https://phamnguyentruong.blogspot.com/2026/03/ban-o-tam-thuc-giang-giai-2.html
GIẢI MÃ BẢN ĐỒ TÂM THỨC
David R. Hawkins, M. D., Ph. D.
Phạm Nguyên Trường dịch
DẪN NHẬP
Vài tháng trước khi ông qua đời, trong khi đang ngồi với Tiến sĩ Hawkins tại nhà ông, tôi chỉ vào giá sách dài đầy những cuốn sách do ông viết. “Ông có cảm giác thế nào khi biết mình đã viết tất cả những cuốn sách này?” Ông nói: “Tôi không coi những cuốn sách đó là của mình. Không phải tự ngã cá nhân đã viết những cuốn sách đó. Thiên Chúa đang tìm kiếm một tâm trí không suy nghĩ. Tôi chỉ là một kênh dẫn, một không gian trống rỗng. Người ta nhìn thấy một cơ thể và một con người, và họ nghĩ rằng người đó đã viết những cuốn sách này. Nhưng không phải thế. Nó giống như một cây vĩ cầm—nó không thể tự chơi; nó phải được chơi.” Một khoảng lặng kéo dài. Và ông vừa nói vừa cười khúc khích, “Tôi đã ngừng suy nghĩ từ nhiều năm trước. Tôi không cần phải suy nghĩ. Nó giống như một cái cưa… quá ồn ào!”[1]
Tiến sĩ David R. Hawkins (“Doc”) là sự kết hợp hiếm có giữa thiên tài và khiêm tốn. Cuộc đời ông thật khác thường. Ý tôi là, ai có thể tưởng tượng một tâm trí trống rỗng, không có bất kỳ suy nghĩ nào? “Một kẻ lạc loài,” ông thích nói như thế, kèm theo một tràng cười sảng khoái. Đó là cách chơi chữ. Chúng tôi đang nói về những nhà huyền môn, và ông nói: “Đúng vậy, đó là cách người ta gọi tôi—một trong những ‘kẻ lạc loài’ đó!”[2]
Sau khi một số trải nghiệm tâm linh đã xóa bỏ bản ngã cá nhân, những chi tiết về cuộc sống cá nhân của ông không còn quan trọng nữa. “Chính Sự Hiện Diện (Presence[i]) là tất cả những gì hiện hữu trong khoảnh khắc này” là cách ông bắt đầu bài giảng kéo dài cả ngày tại Institute of Noetic Sciences trong năm 2003. Thật vậy, ông ít khi sử dụng đại từ nhân xưng, một phong cách khiến các tác phẩm của ông trở nên khác thường trong thời hiện đại, nhưng lại rất giống với cách diễn đạt của các nhà huyền môn trong quá khứ. Vì độc giả ngày nay muốn biết tác giả là ai và sự kiện nào đã dẫn đến những khám phá độc đáo trong một cuốn sách như thế này, nên sau đây là giới thiệu ngắn về tác giả và Bản đồ Tâm thức® mang thương hiệu của ông.
GIỚI THIỆU NGẮN VỀ TIẾN SĨ HAWKINS
Tiến sĩ Hawkins sinh năm 1927 ở Wisconsin và lớn lên trong giai đoạn Đại suy thoái. Gia đình ông theo Giáo hội Giám nhiệm (The Episcopal Church), và ông từng là người giúp lễ và hát trong dàn hợp xướng của thiếu nhi. Tuy nhiên, những trải nghiệm tâm linh sâu sắc của ông diễn ra bên ngoài bối cảnh tôn giáo.
Năm lên ba, khi đang ngồi trong một chiếc xe đẩy nhỏ, ông đã có nhận thức đáng kinh ngạc về tồn tại. Nhớ lại khoảnh khắc đó từ thời thơ ấu, ông kể với nhóm chúng tôi: “Cứ như thể trước đó là hoàn toàn là bóng tối, một sự lãng quên (oblivion[ii]), rồi đột nhiên những luồng ánh sáng khổng lồ bật lên. Tôi thấy mình đã trở lại trong một thân xác và tôi không vui!” Ông giải thích rằng trong những kiếp trước, ông là Phật tử Tiểu thừa mộ đạo và đi theo con đường phủ định tới Tánh Không (“Hư Vô”) [Void[iii] - Nothingness], tin rằng đó là mục tiêu tâm linh tối thượng. Nhưng không phải vậy, nếu không thì ông đã không trở lại đây trong thân xác này! Ngay lập tức, với nhận thức về tồn tại, sợ hãi về sự không tồn tại liền xuất hiện. Đó là vụ đối đầu tiền ngôn ngữ với nghịch lý của Hư Vô so với Toàn thể (Allness[iv]), một cánh cửa tâm linh cao cấp (“câu đố” là một từ khác mà ông dùng để mô tả sự đối đầu với những điều dường như là trái ngược nhau) mà ông đã không giải quyết được cho mãi tới nhiều thập kỷ sau, và giáo lý của ông về Tánh Không là một trong những đóng góp quan trọng nhất của ông cho những người tìm kiếm tâm linh. (Chương 8.)
