thiên Chúa: 220.
Sự sống của con người là biểu hiện của Ý chí của Thiên Chúa, nhờ đó Thần tính hiện thực hóa tiềm năng vô biên: 560.
Loài người từ các vì sao đi xuống và hạ xuống từ thiên đường: 160.
Loài người là từ loài khỉ mà ra: 160.
Thế giới và loài người được Thiên Chúa tạo ra và do đó được truyền cảm hứng thiêng liêng và vốn dĩ thánh thiện: 545.
Thế giới chỉ là sản phẩm vật chất của vũ trụ vật chất: 190.
Sự sống và do đó loài người hoàn toàn là những sản phẩm ngẫu nhiên của quá trình tiến hóa sinh học Darwin (chủ nghĩa giản lược cơ học): 190.
Sống còn là do chọn lọc tự nhiên, kẻ phù hợp nhất sẽ sống sót: 440.
Thế giới và cuộc sống con người là hậu quả của sự sa ngã của Adam và Eva do bất tuân và khuất phục trước cám dỗ của sự tò mò. Do đó, cuộc sống là quá trình sám hối tội lỗi nguyên thủy: 190.
Thế giới là một vở hài kịch, một bi kịch, một bàn cờ chính trị, và hơn thế nữa: 240.
Đây là thế giới thanh tẩy đầy gian khổ và đau đớn; do đó, hãy tìm kiếm thiên đường: 350.
Thế giới là cơ hội hiếm có để phát triển và tiến hóa tâm linh tối đa bằng cách xóa bỏ ác nghiệp và tích lũy thiện nghiệp tâm linh: 510.
Thế giới là bóc lột: 180.
Thế giới là bất công: 200.
Thế giới thể hiện nghiệp quả: 575.
Thế giới là cơ hội nghiệp quả: 600.
Hỏi: Sự tiến hóa cá nhân của một người liên quan như thế nào đến thế giới rộng lớn?
Trả lời: Lợi ích không nhìn thấy được của nỗ lực và tiến hóa tâm linh là ảnh hưởng tích cực của nó đến tầng tâm thức tập thể của nhân loại. Mỗi người tu tập tâm linh đang tiến hóa đều đối trọng lại tác động tiêu cực của nhiều người có tầng tâm thức thấp hơn. Mặc cho những biểu hiện bên ngoài, nghiên cứu hiệu chỉnh tâm thức cho thấy rằng tầng tâm thức tập thể của nhân loại nói chung đang đi lên. Do đó, quan điểm lạc quan là hợp lý. Người ta có thể biết ơn vì đã được sinh ra với tiềm năng vô biên của con người để đạt được lợi ích mang tính nghiệp báo. Người ta cũng có thể biết ơn vì đã nghe nói về Chứng ngộ và quyết định tìm kiếm nó, vì những người như thế thực sự là vô cùng hiếm hoi. Như đã viết trong các tác phẩm trước, về mặt thống kê, khả năng chọn Chứng ngộ làm mục đích chính của cuộc đời là một phần mười triệu.
Chỉ đơn giản là mong muốn trở thành một người yêu thương hơn, và điều chỉnh ý định của mình cho phù hợp với các trường năng lượng ở trên đỉnh Bản đồ, chính là phụng sự thế giới rộng lớn. Bù đắp cho sự tiêu cực của thế giới thì không cần tấn công giả dối mà là trở thành thân thiện và yêu thương hết mức có thể trong lĩnh vực hoặc cuộc sống của riêng bạn. Một người thân thiện (255) mạnh mẽ hơn năm người thù địch (125).
Hỏi: Có thể rút ra từ cuộc sống trần thế giá trị thực sự nào?
Trả lời: Thế giới có thể được nhìn như một kích thích tối ưu cho quá trình trưởng thành nội tâm, bởi nó chỉ là sự phóng chiếu của bản ngã trong hình thức biểu hiện kịch tính và hiển lộ. Khôn ngoan nhất là học hỏi từ đó, thay vì bị quyến rũ bởi các ảo ảnh của nó, hay bị mắc kẹt trong những biểu hiện đó bằng cách đồng nhất hóa hoặc dính mắc. Toàn cảnh thế gian phản chiếu trọn vẹn phổ các tầng tâm thức trong sự phô bày trực diện nhất của chúng. Toàn cảnh ấy giống như một ngôi trường của sự phân biệt, nơi những cực đoan được phơi lộ để làm hiển hiện bản chất nằm bên dưới vẻ ngoài của nói. Mọi sự kiện dường như xảy ra đều mang trong mình cơ hội để học hỏi.
Hỏi: Vậy thì, làm sao có mối quan hệ tốt nhất với thế giới?
Trả lời: Sống “trong” nó nhưng không “thuộc về” nó. Thế giới là phương tiện chứ không phải là mục đích.
[i] Harmonic Convergence – Hội Tụ Hài Hòa là một sự kiện tâm linh mang tính toàn cầu diễn ra vào tháng 8/1987. Đây không chỉ là một cuộc tụ họp vật lý của hàng triệu người tại các địa điểm linh thiêng trên khắp thế giới để cùng thiền định, mà còn là một điểm hội tụ về ý chí tập thể. David Hawkins nói rằng sự kiện này đánh dấu bước ngoặt vĩ đại nhất trong lịch sử nhân loại: lần đầu tiên sau nhiều thế kỷ, tầng tâm thức trung bình của toàn thể nhân loại đã nhảy vọt từ 190 (tiêu cực) vượt qua ngưỡng 200 (Can đảm và Sự thật). Đây là thời điểm mà Ân phước (Grace) tràn ngập, tạo ra một cú hích năng lượng cho phép nhân loại bắt đầu chuyển dịch từ trạng thái sinh tồn dựa trên Bạo lực sang quá trình phát triển dựa trên Sức mạnh đích thực. Hội Tụ Hài Hòa đã khai mở một “trường tâm thức” mới, khiến cho sự thật phi tuyến tính cùng các tầng Tâm thức cao hơn như Tình yêu (500) và Hòa bình (600) không còn là đặc quyền của riêng các Thánh nhân, mà trở nên dễ dàng tiếp cận hơn đối với đại chúng.
[ii] Etheric Brain - Não bộ dĩ thái (Não bộ năng lượng): Là cấu trúc năng lượng tinh vi thuộc Thân thể dĩ thái (Etheric Body), đóng vai trò cầu nối trung gian giữa Tâm thức phi tuyến tính và não bộ vật lý. Theo Hawkins, thông tin không được lưu trữ tại các tế bào não mà nằm trong Trường Tâm thức; khi đó, não bộ vật lý đóng vai trò là “phần cứng”, còn não bộ dĩ thái hoạt động như một “phần mềm” hay bộ thu phát tín hiệu. Cấu trúc này chuyển đổi các tần số năng lượng cao thành xung thần kinh, giúp cơ thể vật lý có thể phản ứng và thích nghi với các trạng thái chứng ngộ hoặc khai sáng.
[iii] Sackcloth and ashes (mặc áo bao tải và rắc tro lên đầu) là phong tục để tang, sám hối và biểu thị sự khiêm nhường cực độ của người Do Thái cổ đại (Hebrew/Jewish).
[iv] Divine Providence - Ân điển Quan phòng là sự an bài và dẫn dắt của Trí tuệ Thiêng liêng đối với vạn vật trong vũ trụ. Nó là sức mạnh vô hình giúp chuyển hóa cái Phi Hiển Lộ thành Hiển Lộ mà không cần nỗ lực của con người. Ý nghĩa với Hawkins: Khi bản ngã buông bỏ kiểm soát, cá nhân sẽ hòa vào dòng chảy của sự Quan phòng. Tại đây, mọi nhu cầu đều được đáp ứng và mọi sự kiện đều diễn ra một cách hoàn hảo, phi nỗ lực.
[v] Totality of Creation là toàn bộ sự hiện diện của vạn vật trong vũ trụ, được nhìn nhận như một chỉnh thể hoàn hảo, duy nhất và liên tục sinh khởi từ Trường Tâm thức, không có sự phân biệt giữa nguồn gốc và biểu hiện.
[vi] Etheric body là thuật ngữ trong các truyền thống huyền học và tâm linh phương Tây, chỉ một tầng thân vi tế được cho là tồn tại song song với thân vật lý. Nó được mô tả như một “trường năng lượng” hoặc “mẫu hình sinh lực” nâng đỡ và duy trì cấu trúc của cơ thể vật chất. Trong một số hệ thống huyền học, cơ thể dĩ thái được xem là: Lớp gần nhất với thân vật lý; Cầu nối giữa thân xác và các tầng tâm thức vi tế hơn; Khuôn mẫu năng lượng (energetic blueprint) của cơ thể. Thuật ngữ này xuất hiện trong các trào lưu như Thông Thiên học (Theosophy), Nhân trí học (Anthroposophy), và một số hệ thống chữa lành năng lượng. Cần lưu ý rằng khái niệm etheric body thuộc phạm trù huyền học – tâm linh, không phải thuật ngữ của sinh lý học hiện đại.
[vii] Divine Ordination - Trật tư thiêng liêng/Thiên định là trật tự đầy quyền năng của Thiên Chúa/Vũ trụ. Nếu Providence là sự chăm sóc và dẫn dắt, thì Ordination là “Trật tự” tối cao khiến một sự việc nhất định phải xảy ra theo một trật tự không thể lay chuyển. Trong hệ thống của Hawkins: Nó khẳng định rằng mọi sự kiện trong tiến trình tiến hóa của tâm thức không phải là ngẫu nhiên, mà đã được “ấn định” từ trong cấu trúc của Trường Tâm thức. Ví dụ: Sự chứng ngộ của một cá nhân vào một thời điểm nhất định có thể được xem là do Divine Ordination (Thiên định).
[viii] Như vậy, có thể hiểu: Thần tính, Thiên Chúa và Đại Ngã không phải là ba thực thể tách biệt, mà là những cách diễn đạt khác nhau về cùng một Thực Tại tối hậu — được tiếp cận từ bình diện thần học, siêu hình học và trải nghiệm nội tâm.
GIẢI MÃ BẢN ĐỒ TÂM THỨC
David R. Hawkins, M. D., Ph. D.
Phạm Nguyên Trường dịch
Phần II
ÁP DỤNG THỰC TẾ
Trong phần này, Tiến sĩ Hawkins áp dụng Bản đồ Tâm thức vào ba lĩnh vực quan trọng của con người: sức khỏe thể chất, thành công và cai nghiện. Một giáo lý quan trọng là: “Những điều chúng ta lưu giữ trong tâm trí có xu hướng trở thành sự thật.” Một giáo lý khác là lịch sự với người khác, ông bảo chúng ta trau dồi theo cách này: “Khi tham gia giao thông, hãy luôn để người khác đi trước.” Ông hứa rằng, đây chính là sức mạnh bí mật của thành công!
Trong Chương 6, về cai nghiện, chúng ta được hưởng lợi từ nhiều thập kỷ kinh nghiệm lâm sàng của Tiến sĩ Hawkins với quy trình Mười Hai Bước và quan hệ thân thiết của ông với Bill Wilson, người đồng sáng lập Hội Người Nghiện Rượu Ẩn Danh. Những truyền thống như “ẩn danh như nền tảng tâm linh”, “nguyên tắc đặt trước cá tính” và “thu hút, chứ không cổ động” giúp một nhóm người luôn luôn đi đúng hướng. Ông cũng gợi ý rằng quy trình Mười Hai Bước có thể được áp dụng cho bất kỳ vấn đề nào của con người, trong đó có cả vượt qua sự nghiện ngập đối với chính bản ngã của chúng ta. Nói chung, hành trình chữa lành là buông bỏ những năng lượng tiêu cực ngăn cản hạnh phúc và niềm vui bẩm sinh của chúng ta. “Khi mây tan, mặt trời sẽ chiếu sáng” là một trong những châm ngôn yêu thích của Tiến sĩ Hawkins. Dưới đây là câu chuyện ông kể để minh họa cho quá trình này:
Càng buông bỏ, chúng ta càng trở nên yêu thương hơn. Càng ngày càng nhiều thời gian trong cuộc sống của chúng ta sẽ được dành để làm những việc mình yêu thích, dành cho những người mà chúng ta ngày càng yêu thương hơn. Khi sự kiện này xảy ra, đời sống của chúng ta sẽ được chuyển hóa. Tình yêu là năng lượng cảm xúc mạnh mẽ nhất. Vì tình yêu, người ta sẵn sàng lao vào bất cứ thử thách nào và làm những việc mà có trả bao nhiêu tiền họ cũng sẽ chẳng bao giờ làm. Khi những rào cản tiêu cực và những câu nói “Tôi không thể” được loại bỏ, những lĩnh vực hoàn toàn mới trong cuộc đời sẽ mở ra cho chúng ta.
Xin xem xét ví dụ về một cô gái trẻ có nhiều tài năng âm nhạc bẩm sinh, từng dành phần lớn thời gian cho một công việc nhàm chán mà cô cảm thấy mình phải gắn bó vì phải kiếm tiền. Việc cô ấy thực sự thích là ở nhà một mình và đánh đàn. Đấy hoàn toàn vì niềm vui cá nhân. Vì thiếu tự tin, cô ấy ít khi đánh đàn cho người khác nghe, kể cả bạn bè thân thiết.
Sau khi bắt đầu buông bỏ những giới hạn bên trong – tất cả những cảm xúc tiêu cực không cho cô thể hiện bản thân mình – khả năng và sự tự tin của cô phát triển nhanh chóng đến mức cô bắt đầu chơi nhạc trước công chúng. Tài năng của cô được đón nhận nồng nhiệt, và một sự nghiệp âm nhạc đầy bận rộn bắt đầu. Cô đã hoàn thành một bản thu âm chuyên nghiệp thành công đến mức cô có thể dành một nửa thời gian để làm công việc mà mình vẫn làm, và bắt đầu dành nhiều thời gian và năng lượng cho sự nghiệp đang đơm hoa kết trái, mang lại cho cô niềm vui và thỏa mãn lớn lao hơn. Mặc dù không biết gì về kinh doanh, cô đã bắt đầu công việc kinh doanh âm nhạc của chính mình và trong vòng một năm, đã phân phối các bản thu âm trên khắp cả nước, rồi sau sang cả châu Âu.
Cô rất vui mừng khi thấy mình rất thành công khi làm những việc mình thích nhất. Sức sống và hạnh phúc ngày càng tăng của cô ấy thể hiện rõ ràng với mọi người, và thành công lan rộng sang các lĩnh vực khác trong cuộc đời của cô.