“Với một tuổi thơ như vậy, ngay từ đầu, đây quả là một cuộc đời kỳ lạ!” Ông thường cười khúc khích trước những điều kỳ quặc trong cuộc đời mình. “Thẳng thắn mà nói, những đứa trẻ khác dường như cực kỳ nhàm chán, vì vậy tôi đã trốn vào thế giới của Plato và Socrates. Trong khi những cậu bé khác chơi bóng chày, còn tôi thì đọc Aristotle và nghe chương trình opera mỗi tuần!”[3]
Ông cũng là người rất siêng năng. Năm 12 tuổi, ông đi giao báo trên đoạn dường dài nhất (17 dặm) trong khu vực; vì hai bên đường cao tốc không có điện, mọi thứ đều tối đen như mực. Có lần một cơn bão mùa đông ập đến, nhiệt độ dưới không độ, và những cơn gió mạnh làm đổ chiếc xe đạp của ông, báo chí vương vãi khắp nơi. Như mô tả trong Chương 8, ông chui vào một đống tuyết đóng băng bên vệ đường để tránh gió. Ngay khi vừa chui vào đống tuyết, ông liền tan hòa vào Sự Hiện Diện Vô Biên của Tình Yêu. Trải nghiệm đó khó quên đến nỗi 70 năm sau, khi tôi đề nghị ông mô tả trạng thái của Tình yêu Vô biên đó, ông trả lời ngay lập tức: “Tất cả cảm xúc tiêu cực—sợ hãi, thiếu kiên nhẫn, thất vọng—đều biến mất. Thay vào đó chỉ còn lại Ánh sáng của Tình yêu Vô biên, vượt thời gian, vĩnh cửu, bao trùm tất cả, không khác gì ngoài Thực Tại (Reality[v]) của con người mà tôi đã là, con người mà tôi đang là.”[4]
So với Tình yêu Vô biên này, “Thiên Chúa” của tôn giáo giờ đây dường như không còn ý nghĩa gì đối với chàng trai trẻ David. Ở tuổi 16, ông không còn chút niềm tin nào vào tôn giáo nữa. Một ngày nọ, trong khi đang đi dạo trong rừng, nhận thức về những đau khổ của con người qua các thời đại đột nhiên ập đến, như một đám mây đen khổng lồ. Khoảnh khắc đó, ông đổ lỗi cho Thiên Chúa, cho rằng Ngài phải chịu trách nhiệm về tất cả những đau khổ trên thế gian này và ông trở thành người vô thần.
Tuy nhiên, mặc dù niềm tin tôn giáo vào Thiên Chúa đã sụp đổ, động lực bên trong vẫn không ngừng tìm kiếm sự thật của cuộc hiện sinh: “Cốt lõi bên trong tâm thức vẫn khao khát vươn tới sự thật lớn lao hơn.”[5] Vốn được sinh ra với chỉ số IQ đặc biệt cao, thông qua trí tuệ/trí năng (intellect[vi]), ông dễ dàng nắm vững những vấn đề của khoa học, thần học, y học và tâm thần học. Sau khi phục vụ trên một tàu rà phá thủy lôi của Hải quân Hoa Kỳ trong Thế chiến II, ông vừa học xong trường y trong khi cùng lúc làm ba công việc, rồi chẳng bao lâu sau trở thành trưởng khoa tâm thần, điều hành một bệnh viện lớn ở New York và công bố rất nhiều báo cáo khoa học dựa trên các nghiên cứu lâm sàng của mình. Ông đã thực hành phân tâm học trong nhiều năm với một trong những nhà phân tâm học hàng đầu lúc bấy giờ. Ông tận tuỵ tu tập Pháp môn Thiền tông, thường hành thiền một giờ vào buổi sáng và một giờ vào buổi tối. Tuy nhiên, tất cả những tìm tòi này chỉ mang lại cho ông sự tuyệt vọng sâu sắc hơn. Mặc dù đã đạt đến đỉnh cao của thành công thế tục, ông vẫn phải đối mặt với bóng tối nội tâm rộng lớn và kéo dài bất tận.
Cuộc khủng hoảng đạt đỉnh điểm vào năm 1965, khi ông tròn 38 tuổi và đang hấp hối vì một căn bệnh hiểm nghèo và ngày càng nặng thêm. Mọi nỗ lực tìm kiếm sự thật về cuộc hiện sinh thông qua trí năng đều thất bại, và ông rơi vào trạng thái đau khổ và hoàn toàn tuyệt vọng. Ngay trước khi sắp chết, một ý nghĩ chợt lóe lên trong đầu ông: Nếu có Thiên Chúa thì sao? Và với ý nghĩ đó, ông đã cầu nguyện: “Nếu có Thiên Chúa, xin Ngài hãy giúp con ngay lúc này” – và ông hoàn toàn phó thác cho “bất cứ Thiên Chúa nào nếu quả thật có Thiên Chúa như thế”, không kỳ vọng gì nhiều. Ngay lập tức ông chìm vào trạng thái lãng quên – một khoảng trống hoàn toàn của tâm thức. Phải mất 30 năm ông mới kể lại được hậu quả kinh hoàng đó: “Trạng thái ‘lãng quên’ bỗng chốc tan biến, nhường chỗ cho vẻ huy hoàng chói ngợp của Ánh Sáng Thần Tính (Light of Divinity[vii]), tỏa rạng như chính quang huy và bản thể của Toàn Thể.”[6]
Tâm thức của ông đã hoàn toàn và đột ngột biến đổi. Tâm trí và những mô thức (pattern[viii]) tư duy của nó đã vĩnh viễn biến mất, và được thay thế bởi Sự Hiện Diện, “Cái Biết (awareness[ix]) vô biên, bao trùm tất cả, rạng rỡ, hoàn chỉnh, toàn diện, im lặng và tĩnh tại.”[7] Sự tĩnh lặng an bình ở bên trong ngự trị, vì không còn hình ảnh, khái niệm hay suy nghĩ nào nữa. Trên thực tế, không còn “con người” nào để suy nghĩ; mọi sự tách biệt giữa ông và những người khác tan biến, và ông nhìn thấy cùng một vẻ đẹp hoàn hảo, vượt thời gian trong tất cả những người xung quanh: “Sự rạng rỡ tỏa ra từ khuôn mặt của mọi người; mọi người đều đẹp như nhau.”[8] Trong trạng thái phi nhị nguyên này, mỗi sinh vật “đều nhận biết được tất cả các sinh vật khác, và tất cả mọi thứ đều được kết nối và giao tiếp hài hòa thông qua nhận biết và bằng cách chia sẻ phẩm chất cơ bản của bản chất của chính tồn tại.”[9] Không có cái gì tốt hơn hay xấu hơn, cao hơn hay thấp hơn bất cứ cái gì khác. “Mọi chúng sinh hữu tình đều bình đẳng… Mọi sự vật đều vốn linh thánh ngay trong Thần tính của sự sáng tạo đã khai sinh ra chúng.”[10]
Trong cuốn Power vs. Force, Tiến sĩ Hawkins nói rằng công trình nghiên cứu Bản đồ Tâm thức “bắt đầu vào năm 1965,” ý ông muốn nói đến sự chuyển hóa trong tâm thức của chính mình. Ông có thể là người đầu tiên được đào tạo như một nhà khoa học/bác sĩ lâm sàng đã trải qua quá trình chuyển hoá được gọi theo lối kinh điển là “Chứng ngộ,” hay unio mystica—và sau đó có thể đặt bối cảnh cho sự chuyển hoá đó trong các bài giảng và những cuốn sách của mình.
Mặc dù nhiều người trong chúng ta có những khoảnh khắc thoáng qua của “dòng chảy”, niềm vui mãnh liệt, hoặc siêu việt chính mình trong những trải nghiệm đỉnh cao nhất định (khi chứng kiến một đứa trẻ chào đời, những kỳ tích thể thao, màn trình diễn trên sân khấu, công việc sáng tạo, leo núi, hoặc làm tình, chỉ xin kể một vài ví dụ) hoặc thậm chí là những chuyển hoá tâm linh làm thay đổi cuộc đời [ví dụ như trải nghiệm cận tử hoặc những thị kiến phúc lạc (beatific visions[x]), nhưng việc tâm thức của một người đột nhiên và vĩnh viễn biến đổi thành trạng thái bất nhị là vô cùng hiếm hoi. Trong quá khứ, hầu hết những người như thế hoặc rời bỏ thân xác (chết) hoặc vẫn ở trong trạng thái “sốc Thiên Chúa” (God-shock[xi]), họ không thể nói về trạng thái tan biến của bản ngã, khi mọi cảm giác về tự ngã cá nhân tan biến—giống như đường tan trong nước ấm. Như William James viết trong tác phẩm kinh điển của mình, Những trải nghiệm tôn giáo khác nhau (The Varieties of Religious Experience), trải nghiệm thần bí là “không thể diễn tả”— không thể nào mô tả được[11].
Sau lần biến đổi này của tâm thức, cuộc đời của Tiến sĩ Hawkins không bao giờ còn như trước nữa, và phải mất nhiều năm ông mới thích nghi được với những thay đổi đó. Hệ thần kinh trở nên căng thẳng, giống như “dây điện cao thế đang cháy với năng lượng điện áp cao”. Trong các tương tác xã hội, ông cảm thấy bối rối khi mọi người gọi cơ thể ông là “David”, bởi vì ông biết mình ở khắp mọi nơi và là một với vạn vật: “Một người nào đó hỏi tôi một câu và tôi tự hỏi họ đang nói chuyện với ai!” Khi nhìn vào mắt người khác, ông chỉ thấy “một Đại Ngã[xii] duy nhất… Không có bạn, tách biệt, ở đó, còn tôi, ở đây.”[12] Phúc lạc và cảm thức viên mãn trong chính mình khiến ông khó lòng khơi dậy hứng thú đối với những chức năng sinh hoạt bình thường. Những động cơ cũ như thu nhập và thành công trở nên không còn ý nghĩa gì nữa. Theo lời ông, động lực duy nhất đủ mạnh để kéo ông trở lại với thân xác và thế giới hình tướng chính là tình yêu: “Tình yêu trở thành động lực duy nhất cho sự tiếp tục tồn tại trong thân xác này.”
Mỗi lần như vậy, việc quay trở lại thân xác đều vô cùng khó khăn… Cảm thấy nhớ nhà… như thể mình đã rời khỏi ngôi nhà đích thực để thực hiện một công việc nào đó mà mình đã đồng ý. Mỗi khi tôi đi vào trạng thái ấy, không còn hình tướng nào hết. Tan hòa vào tình yêu vô biên, rực rỡ ánh vàng kim. Nó tinh diệu đến mức khiến người ta bật khóc khi phải trở lại thân xác một lần nữa. Lý do duy nhất khiến bạn có thể rời khỏi nơi ấy là vì bạn biết rằng nó tồn tại vĩnh viễn, và rằng bạn sẽ trở lại mãi mãi.[13]
Có lần, ông kể với tôi, ông ở một mình trong rừng và một trạng thái phúc lạc tràn ngập con người ông. Ông nhận thức được những con kền kền đang bay lượn xung quanh, sẵn sàng lao xuống ngay khi hơi thở cuối cùng rời khỏi cơ thể. Nhưng ông nhận ra rằng mình cũng nên ở lại trong thân xác này nếu điều đó có ích cho những người khác, bởi vì phúc lạc ấy là vĩnh cửu. Ông hoàn toàn hiến dâng thân xác này để trở thành một công cụ phục vụ thế gian, cho phép nó được nạp thêm năng lượng. Ngay khi vừa nghĩ như thế, những con kền kền kia lập tức bay đi.
Ông thích nghi từng bước một với trạng thái tâm thức mới và trở lại bệnh viện tâm thần, lúc đó đã trở thành phòng khám lớn nhất ở Hoa Kỳ. Trạng thái tâm linh mở rộng của ông đã giúp ông nhìn xa hơn những giới hạn của các phương pháp điều trị thông thường, có thể nhìn thấy bản chất con người bên trong của bệnh nhân. Ông không ngừng thử mọi phương pháp điều trị cho bệnh nhân của mình, dù những đồng nghiệp theo phương pháp truyền thống có nói gì thì cũng thế. Nhờ khả năng chữa lành kỳ diệu cho những bệnh nhân tưởng chừng như vô vọng, bác sĩ Hawkins đã xuất hiện trên các chương trình truyền hình có đông người theo dõi trong những năm 1970 và 1980. Những công trình nghiên cứu có tính tiên phong của ông trong nhiều lĩnh vực liên quan đến những đau khổ của con người đã mang lại cho ông nhiều giải thưởng trong nước và quốc tế - liệt kê trong phần Giới thiệu về tác giả ở cuối cuốn sách này.