Thành công bắt nguồn từ việc làm những gì chúng ta thích làm nhất, nhưng hầu hết mọi người lại bị trói buộc bởi những việc mà họ tưởng là mình phải làm. Khi giới hạn được loại bỏ, những con đường sáng tạo và thể hiện hoàn toàn mới sẽ mở ra. Trong ví dụ về nữ nhạc sĩ sẵn sàng buông bỏ sợ hãi và tự nghi ngờ chính mình, bạn có thể thấy sự thay đổi bên trong đã mở ra cuộc sống bên ngoài của cô ấy theo những cách mà cô chưa từng tưởng tượng nổi.
Chương 4
SỨC KHOẺ VÀ HẠNH PHÚC
Từ những nguyên tắc đã thảo luận bên trên, rõ ràng là thay đổi thực sự xảy ra từ bên trong, đấy là khi chúng ta nắm giữ sức mạnh chính trực bên trong của mình bằng cách hòa hợp với những trường hút mạnh mẽ như Can đảm, Chấp nhận, Tình yêu và Hào phóng. Sức mạnh này tác động trực tiếp vào cái “ABC” của cuộc đời chúng ta—tức là những nguyên tắc tổ chức, thái độ bên trong và ý chí chủ đạo—từ đó những trải nghiệm thực tế mới xuất hiện. Do đó, chỉ có một cách tăng cường sức khỏe, hạnh phúc hoặc thành công của chúng ta, đó là nâng cao tầng tâm thức. Nếu chúng ta cố gắng làm cho cuộc sống tốt đẹp hơn bằng cách thay đổi các yếu tố bên ngoài, A→ B→ C, thì chúng ta sẽ thất vọng. Cách tiếp cận này là vô ích, như người ta vẫn nói: “Chẳng khác gì sắp xếp ghế trên boong tàu Titanic”, mà đây lại là chiến lược của hầu hết mọi người. Họ làm việc nhằm thay đổi các yếu tố bên ngoài của cuộc đời mà không nhìn vào đấu trường bên, đấy mới là nơi tất cả đều xuất hiện.
Tin tốt là chỉ cần hòa hợp với sự thật đầy quyền năng cũng có thể tạo ra sự khác biệt lớn trong cuộc đời của bạn.
Trong lĩnh vực sức khỏe, sự thật đầy quyền năng này là sự chuyển đổi từ “Tôi là cơ thể” thành “Tôi có một cơ thể”. Người bình thường rất quan tâm tới cơ thể, quan tâm tới chức năng, hiệu suất, ngoại hình và sự sống còn của nó. Mọi người thường đồng nhất cơ thể với “tôi” và do đó dành phần lớn sự chú ý trong lúc thức để xem cơ thể vận động như thế nào, trông ra sao và những chỉ số của nó. Đây là tầng tâm thức rất hạn chế. Đó là đồng nhất sai lầm, do Cái Biết bị thu hẹp, chẳng khác gì việc bạn có một cái mụn mọc ngay ở mũi và nghĩ rằng cả thế giới giờ đây xoay quanh cái mụn đó, thế là cái mụn đó hiện hữu trong tâm trí suốt cả ngày.
CƠ THỂ TUÂN THEO TÂM TRÍ
Nguyên tắc cơ bản cần nắm được là thân thể tuân theo tâm trí; do đó, thân thể có xu hướng biểu hiện những điều mà tâm trí tin tưởng. Niềm tin có thể được lưu giữ một cách có ý thức hoặc vô thức. Cách ngôn này bắt nguồn từ quy luật của tâm thức: Chúng ta chỉ chịu tác động bởi những gì mình lưu giữ trong tâm trí. Sức mạnh duy nhất mà bất kỳ điều gì có thể chi phối chúng ta chính là sức mạnh của niềm tin mà chúng ta trao cho nó. Ở đây, khi nói về “sức mạnh” là chúng ta muốn nói đến năng lượng và ý chí để tin vào điều đó.
Nhìn vào Bản đồ Tâm thức, dễ dàng để thấy vì sao tâm trí lại mạnh mẽ hơn thân thể. Trường năng lượng của Lý trí (điểm hiệu chỉnh 400), với niềm tin và khái niệm của tâm trí, mạnh mẽ hơn trường năng lượng của thân thể vật lý (điểm hiệu chỉnh 205). Do đó, thân thể sẽ thể hiện những niềm tin được lưu giữ trong tâm trí, dù những niềm tin này là hữu thức hay vô thức. Một trong những nhiệm vụ của tâm thức là chấp nhận diện mạo cá nhân của bạn (dù diện mạo đó là gì thì cũng thế), mà không tự hạ thấp bản thân.
Việc chúng ta dễ dàng chấp nhận những niềm tin tiêu cực tùy thuộc vào việc chúng ta vốn dĩ đang lưu giữ sẵn bao nhiêu tiêu cực trong chính mình. Ví dụ, tâm trí tích cực sẽ không chấp nhận những suy nghĩ tiêu cực và đơn giản là bác bỏ chúng, coi những ý nghĩ này là không đúng đối với mình. Không chấp nhận những ý tưởng tiêu cực mà những người khác thường chập nhận. Chúng ta biết rằng rất dễ dàng thuyết phục một người đầy mặc cảm tội lỗi tự lên án chính mình, hoặc gieo rắc sợ hãi về một căn bệnh nào đó cho một người đang sợ hãi.
Ví dụ, ý tưởng cho rằng cảm lạnh rất dễ lây là một ví dụ điển hình. Ý nghĩ cho rằng mọi người đều bị cảm lạnh sẽ được một người có nhiều mặc cảm tội lỗi, sợ hãi và ngây thơ về các quy luật của tâm thức chấp nhận. Vì mặc cảm tội lỗi vô thức, người đó sẽ cảm thấy theo lối vô thức rằng họ “xứng đáng” bị cảm lạnh. Cơ thể tuân theo niềm tin của tâm trí rằng cảm lạnh là do virus gây ra, và chúng “dễ lây lan” và dễ truyền nhiễm. Do đó, cơ thể, được điều khiển bởi niềm tin của tâm trí, biểu hiện ra thành bệnh cảm lạnh. Người đã buông bỏ những năng lượng tiêu cực tiềm ẩn của mặc cảm tội lỗi và sợ hãi sẽ không có tâm trí sợ hãi để tin rằng: “Cảm lạnh đang lây lan; chắc tôi cũng sẽ bị như những người khác.” Trong nhiều trường hợp “Cảm lạnh đang lây lan,” nhưng sự kiện là nhiều người không “bị cảm” dù tiếp xúc với cùng môi trường như những người mắc bệnh.
Suy nghĩ (điểm hiệu chỉnh 400) mạnh mẽ vì nó có tần số rung động cao hơn so với cơ thể (điểm hiệu chỉnh 205). Mỗi ý nghĩ thực chất là một vật; nó có mô thức năng lượng. Chúng ta càng dành nhiều năng lượng cho ý nghĩ, nó càng có nhiều sức mạnh để thể hiện ra về mặt vật chất. Đây là nghịch lý của phần lớn cái gọi là giáo dục sức khỏe. Ảnh hưởng mang tính nghịch lý là những ý nghĩ sợ hãi được củng cố và được trao quá nhiều sức mạnh đến nỗi phương tiện truyền thông thực sự đang tạo ra dịch bệnh (ví dụ, cúm lợn). Những “cảnh báo” dựa trên sợ hãi về những nguy hiểm đối với sức khỏe thực sự tạo ra môi trường tâm trí mà trong đó chính cái mà người ta sợ sẽ xảy ra. Làm sao cái đó lại có thể xảy ra? Chồng khớp lên cơ thể vật lý là cơ thể năng lượng, với hình dáng rất giống cơ thể vật lý với các mô thức thực sự điều khiển cơ thể vật lý. Ý định và tư tưởng của chúng ta tạo được ảnh hưởng trực tiếp lên những mô thức năng lượng này. Như vật lý lượng tử cao cấp đã chứng minh, chỉ riêng hành động quan sát cũng đủ để tác động đến các hạt hạ nguyên tử năng lượng cao.
Sức mạnh của tâm trí đối với cơ thể được chứng minh bằng nghiên cứu lâm sàng. Ví dụ, trong một nghiên cứu, một nhóm phụ nữ được cho biết rằng họ sẽ được tiêm hormone để có kinh nguyệt sớm hơn hai tuần. Trên thực tế, họ chỉ được tiêm giả dược là dung dịch muối. Tuy nhiên, hơn 70% phụ nữ đã bị hội chứng tiền kinh nguyệt sớm với tất cả các triệu chứng về thể chất và tâm lý.
Người ta cũng thấy quy luật tâm thức này ở những người mắc chứng rối loạn phân ly: các nhân cách khác nhau trong cùng một cơ thể có các biểu hiện khác nhau về thể chất. Ví dụ, có những thay đổi trong sóng điện não đồ, cũng như những thay đổi từ tay trái sang tay phải hoặc ngược lại khi viết chữ, thay đổi trong ngưỡng chịu đau, trong phản ứng điện da, chỉ số IQ, chu kỳ kinh nguyệt, sự chi phối của bán cầu não, khả năng học ngôn ngữ, giọng nói và thị lực. Do đó, khi nhân cách tin vào dị ứng xuất hiện trong người đó, người đó sẽ bị dị ứng; nhưng khi một nhân cách khác xuất hiện trong cơ thể, dị ứng biến mất. Một nhân cách có thể cần đeo kính, còn nhân cách kia thì không. Những nhân cách khác nhau này thực sự có những khác biệt đáng kể về áp lực nội nhãn và các chỉ số sinh lý khác.
Những người không mắc chứng rối loạn phân ly, nhưng khi bị thôi miên cũng có những hiện tượng vật lý như thế. Chỉ một gợi ý đơn giản cũng có thể tạo ra các bệnh dị ứng. Khi đang trong trạng thái bị thôi miên, nếu gợi ý rằng họ bị dị ứng với hoa hồng thì sau khi tỉnh lại họ sẽ bắt đầu hắt hơi nếu nhìn thấy một bình hoa hồng trên bàn của bác sĩ, ngay cả khi đó là bông hoa giả.
Sau cả cuộc đời nghiên cứu, Ngài John Eccles, khôi nguyên Nobel, tuyên bố rằng rõ ràng là não bộ không phải là nguồn gốc của tâm trí, như khoa học và y học đã tin tưởng, mà ngược lại. Tâm trí điều khiển não bộ, hoạt động như một trạm thu (giống như một chiếc radio), với những suy nghĩ tương tự như sóng radio còn não bộ thì tương tự như máy thu.
Não bộ giống như một máy thu, một tổng đài nhận các loại suy nghĩ rồi sau đó chuyển thành chức năng thần kinh và kho ký ức. Chẳng hạn, cho đến tận gần đây, người ta vẫn tin rằng các chuyển động tự chủ của cơ bắp bắt nguồn từ vỏ não vận động. Nhưng giờ đây, như Eccles đã báo cáo, chính ý định muốn cử động đã được ghi nhận bởi vùng vận động bổ sung của não bộ, nằm ngay cạnh vỏ não vận động. Do đó, não bộ được kích hoạt bởi ý định của tâm trí, chứ không phải ngược lại.
Chúng ta thấy hiện tượng này trong nhiều nghiên cứu hình ảnh não bộ ở những người đang hành thiền. Ví dụ, nghiên cứu của Tiến sĩ Richard Davidson tại Đại học Wisconsin ở Madison đã chứng minh rằng việc hành thiền về tâm từ bi và yêu thương kích thích hoạt động gia tăng ở vỏ não trước trán bên trái (nơi chứa đựng những cảm xúc tích cực như hạnh phúc) và tạo ra các sóng não Gamma biên độ cao (dấu hiệu của sự mở rộng tỉnh thức, tỉnh táo và tuệ giác. Những gì được lưu giữ trong tâm trí có sức mạnh làm thay đổi hoạt động của não bộ và cả cấu trúc thần kinh.
Các hệ thống cơ thể của chúng ta chịu ảnh hưởng của đủ loại tác động từ niềm tin hữu thức và vô thức mà tâm trí đang lưu giữ. Trong đó có niềm tin của chúng ta về những tác động mà người ta nghĩ là do các loại thực phẩm, chất gây dị ứng, mãn kinh và rối loạn kinh nguyệt, nhiễm trùng và tất cả các bệnh khác liên quan đến các hệ thống niềm tin cụ thể gây ta, cùng với khuynh hướng căng thẳng tiềm ẩn do sự hiện diện của những cảm xúc tiêu cực bị kìm nén.
Norman Cousins, tổng biên tập tạp chí Saturday Review trong suốt ba thập kỷ, đã chứng minh nguyên tắc này khi ông dùng tiếng cười để tự chữa khỏi một căn bệnh nghiêm trọng. Ông viết cuốn sách nhan đề Anatomy of an Illness (Giải phẫu một căn bệnh) nói về kinh nghiệm hồi phục khỏi bệnh viêm khớp bằng cách bổ sung nhiều vitamin C và cười sảng khoái khi xem phim do anh em nhà Marx thủ vai. Ông phát hiện được rằng tiếng cười có tác dụng gây tê, có thể làm giảm đau trong hai giờ. Cười là một phương pháp buông bỏ các trường năng lượng tiêu cực. Bằng tiếng cười, Cousins liên tục buông bỏ áp lực cảm xúc tiềm ẩn và loại bỏ những suy nghĩ tiêu cực. Dẫn đến những thay đổi rất tích cực và có lợi trong cơ thể ông và tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình hồi phục cuối cùng.
VƯỢT QUA CÁC CHƯƠNG TRÌNH TIÊU CỰC
Muốn thay đổi cơ thể thì phải thay đổi suy nghĩ và cảm xúc, tức là buông bỏ những ý tưởng, cảm xúc và hệ thống niềm tin tiêu cực. Chúng ta phải loại bỏ quá trình lập trình tiêu cực do thế giới tạo ra, cũng như từ chính hệ thống niềm tin của chúng ta. Càng sợ hãi, chúng ta càng nhanh chóng bị lập trình, và sau đó cơ thể sẽ phản ứng phù hợp với chương trình. Sợ một số chất nào đó, sợ thực phẩm, sợ không khí, sợ năng lượng và các kích thích đủ mọi loại đến mức hoang tưởng về môi trường. Mỗi ngày lại có một chất hóa học hoặc chất mới được công bố là có hại!