Mặc dù đã thu được những thành công như thế, nhưng những nỗ lực “chữa từng bệnh nhân” của ông với tư cách là một bác sĩ, đối với ông, dường như chỉ là giọt nước trong biển cả: “Có một sự thất vọng vô cùng lớn khi những đau khổ của con người chỉ có thể được giải quyết ở từng bệnh nhân một. Nó giống như tát nước ra khỏi biển vậy.”[14] Ông đã cống hiến hết mình nhằm tìm ra phương pháp chuyển hóa ở bên trong, có thể giúp đỡ nhiều người hơn. Ở đây chúng ta nghĩ đến Đức Phật, sau khi Chứng ngộ đã đưa ra phương pháp tu tập gọi là Bát Chánh Đạo. Hoặc chúng ta nghĩ đến Bill Wilson - sau khi chứng nghiện rượu hiểm nghèo và vô vọng của ông được chữa khỏi nhờ luồng Ánh sáng, đã phát triển Mười Hai Bước nhằm giúp nhiều người hồi phục.
Khi bác sĩ Hawkins nghiên cứu quá trình hồi phục của bệnh nhân trong các bệnh viện của mình, ông nhận thấy rằng nó ít liên quan đến những gì ông thực sự làm hoặc kê đơn với tư cách là bác sĩ, mà liên quan nhiều hơn đến tâm thức bên trong tỏa ra tình yêu thương. Ông cũng nhận thấy rằng bệnh nhân của một số bác sĩ có xu hướng cải thiện, trong khi bệnh nhân của một số bác sĩ khác hầu hết đều xấu đi hoặc không thay đổi—ngay cả khi thuốc và phác đồ điều trị giống nhau trong tất cả các trường hợp này.
Ngày 25 tháng 4 năm 1997, trong Bài giảng Landberg[xiii] thường niên tại Trung tâm Khoa học Y tế Đại học California ở San Francisco (UCSF), ông nhắc lại một số nhận xét từ giai đoạn hành nghề lâm sàng của mình ở New York khi các bác sĩ kê đơn nhiều loại vitamin khác nhau như một phần của liệu pháp điều trị tâm thần phân liệt: “Tác dụng phụ của bệnh nhân của bác sĩ phụ thuộc vào tâm thức của bác sĩ chứ không phụ thuộc vào thuốc.”[15] Ví dụ, bệnh nhân của một bác sĩ cụ thể ở New Jersey đã có biểu hiện đổi màu da khi sử dụng vitamin B3. Tuy nhiên, bệnh nhân của các bác sĩ khác hoàn toàn không có tác dụng phụ nào và trên thực tế, đã đáp ứng tốt với phác đồ điều trị này. Bí quyết của những bác sĩ thành công là gì? Ông nhận thấy rằng hiệu quả chữa bệnh có liên quan đến tầng tâm thức của họ. Tầng tâm thức của bác sĩ càng cao, bệnh nhân càng có nhiều khả năng được chữa lành. Điều này sẽ có ý nghĩa đối với những người có khuynh hướng tâm linh. Nhưng làm sao trình bày điều đó cho xã hội vốn quen với tư duy duy lý, tuyến tính? Làm sao chứng minh được rằng chính tâm thức bên trong, chứ không phải hành động bên ngoài, quyết định kết quả?
Những khám phá nội tâm
Chỉ vào chính mình, vừa cười vừa kể lại, Tiến sĩ Hawkins nói: “Tôi luôn là một kẻ lạc loài và một thực thể kỳ lạ trên hành tinh này! Đột nhiên, không báo trước, tầng tâm thức thăng lên và tôi bị choáng ngợp đến mức mất khả năng hoạt động. Đó là lý do vì sao tôi phải rời phòng khám tâm thần ở New York. Chỉ đơn giản là bỏ đi, bởi vì trong sự tĩnh lặng sâu sắc ở bên trong, bạn không thể nói gì với bất cứ người nào. Bạn chất những dụng cụ yêu thích của mình lên chiếc xe tải cũ và lái đến một thị trấn nhỏ ở Arizona. Bạn có một chiếc giường xếp, một miếng pho mát, một cây nến và một con mèo—bạn còn cần gì nữa? Mọi người đều nghĩ, anh ta bị mất trí rồi. Vì vậy, khi tất cả bạn bè của bạn nghĩ rằng bạn bị mất trí, có lẽ bạn đang ở trong trạng thái tốt!”[16]
Ông đã rời khỏi phòng khám lớn và cuộc sống với hàng triệu đôla ở New York và chuyển đến Sedona, một thị trấn nhỏ ở Arizona. Trong suốt nhiều năm trời, ông sống cuộc đời ẩn dật, tách biệt khỏi thế gian. Giai đoạn này rất quan trọng vì nó cho ông không gian để khám phá bản chất của tâm thức từ trong ra ngoài. Từ những nhận thức chủ quan này xuất hiện những khám phá làm nền tảng cho Bản đồ Tâm thức và toàn bộ những tác phẩm sau này của ông, được gọi là Bất nhị Sùng kính (Devotional Nonduality[xiv]). Như ông viết trong cuốn Power vs. Force: “Mặc dù những sự thật được trình bày trong cuốn sách này được rút ra theo lối khoa học và sắp xếp một cách khách quan, nhưng giống như tất cả những sự thật khác, chúng trước hết được trải nghiệm theo lối cá nhân”[17]
Điều này đúng với tất cả các bậc thầy và những người tiên phong vĩ đại trong lĩnh vực tâm thức, có phải thế không? Trong lịch sử gần đây, chúng ta nghĩ đến nhà tâm thần học nổi tiếng người Thụy Sĩ, C. G. Jung. Sau khi đoạn tuyệt với Sigmund Freud, ông đã dành nhiều năm sống tách biệt với thế gian, để khám phá chiều sâu nội tâm của chính mình, từ đó ông đã viết ra những công trình nghiên cứu mang đến cho thế giới kiến thức về bóng tối” (shadow[xv]), nguyên mẫu (archetypes[xvi]), vô thức tập thể (collective unconscious[xvii]), phức cảm (complexes[xviii]) (ví dụ, mặc cảm tự ti), và giải mã giấc mơ. Jung nói rằng toàn bộ công việc của cả đời ông bắt nguồn từ những năm tháng khảo sát nội tâm như thế.