Chúng ta có thể thấy ảnh hưởng tai hại của lập trình tiêu cực gây ra sợ hãi ở những người trở nên sợ thực phẩm, sợ hóa chất và một số chất trong môi trường. Trên Bản đồ Tâm thức, Sợ hãi là trường năng lượng tương ứng với Rút lui vì lo lắng và tin rằng cuộc sống bình thường là đáng sợ. Một số người bị ám ảnh về môi trường và mọi thứ trong đó đến nỗi thế giới của họ ngày càng thu hẹp lại. Càng ngày họ càng sợ hãi hơn. Một số người thậm chí còn suy sụp đến mức họ trốn chạy khỏi thế gian, trở thành nạn nhân của chính tâm trí của mình. Trên hành tinh này chỉ còn lại một vài thứ mà họ có thể cảm thấy an toàn khi ăn, và họ mang những món ăn đó trong một chiếc túi giấy màu nâu. Người này đến một bữa tiệc mà mọi người đều ăn những món ăn mà anh ta cho là toàn chất độc. Anh ta nghĩ, họ đang tự giết mình bằng món bít tết và thuốc trừ sâu trên đậu Hà Lan, trái cây và rau diếp. Trong khi, theo quan điểm của người này, họ đang tự giết mình, anh ta ăn những món chứa trong chiếc túi giấy màu nâu của mình. Anh ta ngồi ở trong một góc, cạnh một bàn với những người khác cũng mang theo đồ ăn trong túi giấy màu nâu. (Đây là một cảnh có thật tại một bữa tiệc lớn.) Anh ta nhịn ăn trong thời gian dài; anh ta chạy bộ và làm những việc “lành mạnh” khác; và tất nhiên, bây giờ anh ta đã chết. Một người từng chạy bộ mỗi ngày và cố gắng để có được sức khỏe tốt đến như như thế, làm sao lại chết được? Anh ta chết vì đã trở thành người “bong bóng” với quan điểm hoang tưởng về thế giới đang dần khép lại xung quanh mình. Anh ta không thể tin tưởng khi hít thở không khí. Anh ta thậm chí không thể dùng thảm vì thảm có thể phát ra các chất khí độc hại và các chất gây dị ứng làm anh ta nghẹt thở. Những thứ khác—như mùi sơn hoặc các chất xuất phát từ vật liệu cách nhiệt, hoặc các hạt trong khói thuốc lá có thể gây ung thư cho anh ta—làm cho cuộc sống của anh ta ngày càng thu hẹp lại.
Sự kiện xảy ra trong tình huống kiểu này là phủ nhận dần dần sự thật về chính mình, cùng với việc dần dần giao sức mạnh đích thực của sự tồn tại của mình cho vọng tưởng về nhân quả của thế gian, nhưng thực ra thế gian không có sức mạnh có thể tạo được ảnh hưởng đối với chúng ta. Đây là sự thật bị đảo ngược, và do có niềm tin sai lầm về chính mình, chúng ta ngày càng trở nên dễ bị tổn thương và trở thành nạn nhân. Cuối cùng, chúng ta bị chứng hoang tưởng của người bong bóng trước “dị ứng môi trường” - chỉ có thể sống trong một cái bong bóng bảo vệ với không khí trong lành và ăn thức ăn chưa qua chế biến đựng trong túi giấy màu nâu.
Sự kiện này có thể xảy ra với một người có lý trí bình thường, thậm chí là bác sĩ. Mọi chuyện bắt đầu với phấn hoa, phấn hương, vảy da ngựa, lông chó mèo, bụi, lông vũ, len, sô cô la, pho mát và các loại hạt (tất cả đều được cho là gây ra dị ứng). Sau đó, thôi ăn đường (làm tăng đường huyết) cùng với các chất phụ gia thực phẩm (gây ung thư), trứng và các sản phẩm từ sữa (tăng cholesterol), và nội tạng động vật (bệnh gút). Tiếp theo trong danh sách “có hại” là phẩm màu thực phẩm, đường hoá học, caffeine, chất tạo màu, nhôm, vải tổng hợp, tiếng ồn, đèn huỳnh quang, thuốc xịt côn trùng, chất khử mùi, thức ăn nấu ở nhiệt độ cao, khoáng chất trong nước, clo trong nước, nicotine, khói thuốc lá, khí thải ô tô, ion dương, rung động điện tần số thấp, thực phẩm có tính axit, thuốc trừ sâu và thực phẩm có hạt.
Thế giới thu nhỏ lại đến mức ăn hoặc mặc bất cứ thứ gì cũng đều cảm thấy không an toàn. Không có không khí để thở. Chứng cớ là cơ thể bị tất cả các loại dị ứng, phản ứng và bệnh tật. Việc đi ăn tối bên ngoài đã trở thành thú vui của quá khứ, vì thực đơn chẳng còn có gì ăn được, trừ rau diếp (tất nhiên là đã được rửa sạch), và nhất định phải đeo găng tay trắng khi cầm dao nĩa ở nhà hàng!
Rồi, khi hiểu được sự thật cốt lõi, toàn bộ khuôn mẫu đã được gỡ bỏ. Những gì được lưu giữ trong tâm trí có xu hướng biểu hiện ra ngoài—trong đó có cả những niềm tin vô thức. Thủ phạm không phải là thế giới mà là tâm trí. Tất cả những chương trình tiêu cực và áp đặt mang tính sợ hãi đều nằm trong tâm trí, và cơ thể chỉ đơn thuần tuân lệnh tâm trí mà thôi. Quy luật tâm thức đã đảo ngược chứng hoang tưởng ngày càng gia tăng. Khi quan sát và buông bỏ từng niềm tin bên trong, thì tất cả những phản ứng tiêu cực, bệnh tật và triệu chứng của cơ thể đều biến mất. Nói cách khác, không phải lá cây thường xuân có chất độc gây ra dị ứng, mà chính là niềm tin của tâm trí, cho rằng lá cây thường xuân có chất độc là tác nhân gây ra dị ứng. Khi tâm trí buông bỏ chương trình đó, thì các phản ứng của cơ thể cũng không còn.
QUÁ TRÌNH TỰ CHỮA LÀNH
Quá trình tự chữa lành là gì? Chúng ta có thể áp dụng những kỹ thuật tâm thức nào để đảo ngược tình trạng bệnh tật? Chúng ta bắt đầu bằng cách buông bỏ sự kháng cự trước những cảm giác mà chúng ta đang trải nghiệm, và ngừng dán nhãn cho chúng. Ví dụ, chúng ta không thể trải nghiệm “loét tá tràng” hay “hen suyễn”. Tất cả chỉ là nhãn mác, là những cấu trúc của tâm, những chương trình tinh vi và các hệ thống niềm tin. Chúng ta đi vào trải nghiệm bên trong của chính những cảm giác ấy và buông bỏ kháng cự chúng. Trên thực tế, cuối cùng chúng ta sẽ “làm biến mất” chúng bằng cách hòa hợp với chúng, đón nhận những trải nghiệm bên trong của các cảm giác. Đồng thời, trong tâm trí, chúng ta loại bỏ mọi nhãn mác. Chúng ta ngừng gọi nó là “loét” và thay vào đó đi vào cảm giác bên trong của nó. Cảm giác bên trong có thể là áp lực hoặc nóng rát. Ngay cả các từ “nóng rát” và “áp lực” cũng là nhãn mác. Chúng ta loại bỏ những thứ đó và quay trở lại với cốt lõi, tuyệt đối thiết yếu, của những gì chúng ta đang trải nghiệm về mặt thể chất, và sau đó buông bỏ sự kháng cự đối với trải nghiệm đó.
Những bước chữa lành
Nói một cách đơn giản, kỹ thuật tâm thức về sự thật triệt để có năm bước chữa lành một căn bệnh cụ thể:
1. Buông bỏ sự kháng cự đối với trải nghiệm của giác quan về căn bệnh đó.
2. Không còn đặt tên hay dán nhãn cho nó nữa.
3. Không dùng bất kỳ từ ngữ nào để đón nhận trải nghiệm của những cảm giác ở bên trong.
4. Xóa bỏ nhãn mác của tâm, xoá bỏ các hình thức suy nghĩ và hệ thống niềm tin, và thay thế chúng bằng sự thật: Tôi không còn tin vào cái đó nữa. Tôi là một hữu thể vô biên, và tôi không bị lệ thuộc vào nó. Tôi chỉ lệ thuộc vào những gì tôi lưu giữ trong tâm trí.
5. Chọn trường năng lượng của Yêu thương, có khả năng chữa lành.
Nếu xem xét các nguyên lý cơ bản của các tầng năng lượng liên quan và nhớ rằng Bản đồ Tâm thức là một thang đo logarit, chúng ta có thể thấy tại sao Sợ hãi (điểm hiệu chỉnh 100) lại bị Tình yêu (điểm hiệu chỉnh 500) áp đảo - đây là các cấp số mũ. Do đó, sức mạnh của Tình yêu được biểu thị bằng 10500, trong khi Sợ hãi chỉ là 10100, sự khác biệt quá to lớn. Đặt mình vào trường năng lượng của Yêu thương Vô điều kiện, tầng 540, sẽ tự động chữa lành chính mình ở tầng sâu sắc nhất. Lựa chọn trở thành một người yêu thương sẽ dẫn đến việc não bộ giải phóng endorphin, có tác động sâu sắc đến sức khỏe và hạnh phúc của cơ thể (xem biểu đồ Chức năng và Sinh lý não bộ trong chương trước).
Hòa hợp tôn giáo hay tâm linh dựa trên đức tin có thể làm giảm đáng kể sợ hãi. Năng lượng tâm linh giúp não bộ chuyển sang trạng thái vận hành ôn hòa hơn, các hormone căng thẳng được thay thế bằng endorphin, serotonin và những chất dẫn truyền thần kinh có lợi khác ở mức tối ưu.
Tuy nhiên, hài hòa về mặt tâm linh không có nghĩa là hoàn toàn miễn nhiễm khỏi những giai đoạn đau khổ về mặt cảm xúc hoặc các mô thức nghiệp báo. Ví dụ, trầm cảm ảnh hưởng đến sinh hóa của một bộ phận khá lớn dân chúng. Người ta ước tính rằng, vào một thời điểm nào đó trong cuộc đời, ít nhất một phần ba người trưởng thành bị trầm cảm ở mức độ nghiêm trọng hoặc trung bình. Nó có thể nhẹ, dưới dạng hối tiếc, hoặc nặng, dưới dạng đau buồn vì mất người thân, thảm họa tài chính, ly hôn, v.v. Trầm cảm đi kèm với những thay đổi lớn trong sinh lý não bộ và sự suy giảm các chất dẫn truyền thần kinh thiết yếu, như norepinephrine và serotonin. Khuynh hướng trầm cảm bao gồm các yếu tố di truyền và nghiệp lực mạnh mẽ, và thường mang tính gia đình.
Về mặt lâm sàng, trầm cảm thường cần được những người có chuyên môn giúp đỡ. Trong điều kiện thích hợp có thể chữa được trầm cảm nghiêm trọng, nhưng đây thực sự là dấu hiệu cần sự trợ giúp về tâm thần hoặc các bác sĩ lâm sàng khác, cũng như cần được bảo vệ và hỗ trợ. Mất hy vọng và ý chí sống, cùng với chứng trầm cảm kèm theo, thường xảy ra ở những cá nhân cô đơn, bị cô lập; người già; và những người bình thường đã bị suy kiệt về mặt tâm lý do căng thẳng nghiêm trọng, chẳng hạn như mất việc, ly hôn, mất người thân, và chính quá trình đau buồn. Tự tử là nguyên nhân làm chết người hàng đầu ở thanh thiếu niên.
Tất cả mọi thứ đều liên quan đến thể chất, tâm trí và tâm linh. Về mặt thể chất, một số người bị trầm cảm đã hồi phục chỉ đơn giản bằng cách thôi ăn đường. Phần lớn có phản ứng tốt với thuốc chống trầm cảm. Khi bị trầm cảm, một số chất dẫn truyền thần kinh thiết yếu ở một số vùng não bộ bị suy giảm. Do đó, sử dụng thuốc chống trầm cảm có thể làm giảm biểu hiện của triệu chứng này. Nói chung, điều trị trầm cảm cho phần lớn bệnh nhân bằng thuốc chống trầm cảm là an toàn với điều kiện là có sự giám sát lâm sàng chặt chẽ, đặc biệt là ở trẻ em và thanh thiếu niên. Về mặt dược lý, thuốc chống trầm cảm đưa người bệnh từ đáy Bản đồ lên tầng cao hơn, để họ có thể đáp ứng với liệu pháp tâm lý hoặc tư vấn tâm linh nhằm giảm bớt tình trạng làm người ta dễ bị tổn thương. Cần cân nhắc giữa những rủi ro của việc sử dụng thuốc tâm thần và nguy cơ tự tử, đặc biệt khi chứng trầm cảm thờ ơ trở thành kích động (lúc này người bệnh có đủ năng lượng để tự tử).
Hạnh phúc nảy sinh từ sẵn sàng buông bỏ những thứ tiêu cực trong tâm thức và cho phép tình yêu thế chỗ cho chúng, bởi vì bản chất quan trọng nhất của tâm thức - khi nó chưa bị tổn hại - là yêu thương. Chúng ta thấy trong sự ngây thơ của đứa trẻ là yêu thương là biểu hiện của bản chất người. Như thể đứa trẻ chưa bị lập trình để rơi vào sợ hãi, nghi ngờ hoặc giới hạn.
Khi xem xét cơ chế, chúng ta thấy rằng những gì chúng ta lưu giữ trong tâm trí bắt đầu biểu hiện ra trên bình diện vật chất. Ngay cả một suy nghĩ tương đối trung lập cũng có thể có những hậu quả to lớn. Ví dụ, suy nghĩ: “Tôi nghĩ tôi sẽ đi Hawaii” ngay lập tức tiếp thêm năng lượng cho lĩnh vực tài chính và kế hoạch của người đó trong sáu tháng tới để chuẩn bị cho chuyến đi.