Trong những năm tháng sống “ẩn dật”, Tiến sĩ Hawkins, thường ở trong trạng thái vô hình tướng, thậm chí quên mất rằng mình có thân xác. Ông kể câu chuyện hài hước về việc ông đã bị sốc như thế nào khi “tánh linh” (spirit[xix]) của ông tự do đi lại khắp nhà, đi xuyên qua các bức tường, và rồi đột nhiên thân thể ông đập vào tường! Và một lần khác, ông thoáng thấy một “người” trong gương, ngạc nhiên khi thấy có người khác trong nhà—rồi nhận ra đó không ai khác ngoài chính mình! Mục tiêu của ông trong khi khám phá các trạng thái tâm thức là để hoàn thiện các cơ chế chữa lành bên trong chính tâm thức và để “hoàn thiện” chính mình như là một công cụ. Ví dụ, ông phát hiện ra rằng “cơ thể có xu hướng tuân theo tâm trí”, và ông đã có thể chữa lành cơ thể của mình khỏi nhiều loại bệnh nghiêm trọng thông qua phương pháp tâm thức được mô tả trong Chương 4. Ông viết thư cho người bạn nổi tiếng và đồng tác giả trong lĩnh vực khoa học, nhà hóa học đoạt giải Nobel và nhà kiến tạo hoà bình Linus Pauling, thể hiện thái độ phấn khởi về những khám phá trong “tâm thức não phải” và “chữa lành 15 loại bệnh khác nhau” bên trong chính mình[18].
Tiến sĩ Hawkins được thúc đẩy bởi câu hỏi: Đâu là mắt xích còn thiếu giữa cơ thể và tâm trí, giữa cái nhìn thấy được và cái không nhìn thấy được?
Bước đột phá
Khám phá này quan trọng đến mức, trong những năm 1970, khi ông chứng kiến Bác sĩ tâm thần John Diamond trình diễn phương pháp cơ thể động học hành vi (behavioral kinesiology[xx]) nghĩa là, sử dụng phản ứng kiểm tra cơ bắp để đánh giá tác động khác nhau của các kích thích tích cực và tiêu cực lên cơ thể. Trong một phương pháp được sử dụng rộng rãi, bệnh nhân giơ một cánh tay theo chiều ngang, trong khi bác sĩ nhẹ nhàng ấn cổ tay xuống. Cánh tay của bệnh nhân (cơ delta) không nhúc nhích khi tiếp xúc với sự thật và các kích thích tích cực, nhưng cánh tay ngay lập tức hạ xuống khi có mặt những thứ không phải là sự thật hoặc tiêu cực. Ví dụ, trong nghiên cứu của Bác sĩ Diamond, một nụ cười khiến mọi người trở nên mạnh mẽ, cũng như nhạc cổ điển và những tuyên bố trung thực; nghĩa là, cơ delta vẫn mạnh và cánh tay của họ vẫn nằm ngang. Các kích thích tiêu cực, chẳng hạn như “Tôi ghét anh,” hoặc các bản ghi âm về các chính trị gia thực hiện một hành vi lừa dối mà mọi người đều biết, làm cho mọi người đều yếu đi; cơ delta của họ ngay lập tức yếu đi và cánh tay của họ hạ xuống. “Cơ thể không biết nói dối,” Bác sĩ Diamond kết luận.
Không giống như các bác sĩ khác: coi cơ thể động học là hiện tượng cục bộ, Tiến sĩ Hawkins nhìn nhận nó qua lăng kính nhận thức mở rộng của chính ông về liên kết của chính tâm thức. “Bản đồ Tâm thức ra đời vì tôi đang chứng kiến lớp học về cơ thể động học và giải thích được đưa ra cho phản ứng cơ thể động học là nhân quả có tính cục bộ. Thông qua những trải nghiệm nội tâm của riêng mình, tôi đã vượt xa nhân quả cục bộ như là cách giải thích cho các hiện tượng, và tôi thấy đó là phản ứng của chính tâm thức, vốn phi định xứ và phi cá nhân.”[19]
Tiến sĩ Hawkins gọi là “cơ sở dữ liệu của tâm thức” (database of consciousness[xxi]), coi nguồn gốc của kiến thức này vượt ra ngoài thời gian và không gian. Jung gọi nó là “vô thức tập thể”. Ai chưa từng trải nghiệm việc đột nhiên tiếp cận cơ sở dữ liệu này thông qua trực giác, đồng nhịp (synchronicity[xxii]), giấc mơ hoặc điềm báo? Rõ ràng là có một kho lưu trữ kiến thức mà mọi người cùng chia sẻ, một phần không thể thiếu của tâm thức liên kết của chúng ta, khác với thông tin mà chúng ta thu thập được thông qua nghiên cứu thuần trí năng. Làm sao mà con chó biết khi nào chủ của nó rời khỏi nơi làm việc? Đoạn video cho thấy con chó đến cửa đúng vào lúc chủ của nó bắt đầu đi về nhà, từ cách đó mấy dặm[xxiii]. Xin đưa ra ví dụ từ kinh nghiệm gần đây: Làm sao mà ông nội đã khuất của một người lại hiện ra trong giấc mơ để nói rằng một người thân bị ung thư vòm họng, và điều đó hóa ra là thật đến từng chi tiết nhỏ nhất, từ vị trí, giai đoạn bệnh cho đến phản ứng của người thân?