Những thứ chúng ta lưu giữ trong tâm trí có xu hướng hiển lộ ra bên ngoài. Một trong những khó khăn cần vượt qua trong quá trình tự chữa lành là sẵn sàng chấp nhận sự thật của tuyên bố này. Có một phần trong chúng ta thích làm nạn nhân của bệnh tật, thích được chú ý, và không muốn tin vào sức mạnh của tâm trí hay chịu trách nhiệm cho sức mạnh đó. Nhưng nếu thực sự muốn chữa lành, chúng ta không thể để cho suy nghĩ tiêu cực không bị thách thức. Chúng ta không thể nghe chính mình nói: “Tôi bị tiểu đường” mà không bị thách thức. Hệ thống niềm tin như vậy mạnh đến nỗi chỉ cần tin rằng mình bị tiểu đường cũng đủ để làm trầm trọng thêm căn bệnh này. Thay vào đó, chúng ta phải loại bỏ nó và nói, tôi là người từng nghĩ như vậy, nhưng tôi chỉ bị chi phối bởi những gì tôi lưu giữ trong tâm trí. Tôi là một thực thể vô biên, và tôi không bị bệnh tiểu đường chi phối. Khi nói ra sự thật này, chúng ta vượt qua tầng 200, ranh giới của chính trực, trong những chi tiết cụ thể của một căn bệnh nhất định.
Từ bi với chính mình
Thái độ của chúng ta đối với bản thân mình trong toàn bộ trải nghiệm này là gì? Khi chúng ta quyết định tha thứ và từ bi, trở thành người hỗ trợ và nuôi dưỡng sự sống thay vì lên án nó hoặc cho rằng mình sai, là chúng ta thôi tự trách móc mình vì để cho bị bệnh. Một số người tham gia vào công việc tâm linh hoặc nghiên cứu siêu hình học sẽ làm trầm trọng thêm vấn đề bằng cách tự cho mình là “sai” vì họ mắc một căn bệnh nào đó. Cần phải sẵn sàng chấp nhận bất cứ biểu hiện nào trên cơ thể, cần nhìn vào tâm thức của chính mình để xem điều gì đang được đưa lên để chúng ta chú ý, và nhận ra rằng bất cứ cái gì xảy ra trong cuộc đời của chúng ta đều nhằm mục đích chữa lành.
Không cần xấu hổ vì là người tìm kiếm tâm linh nhưng lại mắc bệnh, mà chúng ta nên biết ơn và nói: “À! Có điều gì đó đang đến để được chữa lành.” Chúng ta có thể xem đó là dấu hiệu của tiến bộ và vui mừng vì có cơ hội chữa lành những thứ này, ngược đời là, những căn bệnh này lại xuất phát từ tiến bộ tâm linh lớn lao hoặc diễn ra nhanh chóng (đấy là nghiệp). Khi chúng ta cam kết với sự thật cao cả như Yêu Thương Vô Điều Kiện, chính ý định đó sẽ thu hút điều ngược lại vào cuộc sống của chúng ta một cái gì đó cần được chữa lành và được đón nhận bằng tình yêu. Như chúng tôi đã nói, cam kết với Tình Yêu “mang đến điều ngược lại của nó”. Hầu hết các nhà huyền môn vĩ đại trong lịch sử đều ghi nhận nhiều bệnh tật về thể chất (ví dụ, xem các mục về các nhà huyền môn nổi tiếng như St. Teresa of Ávila và St. Hildegard of Bingen trong Encyclopædia Britannica).
Bệnh tật đơn thuần là cách thức mà tâm thức kêu gọi chúng ta chú ý đến một điều gì đó cần phải được xem xét—điều mà chúng ta đang có mặc cảm tội lỗi, sợ hãi, hoặc đang có những cảm xúc tiêu cực khác. Một hệ thống niềm tin mà chúng ta đang lưu giữ cần phải được buông bỏ và hủy bỏ. Một điều gì đó cần được tha thứ, và điều gì đó bên trong chúng ta cần được yêu thương. Vì vậy, thay vì phán xét chính mình vì để cho mắc bệnh, chúng ta cảm ơn nó vì đã giúp chúng ta nhận thức được điều gì đó. Chúng ta nói, “Cảm ơn, loét dạ dày. Tôi hiểu rồi. Bạn đã buộc tôi phải nhìn nhận lại cách tôi tự lên chính mình và không yêu thương bản thân mình. Cảm ơn, hạ đường huyết, vì đã cho tôi thấy tôi đã sống trong sợ hãi đến mức nào.” Chúng ta cảm ơn tất cả các loại bệnh tật của mình bởi vì chúng đã đưa chúng ta đến sẵn sàng và chấp nhận để bước vào lĩnh vực của tình yêu và niềm vui khi nhận ra, bằng tâm từ bi, rằng đây là cách cơ thể tự chữa lành.
Khi bắt đầu buông bỏ tất cả những sợ hãi liên quan đến cơ thể, xóa bỏ các hệ thống niềm tin và khẳng định lại rằng Chân Ngã của chúng ta là Vô biên và không bị giới hạn, chúng ta bước vào trạng thái sức khỏe, hạnh phúc và năng lượng sống cao hơn. Cần tự nhủ: “Tôi là hữu thể vô biên, không bị giới hạn bởi _______.” Chúng ta điền vào chỗ trống bất kỳ bệnh tật hoặc chất nào mà tâm trí đã được lập trình để coi là “nguy hiểm” tiềm tàng đối với chúng ta.
TỰ DO NỘI TÂM
Người đã từ bỏ những hệ thống niềm tin hạn chế có thể ăn bất cứ thứ gì; có thể đi bất cứ đâu; và không còn bị chi phối bởi sợ hãi các chất gây ô nhiễm, chất độc hại, gió lùa, vi trùng, tần số điện từ, thảm, khói, bụi, lông thú, cây thường xuân độc, phấn hoa, phẩm màu thực phẩm, v.v. Họ đã từ bỏ Sợ hãi, Mặc cảm tội lỗi và Kiêu hãnh cùng tất cả các hệ thống niềm tin hạn chế đi kèm với các trường năng lượng tiêu cực. Tri giác của họ về cơ thể thay đổi, và giờ đây nó dường như giống như một con rối hoặc một con thú cưng. Sự thay đổi nhận thức này là từ “Tôi là cơ thể này” thành “Tôi có cơ thể này”.
Ngày càng rõ ràng rằng cơ thể không tự trải nghiệm chính nó. Ngược lại, chính tâm trí đang trải nghiệm cơ thể. Không có tâm trí, thì không thể tri giác được thân thể. Cánh tay không thể trải nghiệm được cánh tay là cánh tay. Chỉ có tâm trí mới có thể trải nghiệm được cánh tay là cánh tay. Đây chính là cơ sở của gây mê. Khi tâm trí ngủ, cơ thể không có cảm giác. Dần dần, chúng ta nhận ra rằng, thực tế, cơ thể không hề có cảm giác; chỉ có tâm trí mới có khả năng thực hiện chức năng này.
Đây là một sự chuyển đổi tâm thức cực kì quan trọng, vì giờ đây, không còn bận tâm về cơ thể và việc bảo vệ nó nữa. Chúng ta bắt đầu nhận ra rằng mọi người thực sự không phản ứng với cơ thể của chúng ta mà là với thái độ bên trong, phản ứng với trạng thái năng lượng bên trong và với tầng tỉnh thức của chúng ta. Chúng ta buông bỏ lo lắng về ngoại hình, bởi vì một ngày nào đó, chúng ta nhận ra rằng mọi người và mọi thứ trên thế gian thực sự đang phản ứng với tầng tâm thức, với ý định và cảm xúc bên trong mà chúng ta dành cho họ. Chúng ta cảm nhận được sức hút của những người thánh thiện như Mẹ Teresa, Đức Đạt Lai Lạt Ma và Mahatma Gandhi. Chúng ta thấy rằng họ được mọi người yêu mến không phải vì ngoại hình, vốn thường không tạo được ấn tượng, mà vì sự rạng rỡ bên trong của yêu thương và an bình mà họ tỏa ra. Sự chuyển hướng tập trung từ tầng vật chất sang tầng tâm thức mang lại kết quả nhanh chóng. Chúng ta bắt đầu rót năng lượng vào sức khỏe bên trong của mình.
Liên tục buông bỏ những cảm xúc và thái độ tiêu cực đồng nghĩa với việc mặc cảm tội lỗi liên quan với những cảm xúc này cũng liên tục được giải tỏa. Tâm thức không bị dày vò bởi mặc cảm tội lỗi thường không còn thu hút bệnh tật nữa. Trong vô thức, mặc cảm tội lỗi đòi hỏi trừng phạt và bệnh tật, cùng với đau đớn và khổ sở đi kèm, như là phương tiện tự trả thù thường xuyên nhất của tâm trí. Những hành động tự trả thù này có thể biểu hiện dưới dạng một tai nạn, một cơn cảm lạnh, bệnh cúm, viêm khớp, hoặc bất kỳ bệnh tật nào khác mà tâm trí tự tạo ra hoặc bám víu vào. Truyền hình và truyền thông đưa tin lại làm cho những căn bệnh này bùng phát thành dịch. Khi một nhân vật nổi tiếng chia sẻ với công chúng về một căn bệnh nghiêm trọng nào đó, tỷ lệ mắc bệnh đó đột ngột tăng vọt và nó ngày càng trở thành phổ biến hơn. Vô thức nắm lấy một căn bệnh và sử dụng nó để giải quyết vấn đề. Cùng với việc liên tục buông bỏ mặc cảm tội lỗi ở bên trong, ngày càng có ít vấn đề cần giải quyết. Do đó, một người không có thái dộ tiêu cực và không có mặc cảm tội lỗi thường không bị bệnh và không bị đau khổ.
Nói chung, sức khỏe và hạnh phúc là kết quả tự nhiên của việc buông bỏ mặc cảm tội lỗi và những tiêu cực khác, và buông bỏ sự kháng cự của chúng ta đối với trải nghiệm tích cực về sức khỏe và hạnh phúc. Có thể có những trường hợp hiếm hoi, trong đó, bệnh tật hoặc suy nhược tiếp tục không thuyên giảm, đấy là do những yếu tố không rõ như khuynh hướng nghiệp báo. Buông bỏ liên tục mang lại chữa lành ở bên trong, do đó, ngay cả khi cơ thể dường như bị hạn chế và người khác có thể coi đó là “bi kịch”, thì người đó vẫn an bình và tỏa ra sự an bình ở bên trong, giúp nâng đỡ những người khác. Bằng cách buông bỏ ở tầng sâu sắc, những người như thế đã buông bỏ thái độ than thân trách phận, mặc cảm tội lỗi và kháng cự đối với những hoàn cảnh của cuộc đời. Họ đã siêu việt quan điểm cho rằng bệnh tật của họ là rào cản đối với hạnh phúc cá nhân và coi đó là phương tiện ban phước cho những người khác. Trong những năm gần đây, những ví dụ công khai về hiện tượng này bao gồm cố Giáo hoàng Gioan Phaolô II, người đã tiếp cận căn bệnh Parkinson dai dẳng của mình như là cơ hội tâm linh để gánh vác hoặc ở bên cạnh đau khổ này của người khác.
Quá trình buông bỏ như thế đưa con người lên đến tới đỉnh của Bản đồ Tâm thức. Ban đầu, có sự đồng nhất: Tôi là thân thể này. Khi sự thức tỉnh bên trong tiếp tục, rõ ràng là tôi là tâm trí đang trải nghiệm thân thể, chứ không phải là thân thể. Khi càng nhiều cảm xúc, mô thức tư duy và hệ thống niềm tin được buông bỏ, cuối cùng sẽ xuất hiện tỉnh thức: Tôi cũng không phải là tâm trí. Tôi là Cái chứng kiến và trải nghiệm tâm trí, cảm xúc và thân thể. Tôi chính là tâm thức.
Bằng cách quan sát nội tâm, sẽ nhận ra Cái gì đó luôn bất biến và không thay đổi, dù có xảy ra chuyện gì trong thế giới bên ngoài hay với thân thể, với cảm xúc hoặc tâm trí thì cũng thế. Cùng với cái biết như thế, sẽ xuất hiện trạng thái tự do hoàn toàn. Đã khám phá ra Đại Ngã ở bên trong. Trạng thái tĩnh lặng của Cái Biết nằm dưới mọi chuyển động, hoạt động, âm thanh, cảm xúc và ý nghĩ, vừa khám phá được là chiều không gian an bình vượt qua mọi thời gian. Một khi đã đồng nhất chính mình với Tánh Biết này, chúng ta không còn bị chi phối bởi những tác động của thế giới, thân xác, hay tâm trí nữa; và đi cùng với Tánh Biết đó là một sự tĩnh lặng, an định và một cảm giác an bình nội tâm sâu sắc. Chúng ta nhận ra rằng đây chính là điều mà chúng ta luôn tìm kiếm nhưng không biết, bởi vì chúng ta đã lạc lối trong mê cung. Chúng ta đã từng nghĩ rằng mình là tất cả những hiện tượng trong cuộc sống hối hả của mình—thân thể và những trải nghiệm của nó, những nghĩa vụ, công việc, chức danh, các hoạt động, vấn đề, cảm xúc, .v..v.. Nhưng giờ đây chúng ta nhận ra rằng mình là không gian vô tận, nơi các hiện tượng đang diễn ra. Chúng ta không phải là những hình ảnh lập lòe đang diễn kịch trên màn ảnh rộng, mà chúng ta chính là màn ảnh—một nhân chứng không phán xét về bộ phim đang diễn ra của cuộc đời, không có khởi đầu và không có kết thúc, vô hạn trong tiềm năng của nó. Những nhận thức tiến bộ này về bản chất thực sự của chúng ta chuẩn bị nền tảng cho Chứng Ngộ Tối Thượng về sự đồng nhất của Tâm thức với Chính Thần tính ở đỉnh cao nhất của Bản đồ Tâm thức.
Chúng ta sẽ thấy rằng các nguyên tắc để thành công về cơ bản là giống nhau, dù đấy là nỗ lực mang tính chất tâm linh (Kiến chân tính) hay chuyên môn thì cũng thế.
GIẢI MÃ BẢN ĐỒ TÂM THỨC
David R. Hawkins, M. D., Ph. D.
Phạm Nguyên Trường dịch
Chương 5
10 BƯỚC KIẾN TẠO SỨC MẠNH ĐÍCH THỰC ĐỂ THÀNH CÔNG
Mức độ mà chúng ta không cho phép bản thân mình trải nghiệm thực tại của Chân Ngã được thể hiện bằng thái độ ghen tị với những người đã thực sự làm được điều đó. Chúng ta ghen tị với sức sống của họ trong những lĩnh vực mà chúng ta cảm thấy mình bất lực. Khi xuất phát từ trường năng lượng nằm dưới tầng 200 trên Bản đồ Tâm thức, chúng ta không thích, chúng ta chỉ trích và đánh giá thấp những người có điểm hiệu chỉnh cao hơn. Tự ngã nhỏ bé tìm kiếm danh vọng và tiền tài bằng cách hạ thấp người khác. Đây là một câu chuyện minh họa cho xu hướng tiêu cực này:
Một người đàn ông đi dọc theo bờ biển và gặp một ông lão đánh cá với một cái xô đầy cua biển. Anh ta nói với ông lão: “Ông nên đậy cái xô, nếu không cua sẽ bò hết ra ngoài mất thôi.”
“Không cần đâu,” ông già thông thái nói. “Ông thấy đấy, khi một con cua bò lên thành xô để ra ngoài, thì những con khác sẽ đưa càng lên, tóm lấy nó và kéo nó xuống. Vì vậy, không cần phải đậy.”
Khi trở thành người tự do và hạnh phúc hơn, chúng ta sẽ thấy rằng thế giới chẳng khác gì cái xô đầy cua, và lúc đó chúng ta sẽ tìm cách vượt lên trên những ràng buộc tiêu cực này bằng cách đón nhận thái độ và lối sống bên trong, thừa nhận sự vĩ đại trong chính con người mình và trong những người khác. Thành công thực sự không đến từ việc tấn công một người được coi là kẻ thù mà đến từ việc nuôi dưỡng thành công trong chính mình và trong tất cả mọi người xung quanh.
Sự nghiệp bi thảm của nhiều thiên tài ngay sau khi được công chúng tung hô là minh chứng cho thấy: có loại thành công này, và cũng có loại Thành Công khác. Cái trước thường hủy hoại sinh mệnh, còn cái sau thăng hoa sự sống. Thành Công đích thực nuôi dưỡng và nâng tầm tâm linh; đó không phải là những thành tựu riêng lẻ, mà là thành công của một con người toàn diện, kiến tạo một lối sống mang lại lợi lạc không chỉ cho bản thân mình mà cho tất cả những người xung quanh. Tự ngã nhỏ bé hoà điệu với những mô thức hút yếu (như tâm lý của loài cua); trong khi Đại Ngã hoà điệu với những trường năng lượng có sức mạnh cao hơn — đó chính là Tình yêu.
Thay vì ghen tị hay căm ghét thành công, những người thực sự thành công bắt chước, sao chép, đồng nhất với nó và phát triển các mô thức thành công. Chịu trách nhiệm về hành động của chính mình và hậu quả mà chúng gây ra, tự nó đã có sức mạnh vô cùng to lớn và gần như ngay lập tức đưa tầng tâm thức đã được hiệu chỉnh của người đó lên trên 200 rồi. Tuệ giác vô cùng quý giá mà tất cả những người đã tiến hóa về mặt tâm linh đều học được trong quá trình phát triển là thấy rằng tâm thức cá nhân của chính họ tạo được ảnh hưởng quyết định đối với tất cả những sự kiện xảy ra trong cuộc đời mình.
Những người thực sự thành công luôn đồng nhất mình với (ABC), (tức là với tức là những nguyên tắc tổ chức, thái độ bên trong và ý chí chủ đạo – xem bên trên, ND). Họ nhận ra rằng mình chỉ là một kênh dẫn mà thông qua đó, ABC vận hành để tạo ra thành công trên thế gian này. Chính vì họ đồng nhất mình với cội nguồn thực sự của thành công chứ không phải những biểu hiện bề nổi, cho nên họ không bao giờ sợ đánh mất nó. Họ có thể bị mất tài sản hay địa vị, nhưng sẽ tái tạo lại chúng ngay lập tức, bởi tất cả đều bắt nguồn từ ABC của họ — tức là sức mạnh nội tại ở bên trong. Chúng ta thường nói về những người như thế: “Bất cứ thứ gì họ chạm vào cũng đều biến thành vàng.” Ngược lại, những người coi thành công thuộc về lĩnh vực bên ngoài (các biểu hiện vật chất A → B → C) sẽ luôn sống trong bất an, bởi họ lầm tưởng rằng cội nguồn của thành công nằm “ở ngoài kia”.
Thành công thực sự là hệ quả tự nhiên của việc hoà điệu đời sống của bạn với các mô thức năng lượng cao và tuân theo một số bước nhất định. Thành công thực sự không chỉ là về công việc, doanh nghiệp hay tiền gửi ngân hàng. Nó là con người tổng thể của bạn, một trường năng lượng truyền cảm hứng, nâng đỡ và làm đẹp cuộc đời, dù bạn đang làm gì thì cũng thế. Thành công thực sự bắt nguồn từ việc hòa điệu với năng lượng của cuộc đời.
BƯỚC 1: Ý ĐỊNH
Xem xét lại ABC trước khi làm bất cứ điều việc gì liên quan đến A→B→C.
Liệu nguyên tắc nền tảng mà bạn đang dựa vào để vận hành có sức hấp dẫn phổ quát hay không? Liệu tất cả mọi người có sẵn sàng ủng hộ nó nếu họ biết hay không? Nếu không, thành công đó đã tự động bị giới hạn ngay từ khi bắt đầu.
Chúng ta có thể xem xét ví dụ ở tầng quốc tế của nước Đức Quốc xã, đất nước mà trong một giai đoạn, chắc chắn dường như có tất cả những dấu hiệu của người chiến thắng. Họ đã tập hợp được lực lượng quân sự ấn tượng nhất từng thấy trên hành tinh này. Nhưng họ đã sụp đổ. Khẩu hiệu của họ là gì? Deutschland über Alles (Nước Đức trên hết!). “Nước Đức trên hết” không hẳn là có sức hấp dẫn phổ quát, đúng thế không? Nó khó có thể giành được cảm tình của người Bỉ, người Pháp, người Anh, hay bất kỳ người nào khác. Đó là một cuộc đấu tranh có kẻ thắng và người thua: chúng ta thắng; còn họ thua!
Nếu ngay từ đầu động cơ chỉ là giành giải thưởng, là bán được nhiều xe hơn các đại lý ô tô khác trong thị trấn, hoặc trở thành người giàu có và nổi tiếng, thì nỗ lực đó thậm chí sẽ không thể khởi động hành trình dẫn tới thành công thực sự. Sự kiện là bạn phải trở thành người giỏi nhất trong một lĩnh vực nào đó hoặc trở thành người giàu có và nổi tiếng có thể có sức hấp dẫn đối với bạn, nhưng liệu sự kiện đó có sức hấp dẫn đối với người khác hay không? Không. Nếu bạn làm dịch vụ và có thái độ giúp những người khác vươn tới mục tiêu của họ, thì bạn đang vận hành doanh nghiệp có sức hấp dẫn phổ quát.
Chỉ tham vọng không thôi thì sẽ không mang lại thành công. Nhưng nếu mục đích là làm cho thế giới này tốt đẹp hơn đối với mọi người hoặc làm cho đời sống trở thành an toàn hơn, vui hơn và đẹp hơn, thì mọi người đều có thể ủng hộ việc làm đó. Xuất phát từ nguyên tắc phổ quát là xuất phát từ sức mạnh đích thực. Xuất phát từ lợi ích cá nhân là xuất phát từ bạo lực và sẽ dẫn đến phản lực.
Ở một khía cạnh nào đó, Bản đồ Tâm thức có thể được coi là thang đo bản ngã, với tầng 200 là điểm tựa, tại đó, ích kỷ bắt đầu chuyển hướng sang vị tha, và tầng 500 là điểm tựa, tại đó, vị tha đã trở thành thái độ cống hiến ở bên trong của người đó. Dấu hiệu của thành công thực sự là động cơ (ABC) có điểm hiệu chỉnh bên trên tầng 200, càng cao thì càng mạnh mẽ hơn, đấy là do sức hấp dẫn rộng lớn hơn, vượt ra ngoài vị kỷ cá nhân.
Chúng ta thấy sự khác biệt giữa các tầng này ở các kỳ thế vận hội Olympic. Những hậu quả thảm khốc cả trong đời sống cá nhân lẫn công cộng, vốn bắt nguồn từ các động cơ xuất phát từ những tầng năng lượng dưới 200, đã được thể hiện quá rõ ràng qua các vụ bê bối. Nhiệt tình thái quá trong việc giành huy chương Olympic và đánh bại đối thủ bằng mọi cách có thể đã dẫn đến việc từ bỏ sức mạnh đích thực của nguyên tắc đạo đức và sa sút đến những tầng bạo lực thô thiển nhất.
Thể hiện lòng tự hào thì không có gì sai. Tất cả chúng ta đều có thể tự hào khi các vận động viên Olympic của chúng ta giành huy chương, nhưng đó là một loại tự hào khác với ích kỷ; nó xuất phát từ trái tim. Đó là tôn vinh thành tựu của con người vượt lên trên kiêu hãnh cá nhân. Thế vận hội Olympic, một trong những vở kịch vĩ đại nhất về sự nỗ lực của con người, truyền cảm hứng cho các vận động viên chuyển từ kiêu hãnh cá nhân sang thái độ kính trọng là biểu hiện của yêu thương vô điều kiện và cũng tôn vinh đối thủ của mình vì sự cống hiến của họ cho những nguyên tắc cao cả như thế.
Thành công thực sự, cũng như sức mạnh đích thực của thể thao chân chính, có đặc điểm là duyên dáng, nhạy cảm, sự tĩnh lặng ở bên trong, và ngược đời là, sự dịu dàng trong đời sống hoàn toàn không có tính ganh đua của ngay cả những người thể hiện sự ganh đua khốc liệt nhất trên đấu trường. Sức mạnh đích thực làm cho người ta viên mãn là cống hiến cho điều gì đó cao cả hơn bản thân mình (tức là cống hiến cho đội, cho Thiên Chúa, cho đất nước, v.v.), đó là năng lượng siêu việt chính mình có điểm hiệu chỉnh khá cao trên Bản đồ Tâm thức. Chúng ta tôn vinh những nhà vô địch như thế vì chúng ta nhận ra rằng, bằng hy sinh quên mình và cống hiến cho một nguyên tắc cao cả hơn, họ đã vượt qua tham vọng của cá nhân mình. Những người vĩ đại trở thành huyền thoại khi họ dạy mà không dùng lời, người xưa gọi là: “Hành bất ngôn chi giáo”. Không phải tài sản họ có hay những việc họ làm mà chính là con người mà họ đã trở thành mới truyền cảm hứng cho tất cả chúng ta. Sức mạnh đích thực của họ có sức hấp dẫn phổ quát, vì nó khơi gợi thái độ kính trọng đối với cống hiến vị tha bên trong mỗi người chúng ta.
BƯỚC 2: THÍCH THÚ
Suy ngẫm: Bạn có thích làm việc đó hay không?
Khi đã chắc chắn rằng ý định của mình mang tính phổ quát, hãy tự hỏi xem nỗ lực đó có phải là điều mà bạn thực sự yêu thích hay không. Chúng ta thấy nhiều người, mỗi sáng đều ép buộc mình phải đi làm vì họ đã tự thuyết phục mình rằng họ phải làm một công việc nào đó, nhưng thực chất họ không hề yêu thích công việc mình làm. Muốn thành công thì phải làm những việc bạn thích, tận hưởng công việc bạn làm, và từ đó, sẽ tự nhiên làm hết khả năng của mình và trải nghiệm niềm vui từ việc cống hiến hết sức mình. Sau đây là ví dụ từ một bệnh nhân đến phòng khám vì anh ta có mọi thứ trong cuộc đời nhưng lại cảm thấy bất hạnh.
Bệnh nhân phàn nàn: “Tôi mất hết hứng thú với cuộc đời. Tôi ghét sáng nào cũng phải đi làm. Tôi có tất cả mọi thứ mà mình muốn – xe Cadillac, nhà đẹp, chức vụ đầy ấn tượng, có hàng triệu đôla, gia đình không chê vào đâu được – nhưng tôi cảm thấy chán quá. Những thứ đó chẳng có ý nghĩa gì đối với tôi. Tôi không được bạn bè thông cảm. Tất cả họ đều có thái độ ghen tị với tôi.”
“Anh thích làm gì? Anh có sở thích nào không?”
Anh ta nói: “Thưa Bác sĩ, điều này nghe có vẻ điên rồ, nhưng tôi rất thích làm nhà búp bê. Tôi có một xưởng ở nhà và rất thích làm nhà búp bê cho các con, cho cháu gái và cháu trai của mình.”
“Anh có bao giờ bán những ngôi nhà búp bê đó chưa?”
Anh ta trả lời: “Ồ, tôi chưa bao giờ nghĩ đến việc này. Tôi đã dành rất nhiều thời gian và công sức cho những ngôi nhà này, nên tôi không thể kiếm tiền bằng cách bán những ngôi nhà đó.”
Gợi ý của tôi khá đơn giản: “Vậy thì, vui thôi, sao anh không thử bán một cái mà anh đang làm, tính toán một mức giá có lãi, dán nhãn giá lên đó, rồi đem bán ký gửi ở bất kỳ cửa hàng nào nhận ký gửi – nhưng đừng bán ở cửa hàng đồ chơi, vì nó sẽ bị lẫn vào giữa vô vàn hàng hóa khác.”
Anh ta đã làm đúng như thế. Đáng ngạc nhiên là, anh ta quen một người làm trong ngành kim khí, người này rất vui khi trưng bày ngôi nhà búp bê trong cửa sổ cửa hàng của mình, và thực tế là đã dùng nó để bán các bậc cầu thang (có một cái cầu thang nhỏ trong ngôi nhà búp bê). Ngôi nhà búp bê này được người ta mua ngay lập tức. Ngôi nhà búp bê tiếp theo chỉ để trưng bày chứ không bán, và có khá nhiều đơn đặt hàng. Chẳng bao lâu sau, bệnh nhân từng khổ sở lúc này đã vui vẻ với công việc kinh doanh nhà búp bê, bán ngay khi có người mua và còn thuê người làm một số công đoạn.
Những ngôi nhà búp bê làm thủ công như thế trông rất đáng yêu và mang lại niềm vui cho tâm hồn con trẻ. Đó chính là nguyên tắc cơ bản mà anh ta muốn truyền đạt khi nói: “Tôi muốn mang lại niềm vui cho tâm hồn con trẻ.” Đó là nguyên tắc phổ quát mà hầu như không người nào có thể phản bác. Một trong những thước đo của nguyên tắc phổ quát là liệu nó có chạm đến tâm hồn người khác hay không. Nếu sản phẩm hoặc dịch vụ của bạn chỉ nhắm vào đầu óc, thì thành công là khá hạn chế. Có thể mang lại lợi nhuận, nhưng những thành công lớn trên thế giới là thứ mà chính bạn thích làm và tin tưởng vào nó, và đó là cái làm thay đổi cuộc sống của mọi người.