Tiến sĩ Hawkins lập tức nhận ra rằng cơ thể động học là cơ chế giúp truy cập vào cơ sở dữ liệu không nhìn thấy được của tâm thức, “hé lộ mắt xích và cầu nối còn thiếu giữa tâm trí và cơ thể”; đó là giao diện giữa chiều kích hữu hình của thế giới vật chất và chiều kích vô hình (nhưng rất thực) của tâm trí và tâm linh, cơ thể con người đóng vai trò là công cụ phát hiện sự thật. Nó hoạt động như thế nào? Bởi vì nguyên sinh chất luôn luôn phân biệt giữa các kích thích khẳng định sự sống và các kích thích đe dọa sự sống như là vấn đề sống còn. Cơ thể hướng mạnh về phía những gì hỗ trợ đời sống (sự thật) và tránh xa những gì phủ nhận đời sống (không phải sự thật). Phản ứng cơ bắp diễn ra một cách tự động, không phụ thuộc vào niềm tin hay định kiến của người đó.
Ví dụ, khi tâm thức của chúng ta tập trung vào một chủ đề lành mạnh, ví dụ như Mẹ Teresa, đồng tử của chúng ta co lại, và các cơ khác ngay lập tức và tự động trở nên mạnh mẽ; chúng ta không thể kiểm soát được sự kiện này, và cảm xúc cá nhân của chúng ta về Mẹ là không quan trọng. Một trong những đồng nghiệp của Tiến sĩ Hawkins, Tiến sĩ David McClelland, đã thực hiện công trình nghiên cứu hết sức thú vị với các sinh viên y khoa của ông ở Harvard, và phát hiện được rằng ngay cả những người từng chế giễu Mẹ Teresa cũng xuất hiện phản ứng sinh lý giúp tăng cường miễn dịch khi xem bộ phim khắc họa công việc hằng ngày của bà với những người nghèo khổ[20].
Tiến sĩ Hawkins phát hiện được rằng “vạn vật trên thế gian, trong đó có suy nghĩ, khái niệm, vật chất và hình ảnh, đều tạo ra phản ứng có thể được chứng minh là tích cực hoặc tiêu cực… Tất cả những gì đang tồn tại hoặc đã tồn tại, không có ngoại lệ, đều phát ra một tần số và một rung động như một dấu ấn vĩnh viễn trong trường tâm thức phi cá nhân và có thể được truy xuất bằng phương pháp kiểm tra này thông qua chính tâm thức.”[21]
Nhận thấy rằng những đau khổ của thế gian bắt nguồn từ vô minh, do thiếu phương tiện phân biệt thật giả, ông đã dồn toàn bộ năng lượng của mình vào nghiên cứu phương pháp cơ thể động học lâm sàng, coi đó là công cụ để phân biệt sự thật. Ông đã tiến hành quy trình kiểm tra cơ bắp trên hàng nghìn đối tượng, cả cá nhân và theo nhóm, gồm những người ở mọi lứa tuổi và mọi hoàn cảnh. Kết quả đều giống nhau. Một trong những màn trình diễn được yêu thích nhất trong các bài giảng cho 1.000 người là phát ra 500 phong bì không nhãn mác, chứa đường hoá học, cùng với 500 phong bì giống hệt như thế, nhưng chứa vitamin C hữu cơ. Cử toạ được chia thành từng cặp để kiểm tra, mà không biết bên trong có gì. Đó là một khoảnh khắc đầy phấn khích, khi các phong bì được mở ra và cử toạ nhận ra rằng tất cả mọi người đều phản ứng mạnh với vitamin C hữu cơ và phản ứng yếu với đường hoá học.
Trải nghiệm thực tế với phương pháp này là cực kì hữu ích. Bởi vì, phương pháp kiểm tra này là phi tuyến tính, bỏ qua tâm trí, cho nên một người bình thường nhìn từ bên ngoài sẽ dễ dàng tỏ ra nghi ngờ. Nhưng nếu, bằng trải nghiệm, cánh tay của họ yếu đi khi giữ trong tâm trí năng lượng của một phong bì dán kín (ví dụ, ảnh Hitler ở bên trong) và mạnh lên với một phong bì dán kín khác (ví dụ, ảnh Mẹ Teresa ở bên trong), và việc này được thực hiện trong nhiều lần kiểm tra tiếp theo với các vật phẩm khác nhau, thì người đó sẽ biết thông qua trải nghiệm rằng phương pháp này “có hiệu quả” ngay cả khi họ không hiểu cơ chế hoạt động của nó. Thật vậy, có rất nhiều thứ chúng ta sử dụng trong cuộc sống hàng ngày, hoàn toàn tin tưởng chúng chỉ vì chúng “có hiệu quả” mà hoàn toàn không biết theo lối trí năng về cơ chế hoạt động của chúng; ví dụ, người nào trong chúng ta hoàn toàn hiểu cách thức hoạt động của Internet, vậy mà chúng ta lại liên tục dựa vào nó như người hướng dẫn?
Tiến sĩ Hawkins phát hiện được rằng ông có thể sử dụng phương pháp này để hiệu chỉnh các tầng tâm thức, như mô tả trong Chương 1. Do đó, ông đã trao cho chúng ta một “bản đồ” cho thấy toàn bộ phạm vi trải nghiệm của con người. Bằng tất cả nỗ lực của mình, với tư cách là một bác sĩ tâm thần, bác sĩ đa khoa, bác sĩ lâm sàng, nhà nghiên cứu tâm thức, người yêu động vật và đạo sư tâm linh, mục tiêu của Tiến sĩ Hawkins luôn luôn là làm giảm bớt khổ đau của con người. Khi được hỏi định nghĩa của ông về “chức năng trên thế gian này”, ông trả lời: “Là chính con người mà tôi đang là đối với thế gian và giải thích điều đó một cách rõ ràng nhất có thể để tạo điều kiện cho nhận thức tâm linh và do đó góp phần làm giảm bớt đau khổ của nhân loại.”[22] Bản đồ Tâm thức xuất hiện như một công cụ giảng dạy chính để tạo điều kiện cho nhận thức tâm linh và do đó làm giảm bớt khổ đau.