BƯỚC 3: PHỤC VỤ
Xin xem xét: Điều bạn muốn làm có thực sự cần thiết cho người nào đó hay không? Liệu nó có thực sự phụng sự thế giới?
Bạn cần đảm bảo rằng những gì bạn sắp để hết công sức vào không chỉ là một dự án hay sở thích cá nhân. Nước sốt salad dấm mâm xôi có thể là ý tưởng về ẩm thực cao cấp của một số đầu bếp, nhưng khẩu vị cá nhân của người đó không nhất thiết được nhiều người dân địa phương chia sẻ. Những người đó có thể đến nhà hàng một hoặc hai lần vì tò mò rồi không bao giờ quay lại, vì họ chỉ thực sự muốn nước sốt salad thông thường và cái món nước sốt kia thậm chí không phải là lựa chọn của họ. Chúng ta sẽ thấy rằng, hậu quả là, doanh nghiệp như vậy có thể chủ yếu dành cho khách du lịch và không thu hút người dân địa phương, vì cầu về món đó có giới hạn. Nó không phục vụ cho bất kỳ nhu cầu thực sự nào, ngoài việc ý tưởng đó dễ thương, độc đáo hoặc khác biệt. Chúng ta có thể áp dụng bước đi này vào bất kỳ lĩnh vực nào của cuộc đời bằng cách tự hỏi: Tôi có đang áp đặt sở thích cá nhân của mình hay việc đó thực sự đáp ứng nhu cầu của những người mà tôi đang giao tiếp?
BƯỚC 4: THẨM MỸ
Hãy rà soát tất cả các kênh tri giác; với những kênh không quen thuộc với khí chất của mình, hãy bù đắp bằng cách tham khảo những người am tường trong lĩnh vực ấy.
Có nghĩa là gì? Nghiên cứu về lập trình ngôn ngữ-thần kinh (NLP) đã chứng minh rằng con người xử lý trải nghiệm cuộc sống của họ chủ yếu thông qua kênh tri giác này hay kênh tri giác khác. Một số người chủ yếu là thính giác. Một số là thị giác. Một số người thiên về cảm xúc. Tất nhiên, khứu giác và xúc giác cũng rất quan trọng.
Xin xem xét một nhà hàng rất hấp dẫn. Người phụ nữ điều hành rõ ràng là người thiên về thị giác. Khi mọi người nhìn vào nhà hàng, họ thấy cách bài trí rất đẹp. Bà ấy cũng làm được những món ăn ngon, giá cả phải chăng. Nhưng âm thanh thì quá tệ. Mọi người hầu như không thể nghe thấy rằng mình đang suy nghĩ, chứ đừng nói đến trò chuyện. Âm nhạc quá lớn, không phù hợp về phong cách và phát liên tục, không phút nào ngừng. Rõ ràng, đó là những bài bà ấy thích; nhưng, nó làm cho người khác không muốn đến đó nữa.
Nếu bạn là người có quan điểm ngược lại, nếu bạn không quá quan tâm đến hình thức của đồ vật, miễn là nó tạo cảm giác đúng, thì bạn nên nhờ một vài người chủ yếu thiên về thị giác và hỏi xem họ cảm nhận như thế nào. Chúng ta có thể nhận biết cách thức mọi người xử lý thông tin qua ngôn ngữ của họ. Những người nói: “Tôi hiểu cái đó có ý nghĩa gì. Còn bạn thì sao?” có lẽ đấy là những người xử lý thông tin bằng hình ảnh. Những người nói: “Tôi thấy cái đó không ổn. Cái đó không đúng,” rõ ràng là những người thiên về cảm xúc. Những người thiên về thính giác sẽ nó: “Tôi thấy âm thanh đó không đúng.” Chỉ cần nhận thức được những dấu hiệu này sẽ giúp chúng ta nhận ra các biện pháp xử lý thông tin.
Bạn cần đảm bảo bù đắp tất cả những phương thức cảm giác vốn không phải là sở trường của mình. Không đòi hỏi nhiều thời gian, nhiều nhất là một giờ, với một chuyên gia trong lĩnh vực đó để nắm bắt được ý tưởng. Một nhà hàng đã từ thất bại trở nên thành công chủ yếu bằng cách thay đổi nhạc nền, từ nhạc đồng quê ồn ào, sôi động sang nhạc baroque nhẹ nhàng, cách làm này đã thu hút được những khách hàng trung thành và sẵn sàng chi nhiều tiền.
Người ta muốn thư giãn trong khi ăn tối. Họ muốn có khăn trải bàn, khăn ăn bằng vải, âm nhạc phù hợp và ánh sáng thích hợp. Ánh đèn huỳnh quang sáng chói và màu sắc cơ bản có thể là tuyệt vời cho bữa ăn sáng, nhưng sẽ không thu hút được khách đến ăn tối. Mặc dù các chuỗi thức ăn nhanh dường như phủ nhận sự thật hiển nhiên này, nhưng thực tế là người ta muốn phẩm giá của mình được tôn trọng. Họ sẽ tưởng thưởng và đánh giá cao vì bạn đã tôn trọng họ hoặc cung cấp phương tiện để họ có trạng thái đó. Dù bạn có đưa ra cái gì, cũng chắc chắn rằng nó được thể hiện theo cách tốt nhất có thể, chú ý đến tất cả các giác quan và làm hài lòng càng nhiều giác quan thì càng tốt. Rất đáng để bạn bỏ thêm công sức vào việc đó.
Ngoài các giác quan đã đề cập, khá nhiều người đặt sự thoải mái ở vị trí rất cao trong danh sách ưu tiên của mình. Khách hàng tiềm năng đi ra khỏi cửa hàng chỉ vì họ không tìm được ghế ngồi. Nhiều người suy nghĩ kỹ và quyết định mua hàng chỉ khi họ đã ngồi xuống. Khách hàng đánh giá cao sự quan tâm như thế.
BƯỚC 5: THU HÚT
Dựa vào thu hút chứ không dựa vào quảng bá.
Xin nhớ rằng quảng bá bằng các hoạt động tiếp thị, quảng cáo và thuyết trình bán hàng một cách mạnh mẽ và hung hăng là hướng ra bên ngoài, tốn thời gian, tiền bạc và năng lượng. Ngược lại, thu hút không tốn thời gian, năng lượng, công sức hay tiền bạc.
Quảng bá xuất phát từ bạo lực. Quy luật của vũ trụ là bạo lực tạo ra phản lực. Thuyết phục sẽ không bị kháng cự. Càng chi nhiều tiền cho quảng bá, bạn càng phải nâng giá bán lên cao hơn. Do đó, cuối cùng bạn sẽ tạo ra mức giá trần cao và thu hẹp khoảng cách giữa sản phẩm của bạn và sản phẩm của đối thủ cạnh tranh với bạn.
Điều gì thu hút và tạo ra thành công của bạn mà không cần thời gian, năng lượng hay công sức? Danh tiếng của bạn làm được việc đó. Danh tiếng của bạn không phải là hình ảnh giả tạo mà bạn thuê công ty tiếp thị tạo ra, mà là sự chân thực thực sự của những nỗ lực của bạn, nó tỏa sáng và hiển nhiên với mọi người trong tất cả những việc bạn làm. Tên gọi hay nhãn hiệu của một số công ty làm cho chúng ta có cảm giác ấm áp vì họ đã chứng minh được qua thời gian rằng họ cung cấp sản phẩm hoặc dịch vụ tốt, đáng tin và độc đáo, cùng với dịch vụ khách hàng đáng tin và đáp ứng một cách nhanh chóng. Danh tiếng của họ là kết quả của sức mạnh đích thực mang theo năng lượng tích cực. Trong khi hầu hết các tập đoàn có điểm hiệu chỉnh ở tầng khoảng 200 (tương tự như bộ máy hành chính quan liêu của chính phủ), những công ty này có điểm hiệu chỉnh ở tầng 300, nó cho thấy sự cộng hưởng của họ với cảm xúc con người (chứ không chỉ đơn thuần là chức năng).
Sức mạnh đích thực ABC mà chúng ta lưu giữ trong tâm trí là nam châm có sức hút, và nó không hề tốn kém. Nếu bạn làm tốt công việc, mọi người sẽ tìm đến với bạn. Không có nghĩa là bạn không nên cho họ biết là bạn đang ở đó và những dịch vụ mà bạn đang có, không có nghĩa là không nên cho họ biết các chương trình khuyến mãi trong tuần này cũng như thời gian làm việc của bạn. Có một châm ngôn cũ trong kinh doanh, nói rằng khách hàng hài lòng là quảng cáo tốt nhất. Mọi người đều gật đầu và nói, “Ồ vâng, tôi biết điều đó,” nhưng sau đó họ tiếp tục phớt lờ nó.
Một nguyên tắc tốt cần ghi nhớ là hãy tự hỏi xem liệu sự cám dỗ đi vào đường tắt có đáng để mạo hiểm làm hỏng công việc kinh doanh của bạn hay không. Xin xem xét ví dụ tưởng chừng như không quan trọng về việc “cắt giảm chi phí”, bán cái “bánh rán hôm qua”. Cuối ngày, bạn vẫn còn một tá bánh rán. Ngày hôm sau, bạn đặt chúng vào tủ kính cùng với bánh rán của ngày hôm nay. Nếu thay vào đó bạn ghi “BÁNH RÁN HÔM QUA” kèm theo một tấm biển nhỏ ghi giá đã giảm, bạn sẽ bán hết và không gặp rủi ro nào cho việc kinh doanh, nếu bánh rán không hoàn toàn đạt chất lượng. Khách hàng sẽ không phàn nàn vì chúng được ghi rõ ràng là “bánh rán hôm qua”. Tuy nhiên, nếu bạn đặt chúng vào tủ trưng bày và bán như bánh rán được làm trong ngày hôm nay, bạn có thể kiếm thêm được một đôla. Nhưng khi khách hàng phàn nàn với gia đình – “Tôi không biết; có điều gì đó không ổn với những chiếc bánh rán này. Thật đáng thất vọng; không giống như mọi khi” – bạn sẽ làm hỏng danh tiếng của mình với cả một gia đình. Gia đình đó còn có bạn bè và những người thân khác.
Đừng bao giờ đi đường tắt có thể làm hại danh tiếng của bạn. Nếu bạn chỉ đơn giản cho rằng khách hàng của bạn biết chuyện gì đang xảy ra, thì bạn sẽ làm đúng. Thực tế là mọi người “chỉ biết”, mặc dù họ không thể nói ra đó là gì. Việc biện minh cho thiếu sót về chất lượng bắt nguồn từ bạo lực trong những câu, kiểu như: “Những thứ họ không biết sẽ không làm hại họ”. Điều đó đúng. “Những thứ họ không biết sẽ không làm hại họ”, nhưng chắc chắn sẽ làm hại bạn! Họ sẽ không biết điều đó một cách có ý thức; tuy nhiên, họ chắc chắn biết điều đó theo lối vô thức. Điều này đúng trong mọi lĩnh vực của cuộc đời.
BƯỚC 6: ĐÁNG TIN
Hãy nhất quán và đáng tin.
Một trong những yếu tố quan trọng nhất của thành công là mọi người biết rằng họ có thể tin tưởng bạn theo nhiều cách khác nhau. Đơn giản như thay đổi giờ làm việc, chẳng hạn như đóng cửa sớm, có thể làm cho bạn mất rất nhiều khách hàng. Họ coi trọng tiện lợi và tôn trọng thời gian của mình. Khi làm việc từ tầng chính trực trên Bản đồ Tâm thức, bạn quan tâm đến hạnh phúc của người khác. Ví dụ, ở tầng Sẵn sàng (điểm hiệu chỉnh 310), ý định của bạn là trở thành đáng tin và thân thiện trong dịch vụ trước mỗi khách hàng. Bạn đặt mình vào vị trí của họ và làm tất cả những gì có thể để làm cho trải nghiệm của họ trở thành tuyệt vời và dễ dàng nhất có thể.
Quan trọng là tránh tất cả những điều nhỏ nhặt làm cho người ta khó chịu—máy trả lời tự động hỏng, nhân viên bất lịch sự, nhiều người xếp hàng vì chỉ có một quầy thu ngân, tấm thảm bẩn, hoặc biển hiệu ĐANG NGHỈ TRƯA. Hãy tự hỏi: Doanh nghiệp của tôi sẵn sàng cung cấp những thứ cần thiết đến mức độ nào? Nhiều doanh nghiệp phá sản vì chỉ mở cửa vào các ngày làm việc và đóng cửa ngay từ 5 giờ chiều. Khi tư vấn cho các bác sĩ trẻ mới bắt đầu sự nghiệp, tôi luôn nói với họ: “Hãy bắt đầu bằng cách tính phí mà mọi người có thể chi trả được, và sẵn sàng phục vụ vào buổi tối cũng như thứ Bảy.”
Sự tiện lợi đáng giá bao nhiêu? Câu trả lời là: rất nhiều.
BƯỚC 7: CAO QUÝ
Xin nhớ rằng chỉ có một khách hàng duy nhất, và đó chính là bản chất của con người.
Bạn sẽ không thể mắc sai lầm nếu luôn ghi nhớ quy tắc cơ bản rằng bạn chỉ có một khách hàng để phục vụ, một khách hàng để làm hài lòng, và khách hàng đó chính là bản chất của con người. Cho dù khoác lên mình lớp áo của ai đi nữa, thì bên trong mỗi người vẫn là cùng một khách hàng. Hiểu khách hàng của bạn là công việc rất dễ dàng. Chỉ cần tự hỏi bạn tìm kiếm những phẩm chất nào trong một sản phẩm. Hãy lưu ý rằng từ khóa là “phẩm chất”. Không thể bán được sản phẩm, dù giá có là bao nhiêu, nếu nó không có những phẩm chất mà chúng ta đang tìm kiếm.
Trong lĩnh vực này, bạn phải để ý đến xu hướng của tâm trí con người là chiều theo những điểm yếu trong tính cách của họ. Nếu bạn chiều theo tiêu cực, có thể sẽ có lợi nhuận. Bạn có thể tồn tại khá tốt; tuy nhiên, bạn sẽ không bao giờ thực sự thành công. Không tiếp tay cho những thứ bệnh hoạn và biến thái không phải là “tốt giả tạo”; mà là sống thực tế. Bạn có thể đánh lừa được cả vũ trụ hay không? Không, cơ thể động học nói như thế. Ngay cả khi người ta không nhận thức một cách hữu thức về sự kiện, thì kiểm tra những người hoàn toàn xa lạ, không có kiếnthức gì về chủ đề này, chúng ta sẽ thấy rằng nếu họ tập trung vào điều gì đó không chính trực, thì họ sẽ yếu đi.