Ông nói rằng mục đích của tác phẩm là để hiểu được sự chuyển đổi đột ngột của tâm thức mà ông đã trải qua, được gọi theo lối kinh điển là Chứng ngộ, để tích hợp nó với khám phá khoa học, và sau đó đưa nó vào định dạng dễ hiểu đối với bán cầu não trái của độc giả phương Tây. Ông nói, “Đó là lĩnh vực của nhà huyền môn được truyền đạt đến bán cầu não trái.”[23]
Tóm lại, Bản đồ Tâm thức trình bày toàn bộ phổ tâm thức, từ các tầng “thấp hơn” như Nhục nhã, Mặc cảm tội lỗi, Thờ ơ, U sầu, Sợ hãi, Ham muốn, Tức giận, Kiêu hãnh (tức là các tầng của Bạo lực/Cưỡng ép (Force[xxiv]), đến các tầng trung bình như Can đảm, Sẵn sàng, Chấp nhận, Lý trí (tức là các tầng bị chi phối bởi Sức mạnh đích thực (Power[xxv]), đến các tầng cao hơn như Tình yêu, Yêu thương vô điều kiện/Niềm vui/Chữa lành, Mê ly, An bình và Chứng ngộ. Những trường năng lượng “cao hơn” này là sóng tải đem theo năng lượng sống vô cùng to lớn. Các tầng này ngày càng thoát khỏi các mục tiêu cá nhân và là lĩnh vực của các vị Thánh, các nhà huyền môn, các vị La Hán và các Thánh Thần Giáng Thế.
Lưu ý: Các thuật ngữ “cao hơn” và “thấp hơn” chỉ là cách gọi thuận tiện cho tư duy tuyến tính của tâm trí, và không phản ánh thực tại như chính nó vốn là. Trong Thực tại, không có cái gọi là cao hơn hay thấp hơn, vì tất cả sự sống, do bản chất của nó, đều phục vụ cho toàn thể. Cây cao có tốt hơn cây thấp hay không? Con mèo có tốt hơn con sóc hay không? Như Tiến sĩ Hawkins từng viết: “Mọi thứ đều tiết lộ phép màu của tồn tại và do đó, mọi thứ, không có ngoại lệ, nhờ vào sự tồn tại của nó, đều bình đẳng với mọi thứ khác.”[24]
Kết hôn với Susan: Chia sẻ Bản đồ với Thế giới
Sau khi Tiến sĩ Hawkins xây dựng được Bản đồ Tâm thức, ông không biết chắc mình phải làm gì với nó. Ông chia sẻ nó với các cộng đồng hồi phục khỏi tình trạng nghiện ngập ở địa phương. (Ở New York, ông là bạn thân của Bill Wilson, người đồng sáng lập Hội Người Nghiện Rượu Ẩn Danh.) Nhưng ngoài đó ra, ông cảm thấy do dự, không muốn thảo luận về nó, vì ông tin rằng bất kỳ người nào cũng có thể sử dụng phương pháp kiểm tra cơ bắp để tìm ra sự thật về bất cứ điều gì, và chuyện gì sẽ xảy ra nếu nó bị lạm dụng cho những mục đích xấu xa? (Sau nhiều năm nghiên cứu, ông phát hiện được rằng chỉ người có tính chính trực mới được phép tiếp cận sự thật. Phụ lục A mô ta chi tiết phương pháp kiểm tra này.)
Quá trình cộng tác đầy may mắn với người vợ, Susan J. Hawkins, đã tạo điều kiện các phát hiện của ông được công bố và trạng thái nội tâm của ông được chia sẻ qua các cuốn sách và các buổi thuyết trình. Ông thường nói: “Bà ấy là điểm tựa,” và ông không bao giờ lên sân khấu mà vắng bà. Khả năng tổ chức của bà, cùng với trực giác nhạy bén và diễn đạt chân thành, đã tạo điều kiện cho việc kết nối giữa kiến thức bên trong của ông với thế giới. Khi tôi hỏi Susan cảm giác như thế nào khi kết hôn với ông và sau đó chia sẻ ông với hàng ngàn người khác từ khắp nơi trên thế giới, bà nói: “Rất đơn giản. Khi bạn yêu ai đó, bạn ủng hộ số phận của người đó. Tôi yêu chồng mình. Có nghĩa là tôi phải chia sẻ ông ấy với thế giới.”[25] Chính nhờ sự tận tâm và khả năng của bà mà chúng ta có được toàn bộ tác phẩm của ông. Tôi đã nhiều lần chứng kiến, trong những cuộc trò chuyện tại nhà họ, sự khích lệ của bà chính là điểm tựa giúp ông có thêm năng lượng để viết thêm một cuốn sách, có thêm một bài giảng, tổ chức thêm một buổi satsang (pháp hội tỉnh thức).
Cùng với thời gian, nhiều người từ những vùng xa xôi đã đến tham dự các bài giảng của ông và được ở bên ông, họ nói rằng hào quang của ông có tác dụng như chất xúc tác, có tác dụng chữa lành đối với họ. Ông luôn khẳng định rằng những gì người khác nhìn thấy ở ông thực chất chính là Đại ngã chân thật (Chân Ngã – true Self[xxvi]) của họ được phản chiếu lại mà thôi. Ông thường nói: “Đại ngã của sư phụ và Đại ngã của đệ tử là một và như nhau.” Mọi người ở mọi lứa tuổi, mọi tầng lớp xã hội, đến từ mọi châu lục. Bản chất, Chân ngã của mỗi người, đều được đón nhận một cách trọn vẹn. Như một người từng mô tả: “Sau cả đời tìm kiếm, cuối cùng linh hồn (soul[xxvii]) tôi cảm thấy như đã về nhà.” Theo kinh nghiệm của tôi: chính trong sự hiện diện của ông mà “chú vịt xấu xí” được nhận ra là “thiên nga” (ám chỉ câu chuyện thiếu nhi nổi tiếng- ND). Và sự phản chiếu linh hồn này tạo nên tất cả sự khác biệt trong cuộc đời một con người—nhận ra sự thật về con người mà chúng ta đang là.