Mọi thứ trong vũ trụ đều được kết nối với mọi thứ khác. Khi lần đầu tiên chúng ta biết được sự thật đó, chúng ta sẽ hơi hoang tưởng trong một thời gian, nhưng đó là hoang tưởng có tác dụng trị liệu. Nếu một người nào đó sản xuất loại “búp bê mổ bụng”, hẳn sẽ có vô số kẻ quái đản ở ngoài kia sẵn sàng mua nó, trọn bộ với cả dao tự sát hari-kari, những khúc ruột như thật, tiếng thét điện tử và dòng máu nhựa rỉ ra. Và chắc chắn cũng sẽ có kẻ kiếm được lợi nhuận từ việc đó. Một người nào đó cũng có thể kiếm được lợi nhuận.
Nhưng, cái giá mà kẻ chiều theo thị hiếu đó phải trả là rất lớn. Với họ là vô hình, nhưng lại rất rõ ràng đối với những người khác. Những việc chúng ta mô tả trong hai đoạn văn bên trên không phải là bản chất con người mà là bản chất phi nhân tính. Chúng ta tự lừa dối chính mình, nếu nghĩ rằng có thể chiều theo những thứ làm người ta yếu đi mà không tự làm chính mình yếu đi. Nó đang tạo ra ô nhiễm.
Những người vi phạm các chuẩn mực nhân tính và dường như đang hưởng lợi từ điều đó, có thể nhất thời dường như là thành công. Tuy nhiên, khi nghiên cứu chi tiết cuộc đời họ trong một giai đoạn kéo dài, chúng ta sẽ thấy sự tàn phá thật đáng kinh ngạc. Chúng ta có chinh phục được một cái gì đó bằng cách chống lại nó hay không? Không. Chúng ta chinh phục nó bằng cách trưởng thành và bước ra khỏi tầm ảnh hưởng của nó. Khi nhận ra rằng điều gì đó trong cuộc đời của chúng ta phản lại sự sống, non nớt hoặc hời hợt, thì đó thực chất là sự phù phiếm được ngụy trang. Khi chúng ta phát hiện ra rằng không có tình yêu hay thiện chí ở trong đó, liệu chúng ta có nên có mặc cảm tội lỗi, tự trừng phạt chính mình, hay trở thành những nhà cải cách? Không. Thay vào đó, giải pháp là trưởng thành và trí huệ. Tâm thức của chúng ta sẽ phát triển vượt lên trên nó, đấy là khi chúng ta không khuất phục hoặc chống lại nó. Khi tâm thức mở rộng hơn và tỉnh thức hơn, chúng ta không còn thích tham gia săn bắn những con vịt trời nữa. Chúng ta chuyển sang bắn súng thể thao. Những con chim bay theo đội hình chữ V và kêu to đang tìm cách bay về phía nam để có thể sống sót và nuôi dưỡng một đàn chim mới cho mùa sau.
Một lần, khi đến thăm một thị trấn nhỏ, tôi hỏi một chủ cửa hàng địa phương: “Mọi người đâu hết rồi?”
“À,” ông ấy nói, “mùa săn sóc bắt đầu từ hôm nay.” Rõ ràng là, tất cả những con thú hoang: gấu, báo núi, nai sừng tấm, hươu, cừu, nai, lợn rừng, nhím, hải ly, cáo, trâu rừng, ngựa hoang, thiên nga, vịt, bồ câu, chim cu gáy… đã bị bọn đàn ông ở đây giết hết rồi. Giờ chỉ còn lại sóc. Sự tàn bạo khủng khiếp mà một khẩu súng trường hoặc súng săn công suất cao có thể gây ra cho một con sóc bé tí là không thể tưởng tượng nổi. Săn chim cu gáy và sóc có điểm hiệu chỉnh 65.
Cái giá phải trả cho người cố tình giết hại sinh linh để kiếm tiền hoặc thỏa mãn khoái cảm nhất thời là gì? Cái giá phải trả cho người chiều theo những điều tiêu cực ở người khác là gì? Những trường hợp được nghiên cứu trong dài hạn nói rằng cái giá phải trả là vô cùng lớn. Những người như vậy không có sức mạnh cá nhân thực sự hoặc không có sức cuốn hút. Họ không thể thay đổi tình hình chỉ bằng cách là con người mà họ đang là.
Những người xuất phát từ sức mạnh đích thực ở bên trong có khả năng thay đổi tình hình bằng sự hiện diện của họ. Chỉ riêng sự hiện diện của họ đã tạo nên tất cả khác biệt. Khi bạn có sức mạnh đích thực bên trong của mình, điều quan trọng không phải là bạn có những tài sản nào hay bạn làm gì. Mà bạn là ai. Bạn đã trở thành con người như thế nào. Sức mạnh đích thực là cực kì to lớn. Vĩ đại là tầm vóc. Tầm vóc là hiện diện. Hiện diện xuất phát từ ABC mà bạn có bên trong con người mình. Không thể mua được nó. Thậm chí không thể kiếm được nó. Nó truyền cảm hứng cho người khác những người đến để trải nghiệm những điều tốt đẹp nhất trong chính con người mình, nhờ vào sự hiện diện của sự vĩ đại này, nó khẳng định phẩm chất cao quý bên trong con người họ và nuôi dưỡng năng lực tiềm ẩn của họ. Thế giới công nhận sự hiện diện của sức mạnh đích thực bên trong chỉ đơn giản vì nó “là”.
Nelson Mandela là một ví dụ tuyệt vời. Xuất phát từ nguyên tắc cơ bản là quan tâm đến tất cả người dân Nam Phi, chứ không chỉ quan tâm tới chủng tộc của mình, đã tạo nên một tinh thần đoàn kết đủ sức mạnh để phá bỏ, bất chấp mọi khó khăn, một hệ thống phân biệt chủng tộc tàn bạo đã tồn tại từ rất lâu rồi.
BƯỚC 8: CHẤT LƯỢNG
Hãy chọn phẩm chất bạn muốn nuôi dưỡng nơi người khác, và hãy nhớ rằng điều bạn nuôi dưỡng nơi họ cũng chính là điều bạn đang nuôi dưỡng trong chính mình.
Bạn sẽ thu hút về mình những gì bạn nuôi dưỡng nơi người khác. Không thể phục vụ hai chủ. Bạn không thể trở thành người mạnh mẽ bằng cách chiều theo khía cạnh yếu ớt của con người. Bạn trở thành người mạnh mẽ bằng cách hỗ trợ sức mạnh đích thực. Bạn trở thành người năng động khi hỗ trợ sự sống động ở người khác. Bạn trở thành người vĩ đại khi hỗ trợ sự vĩ đại ở người khác. Bạn trở thành xinh đẹp khi hỗ trợ cái đẹp của cuộc đời. Nếu bạn thực sự xuất phát từ trái tim, bạn không cần phải lo lắng về thành công. Thế giới sẽ yêu thương bạn, trung thành với bạn, ủng hộ bạn và tha thứ cho mọi lỗi lầm của bạn.
Để minh họa, chúng ta có thể xem xét một tấm gương về sự vĩ đại. Mẹ Teresa (điểm hiệu chỉnh 710) là một trong những câu chuyện thành công vĩ đại nhất của thời đại chúng ta. Bà là một người phụ nữ nhỏ bé, chỉ nặng 41kg, không bao giờ chi tiền cho quảng cáo, cho chiến lược tiếp thị hay xúc tiến thương mại, cũng không có đội ngũ bán hàng, không có chuyên gia tạo dựng hình ảnh ở Madison Avenue, và không có người viết diễn văn. Thế nhưng, tất cả những gì bà cần làm chỉ là vẫy ngón tay út và bà đã huy động được hàng triệu đôla. Rất nhiều người đi theo bà. Người ta đi hàng ngàn dặm, bất kể nắng mưa, đứng trên đôi chân mệt mỏi và đau nhức hàng giờ liền, chỉ để được nhìn thấy bà.
Điều gì tạo nên ‘phép màu’ của bà? Có phải vì bà là một người nổi tiếng? Có phải vì danh tiếng của bà? Không. Đó chỉ mới là phần A→B→ C bề mặt của tất cả những chuyện này. Thực ra, người ta mong mỏi được thoáng thấy bà, hay chỉ vài khoảnh khắc ở trong sự hiện diện của bà, để có thể cảm nhận được ABC của bà. Điều họ thực sự muốn trải nghiệm chính là ‘sự hiện diện’ ấy. Không quảng cáo, không tiếp thị, không tạo dựng hình ảnh — vậy mà đã có rất nhiều cuốn sách viết về bà. Bà được nhiều người trên khắp thế giới ngưỡng mộ. Bà là Khôi nguyên Nobel và được quốc tế tôn vinh như một trong những nhân vật vĩ đại của thời đại chúng ta.
Sự vĩ đại và quyền năng của Mẹ Teresa nảy sinh vì bà hướng đến những phẩm chất cao quý nhất trong bản chất con người—yêu thương vô điều kiện và tâm từ bi không phán xét. Bà là trái tim của mọi trái tim, dù thân hình nhỏ bé, gầy guộc, lưng còng, và không có tiền bạc hay tài sản riêng cho mình. Có một danh sách chờ đợi rất dài để được gia nhập đoàn của bà. Thực vậy, người ta phải trải qua tám năm thử thách, kiểm tra và lao động phụng sự vất vả để xem liệu họ có đủ điều kiện gia nhập tổ chức của bà hay không.
Rõ ràng là, bà ở tầng của một bậc thầy. Bà vượt trội hơn tất cả mọi người. Chuyện đó xảy ra như thế nào? Từ thiện? Rất nhiều người trên thế giới là những người từ thiện. Làm việc thiện? Không. Có rất nhiều người chuyên làm việc thiện. Họ không đoạt giải Nobel. Lòng tốt của bà? Không. Trên thế giới này có rất nhiều người tốt bụng. Tại sao bà lại nổi bật hơn tất cả? Đó là vì sự nhất quán, cam kết, tận tâm và hy sinh cá nhân của bà đã đạt đến một mức độ chỉ có thể được mô tả là sùng kính. Khi một người cống hiến cả cuộc đời mình để thực hiện nguyên tắc của chân lý phổ quát, người đó trở thành có sức hút. Họ phát triển sức mạnh đích thực của luật hấp dẫn. Những gì họ có và những gì họ làm đều là thứ yếu so với con người mà họ đang là. Chính phẩm chất đó, nó là cái mà thế giới công nhận và mang đến cho họ cái mà chúng ta gọi là thành công.
Mẹ Teresa đã trân trọng điều gì ở người khác để qua đó, Mẹ hiển lộ chính điều cao cả ấy ở bản thân mình cho chúng ta thấy? Khi bà phục vụ người nghèo, người bệnh và người sắp chết trên đường phố Kolkata, bà có đang cố gắng cứu họ khỏi chết không? Bà có đang cố gắng quyên góp tiền cho người nghèo không? Không. Điều bà phục vụ và nhận ra chính là sự thật bên trong về phẩm giá, giá trị, sự cao quý, sự đáng yêu và sự vĩ đại của con người. Những phẩm chất đó vốn có trong mỗi con người, bất kể hoàn cảnh sống bên ngoài của họ có tồi tệ đến mức nào.
Bà đã thừa nhận và công nhận những điều mà chính họ chưa từng thừa nhận. Do đó, bà như một tấm gương phản chiếu cho họ. Khi nhìn vào bà, họ thấy được hình ảnh phản chiếu của những gì họ đã chối bỏ—sự vĩ đại của sự tồn tại của bản thể riêng của họ. Ngay cả những người thấp kém nhất cũng xứng đáng được tôn trọng và công nhận phẩm giá vốn có của việc chỉ đơn giản là một con người. Sẻ chia những trải nghiệm của con người là sức mạnh có tính chuyển hóa. Sau khi nhìn thấy điều này trong chính mình, sau khi chứng kiến nó, và sau khi biết được sự thật của nó bằng cách nhìn thấy hình ảnh phản chiếu trong mắt bà, họ đã chết với nụ cười trên môi trong trạng thái hạnh phúc viên mãn. Đó mới là sức mạnh đích thực.
BƯỚC 9: CHIA SẺ
Nhận ra rằng con đường dẫn tới thành công là chia sẻ nó với người khác.
Nếu không chia sẻ thành công của mình với người khác thì bạn sẽ tước đi động lực để họ ủng hộ thành công của bạn. Nếu bạn ghi nhận vai trò quan trọng của người khác trong thành công của mình, họ sẽ cùng bạn ủng hộ và ăn mừng thành công. Con đường tạo ra kẻ thù truyền kiếp là không ghi nhận người có đóng góp vào đời sống của bạn. Rất nhiều người làm như thế với vợ/chồng của họ và không thừa nhận vai trò, nguồn cảm hứng và nỗ lực của họ trong quá trình vươn tới thành công.
Nhiều doanh nghiệp có vấn đề vì chủ sở hữu từ chối chia sẻ thành công với các nhân viên, chứ đừng nói đến việc chia sẻ với khách hàng. Nhân viên được trả lương theo giờ, được thuê bởi tập đoàn ở xa và vô cảm. Chắc chắn chúng ta có cảm giác đó khi đến những nơi này. Họ không quan tâm tới chúng ta. Họ vẫn kiếm được từng đó tiền dù có tạo cho chúng ta ấn tượng hay không, và họ biết chuyện đó. Động lực không còn. Nền tảng của nỗ lực của con người đã không còn. Họ bị tước đoạt phẩm giá và giá trị như những con người. Họ là những người máy, vô cảm, chỉ làm việc một cách máy móc. Có những món ăn được chế biến như máy móc, được phục vụ bởi những con người như những cỗ máy trong một không gian cũng đầy máy móc, với vẻ thờ ơ lãnh đạm chỉ để lấy tiền. Dù về mặt danh nghĩa là rẻ, nhưng thực tế nó lại vô cùng đắt đỏ khi ta so sánh số tiền bỏ ra với những gì mình thực sự nhận lại. Các chuyên gia về hiệu quả và máy tính thực sự đắc thời, và họ đã thành công trong việc phi nhân hóa toàn bộ trải nghiệm này.
Ngược lại, khi tôi đến một siêu thị địa phương nào đó, tôi thấy những nhân viên luôn tươi cười, hết năm này qua năm khác. Khách hàng xếp hàng cũng mỉm cười và cười đùa với nhân viên thu ngân. Những khách hàng lớn tuổi ngồi ở phía trước siêu thị gần những cái bàn nhỏ, trò chuyện rôm rả, họ tổ chức buổi họp câu lạc bộ buổi chiều cùng bạn bè. Phía trên quầy của người quản lý là một bảng ghi giải thưởng. Đáng ngạc nhiên là nội dung của cái bảng này. Đó là giải thưởng thường niên dành cho “Gia đình Thân thiện”. Đây không chỉ là ghi nhận một cá nhân mà là cả một gia đình. Nó thừa nhận rằng có nhiều hơn, chứ không chỉ một người, tham gia vào thành tích của họ. Giải thưởng không dành cho nhân viên có doanh số cao nhất mà dành cho người thân thiện nhất. Thật tuyệt vời, có đúng thế không?
Mất bao lâu để trở thành người thành công? Câu trả lời là: chỉ mất đúng một giây. Ngay khi bạn quyết định “sống” theo một cách nào đó, là bạn đã đạt được điều đó rồi. Thành công thuộc về bạn ngay khi bạn nhận ra rằng nó không “ở ngoài kia”. Nó không phải là những tài sản mà bạn có. Nó thậm chí không phải là những việc bạn làm. Làm chỉ đóng góp, còn tài sản chỉ làm đẹp thêm. Chính con người mà bạn đang là tạo ra thành công. Chỉ cần quyết định sống theo một cách nào đó là đủ. Không cần bằng thạc sĩ, chứng chỉ, khóa học từ xa, bài giảng nhàm chán hay hội thảo nào hết.
Một khi bạn quyết định sống theo một cách nào đó, bạn sẽ có vai trò quan trọng và ý nghĩa mới đối với tất cả mọi người. Không phải những việc bạn làm hay nói thu hút họ mà chính là sự “hiện diện” của bạn. Việc bạn có mặt trong cuộc sống của họ hay không có mặt tạo nên khác biệt. Việc bạn có tham dự các bữa tiệc của họ hay không cũng tạo nên khác biệt. Mọi người tự hào khi được làm việc cho bạn. Họ bắt đầu coi việc quen biết bạn là vinh dự. Những phẩm chất tích cực của con người có tính lan truyền.
Điều tạo ra thành công là nguyên tắc nhất định luôn vận hành bên trong bạn 24/24 giờ, ngay cả khi bạn không cố ý thể hiện nó. Tại thời điểm đó, bạn không chỉ hướng tới trường năng lượng cao hơn trên Bản đồ Tâm thức; bạn đang sống trọn vẹn với nó.
BƯỚC 10: TỬ TẾ
Nhận ra rằng cuộc đời là một vòng phản hồi.
Cuộc đời chính là vòng phản hồi của bạn. Bạn củng cố trong chính mình những điều tương tự với những điều bạn củng cố ở người khác. Thực tế lâm sàng này có ý nghĩa vô cùng to lớn. Do đó, kết luận hiển nhiên cần rút ra là bạn nên luôn luôn hỗ trợ những điều tích cực ở người khác.
Chúng ta nói rằng một số người là người tiêu cực và những người khác là người tích cực như thể đó chỉ là sự trùng hợp ngẫu nhiên. Nhưng hoàn toàn không phải thế. Đó là minh chứng dễ thấy của thực tế lâm sàng mà chúng ta vừa nói tới. Nếu chúng ta lắng nghe các cuộc trò chuyện của mọi người, chúng ta sẽ nghe thấy một số người tham gia vào những lời đồn thổi tiêu cực, mô tả tất cả những thứ tiêu cực mà họ có thể có về cuộc đời của người khác hoặc về các sự kiện trên thế giới. Cái họ không nhận ra là họ đang củng cố những thứ tiêu đó trong chính con người mình.
Khi tôi còn rất nhỏ, bà tôi, được mọi người xung quanh mô tả là thánh thiện, thường nói: “Nếu con không có điều gì tốt đẹp để nói về ai đó, thì đừng nói gì hết.” Tôi đã trăn trở về chuyện này trong suốt nhiều năm. Chỉ sau khi có kinh nghiệm lâm sàng với tư cách là một bác sĩ tâm thần, tôi mới thấy được kết quả của những nguyên tắc này trong thực tế và bắt đầu hiểu ý của bà mình.
Đây là nguyên tắc tiếp theo: hỗ trợ sự thành công của người khác bằng những việc làm nhỏ nhặt mà bạn có thể nghĩ ra. Có nghĩa là cũng phải công nhận và thừa nhận những thành công của họ, nó có xu hướng củng cố những điều tích cực không chỉ ở họ mà còn ở chính bạn. Đó không phải là tâng bốc giả tạo mà là sự trân trọng chân thành đối với những phẩm chất tích cực của mọi người mà bạn gặp, bao gồm cả nhân viên bán hàng, người phục vụ, đồng nghiệp, thành viên gia đình, bạn bè, khách, người quen thông thường và những người bạn chỉ gặp thoáng qua. Đây là một bài học quý giá dạy bạn cách tìm kiếm những điều tích cực.
Phương pháp này giúp bạn có thái độ “cho đi” hơn là “nhận lại”. Mọi người xung quanh chúng ta đều phản ứng khác nhau một cách vô thức với những thái độ khác nhau. Mọi người đều biết, một cách hữu thức hoặc vô thức, khi một người nào đó đang cố gắng “lấy” thứ gì đó của họ. Họ cảnh giác, thận trọng và kháng cự. Nếu ngay cả động vật cũng có thể nhận ra việc này, thì chúng ta có thể chắc chắn rằng con người, vốn tiến hóa hơn hẳn, cũng nhận ra việc đó.
Nhiều người chống lại việc áp dụng thái độ cho đi vì họ có phương trình, nói rằng “cho đi là mất”. Họ không hiểu cơ chế phản hồi này; do đó, họ không cố gắng đủ lâu để khám phá ra rằng chúng ta luôn luôn nhận lại nhiều hơn những gì chúng ta cho đi. Thành công có xu hướng tự động khuếch đại chính nó. Nó giống như một quả cầu tuyết tích tụ động lực và tăng kích thước khi nó lăn xuống dốc một cách dễ dàng. Mỗi khi bạn tạo ra cảm giác tốt đẹp cho người khác, họ cảm thấy biết ơn và phát triển thái độ tích cực đối với bạn, điều này hoàn toàn thay đổi bản chất cuộc đời của của bạn.
Chúng ta nói rằng một số người dường như có cuộc đời may mắn. Chúng ta quên rằng đó là vì họ đã nỗ lực để trở thành người quyến rũ đối với người khác. Sức quyến rũ này là thái độ ở bên trong. Nó không mang tính cơ hội, không phải là thao túng, hay làm vì lợi ích. Họ không cố gắng quyến rũ chúng ta để chúng ta cho họ cái gì đó. Thay vào đó, nó phản ánh chân thực bản chất của những người đó.
Để hiểu được phẩm chất này, đừng bao giờ tạo “ân huệ” cho những người khác. Tại sao? Bởi vì làm ơn thực chất là thao túng. Đó là một cuộc mặc cả, bạn mong đợi điều gì đó được đáp lại. Nếu sau khi đã làm điều gì đó cho ai đó, mà bạn cảm thấy họ có nghĩa vụ phải đền đáp, thì bạn đã hoàn toàn bỏ lỡ điểm mấu chốt. Cho đi không hàm ý mong đợi đền đáp.
Tuyên bố bên trên vô cùng quan trọng. Chúng ta sẽ dễ dàng nhận thấy rằng điều mà hầu hết mọi người thực sự đang cố gắng làm là mua sự chấp thuận của người khác hoặc thao túng để họ mắc nợ. “Tôi đã làm việc này cho bạn; giờ là lúc bạn phải làm việc đó cho tôi.” Quan điểm mặc cả, trao đổi, thao túng này cuối cùng sẽ dẫn đến oán hận, vì vậy chúng ta thường nghe nói: “Sau tất cả những việc tôi đã làm cho anh ta.” Ai lại muốn được điều trị nha khoa “miễn phí” nếu bạn biết rằng việc đó đi kèm với kỳ vọng rằng bạn sẽ chăm sóc con chó của nha sĩ trong khi anh ta đi nghỉ?!
Khi thực sự làm điều gì đó cho người khác, là bạn làm mà không mong đợi bất kỳ đền đáp nào, kể cả được thừa nhận hay công nhận. Bạn làm điều đó vì quan tâm đến những người khác, vì bạn đang góp phần nâng cao chất lượng của cuộc đời. Đây là bí mật bên trong mà chúng ta chỉ có nhờ hiểu biết sâu sắc rằng khi chúng ta hỗ trợ sự sống, sự sống sẽ hỗ trợ lại chúng ta. Đúng là nghe có vẻ giáo điều, nhưng bạn sẽ thấy nó hoàn toàn đúng khi tự mình quan sát ở bên trong và thực chứng.
THỰC HÀNH THÀNH CÔNG MỖI NGÀY
Một việc làm đơn giản dẫn đến nhận thức này và mà bất cứ người nào quan tâm đến việc trở thành người thực sự thành công mỗi ngày là: trong khi tham gia giao thông, hãy luôn nhường người khác chen lên trước đầu xe của bạn. Nghe có vẻ hơi điên điên phải không? Nhưng nó có sức mạnh bí mật của việc trở thành một người thành công. Khi bạn thực hành kỹ thuật này, cuối cùng bạn sẽ khám phá ra niềm vui khi trở thành một người thực sự lịch sự. Lịch sự nghĩa là gì?
Nó chỉ đơn giản có nghĩa là hỗ trợ cuộc sống và hạnh phúc của người khác. Bạn sẽ chuyển từ sự thỏa mãn ngắn hạn của việc cản trở người khác sang tỉnh thức ở bên trong trong dài hạn, xuất phát từ việc hỗ trợ người khác.
Nếu bạn nhường đường cho người khác trong khi tham gia giao thông, bạn sẽ cảm thấy mình là người hào phóng. Bạn thấy người khác vẫy tay cảm ơn bạn. Cuộc sống của bạn trở nên tràn đầy lòng biết ơn, sự tử tế, và kết quả đôi bên cùng có lợi, bởi vì đó là những nguyên tắc mà bạn tuân theo và sống theo.
Thực hành tiếp theo là luôn luôn trồng cây gì đó trong văn phòng, căn hộ, nhà hoặc vườn. Đó có thể là những cây cà chua trong bệ cửa sổ, hoặc một cây bonsai, hoặc những cây xương rồng nhỏ, hoặc bất cứ thứ gì mà mọi người thích. Đó nên là việc mà bạn chịu trách nhiệm cá nhân, ngay cả khi chỉ là tưới nước cho cái cây trong chậu cây đặt ở bệ cửa sổ. Điều đáng chú ý là Nelson Mandela, ngay cả khi đang đi tù, đã trồng cà chua trong một thùng rác bỏ đi và chia sẻ thành quả lao động của mình với các cai ngục và gia đình họ.
ĐỊNH HƯỚNG LA BÀN CỦA BẠN
Khả năng thành công nằm trong mỗi người. Bất kỳ người nào trong chúng ta cũng có thể làm cho người khác cảm thấy tốt về chính họ. Khi làm như vậy, chúng ta bắt đầu cảm thấy tốt về chính mình. Nó bắt đầu lan tỏa và đưa la bàn của chúng ta theo một hướng ngày càng tích cực, trong đó thành công chỉ đơn giản là sản phẩm phụ tự động của con người mà chúng ta đã trở thành.
Công trình nghiên cứu cao cấp đã chứng minh rằng trong tất cả các sự kiện trong vũ trụ này đều có một mô thức và nguyên tắc tổ chức có thể nhận biết được. Trên thực tế, nếu không có nguyên tắc tổ chức, thì vũ trụ thậm chí sẽ không thể nào tồn tại được. Các nguyên tắc tổ chức có các tầng sức mạnh khác nhau. Giờ đây chúng ta biết một trong những bí quyết thành công của những người có sức mạnh đích thực. Toàn bộ cuộc đời họ được sắp đặt một cách tự động và phi nỗ lực, đấy là do sự hợp nhất hoàn toàn và cam kết tuyệt đối với những nguyên tắc tối cao và đầy sức mạnh. Đây chính là cách Mahatma Gandhi chiến thắng Đế quốc Anh.
Sức mạnh đích thực xuất phát việc hòa hợp với những mô thức hút chi phối hỗ trợ sự sống. Chúng ta thấy xu hướng đó trong sự duyên dáng và thân thiện của những người thực sự thành công. Họ muốn làm cho người khác cảm thấy thoải mái, giúp người khác cảm thấy thoải mái và hạnh phúc. Ngay cả sự ngây thơ, khờ khạo hay vụng về của họ cũng diễn ra trong khung cảnh duyên dáng. Gần như họ biết một cách vô thức rằng, khi nào thì vụng về lại trở thành duyên dáng nhất. Chính sự vụng về như thế lại làm cho người khác cảm thấy thoải mái. Chúng ta có thể nhớ lại những khi chúng ta đột nhiên giả vờ quên điều gì đó, hoặc bối rối, với mục đích duy nhất là để làm cho người khác cảm thấy thoải mái? Đó là điểm xuất phát tốt và đảm bảo với chúng ta rằng sự quan tâm của chúng ta dành cho người khác mang lại sự thoải mái phù hợp với nhu cầu của thời điểm đó.
Thành công không phải là điều chúng ta có được cũng không phải là điều chúng ta làm. Nó là hệ quả tự nhiên của con người mà chúng ta đang là. Cuộc đời của chúng ta và những thành tích chúng ta đạt được trên thế gian này chỉ đơn giản là kết quả của con người mà chúng ta đang là ở bên trong chúng ta và những mục đích mà chúng ta quyết định phụng sự. Sự thật này làm cho công việc của chúng ta trở nên dễ dàng.
Trong khi lái tàu, nếu chúng ta thay đổi hướng đi chỉ một độ trên la bàn, sau vài ngày lênh đênh trên biển, chúng ta sẽ cách xa hàng trăm dặm so với vị trí lẽ ra chúng ta sẽ đến nếu không thay đổi hướng đi chỉ một độ như thế; do đó, một sự thay đổi nhỏ trong thái độ bên trong có thể tạo ra hậu quả to lớn trong cuộc đời của chúng ta. Có lẽ không ai hiểu việc này hơn những người đang cai nghiện rượu hoặc ma túy.

%20(4).png)
.png)



0 Comments