Ông nói rằng những gì ông dạy không khác gì những nguyên tắc cốt lõi của các tôn giáo trên thế giới—yêu thương vô điều kiện, tâm từ bi, khiêm nhường và tử tế với tất cả chúng sinh: “Hãy hiến dâng cuộc đời bạn và nâng toàn thể nhân lên loại bằng cách luôn tử tế, ân cần, tha thứ và từ bi mọi lúc, mọi nơi, và trong mọi hoàn cảnh, với mọi người cũng như với chính bạn. Đó là món quà lớn nhất mà bất cứ người nào cũng có thể trao tặng.”[26]
Năm 1995, nhà xuất bản của gia đình Hawkins, Veritas Publishing (Sedona, Arizona), in những cuốn đầu tiên tác phẩm Power vs. Force, cuốn sách mang tính đột phá đầu tiên giới thiệu Bản đồ Tâm thức ra thế giới. Ảnh hưởng của nó rất sâu sắc. Cuối cùng, cuốn sách cũng được nhà xuất bản Hay House phát hành, và đã tiếp cận được hơn một triệu người đọc bằng hơn 25 ngôn ngữ. Tôi tự coi mình là một trong số rất nhiều người, nhờ cuốn sách đó và việc tìm thấy Bản đồ, đã làm cho cuộc đời mình hoàn toàn thay đổi.
Ông để lại 16 cuốn sách và hơn 100 bài giảng được ghi âm, cũng như vô số bài báo và những cuộc trả lời phỏng vấn. Tất cả đều xuất hiện vào những năm cuối đời, khi hầu hết mọi người đang tận hưởng giai đoạn nghỉ hưu và “thư giãn”. Từ năm 68 tuổi đến 84 tuổi, ông đã đi khắp nơi và làm việc không ngừng nghỉ cho đến tận cuối đời. Trong năm cuối đời, tôi đã cùng ông hoàn thành ấn bản sửa đổi chính thức của tác giả về cuốn Power vs. Force (2012, tái bản 2013) và Letting Go (2012). Có những ngày tôi đến nhà ông để làm việc, ông mệt mỏi hoặc không khỏe, nhưng chỉ cần vài tách espresso và một câu chuyện cười để chúng tôi cùng cười là chúng tôi lại tiếp tục làm việc không nghỉ hàng mấy giờ liền. Tôi đã tận mắt chứng kiến sự tận tâm không mệt mỏi của ông trong việc hoàn thành sứ mệnh của mình và giúp đỡ đồng loại.
Trong vai trò là giáo sư đại học, tôi thường đưa sách của ông vào chương trình giảng dạy cho sinh viên. Thú vị là sinh viên nhận thấy điều gì đó trong sách của ông mà họ không nhận thấy ở bất kỳ cuốn sách nào khác: “Ông ấy diễn đạt chính xác những gì tôi biết là đúng, chỉ là tôi không biết cách diễn đạt mà thôi.” Tiến sĩ Hawkins, trong Lời tựa cho cuốn Power vs. Force, khẳng định rằng ông chỉ đơn thuần nói ra những gì chúng ta đã biết một cách sâu sắc ở bên trong: “Cuốn sách này sẽ thành công nếu đến cuối cùng bạn thốt lên, ‘Tôi luôn biết điều đó mà!’ Những gì chứa đựng ở đây chỉ là sự phản ánh của những gì bạn đã biết, nhưng không biết rằng bạn biết. Tất cả những gì tôi hy vọng làm được ở đây là kết nối các điểm để bức tranh bị che giấu hiện ra.”
Ông chưa bao giờ tuyên bố đã khám phá ra mật mã bí mật hay đã khai quật được một bí ẩn thần bí đặc biệt nào đó “từ những sợi lông mũi của con lạc đà” (như ông thường nói đùa). Như bạn sẽ đọc trong Chương 8, ông chỉ đơn giản nhắc nhở chúng ta về “tính phổ quát” của Sự thật là nó “đúng ở mọi thời điểm và mọi nơi, không phụ thuộc vào văn hóa, tính cách hay hoàn cảnh,” và ông đã cho chúng ta một Bản đồ để tìm ra nó. Vượt lên trên việc soi sáng những theo đuổi thông thường của con người như sức khỏe, nghệ thuật, sinh kế, các mối quan hệ và chính trị, Bản đồ này còn đưa ra một trong những sự phân định hiện đại đầu tiên về các tầng cao nhất của tâm thức con người Kiến chân tính (Self-realization[xxviii]), Tính Không (Void), Hư vô (Nothingness) đối lập với Toàn thể, Chứng ngộ hoàn toàn (Full Enlightenment[xxix]), cùng những hiện tượng khác biệt tương ứng của chúng. Bài tự truyện ở phần cuối sách là minh chứng cho tầng tâm thức cao của tác giả. Tiến sĩ Hawkins mô tả các tầng Chứng ngộ với sự minh bạch cho thấy chúng đã được trực nhận qua trải nghiệm. Suy cho cùng, chúng ta không thể vẽ bản đồ dẫn tới nơi mà chính mình chưa từng đặt chân tới.
Swami Chidatmananda, một bậc thầy Vedanta được kính trọng nhất của Ấn Độ, đã nói với tôi rằng các cuốn sách của Tiến sĩ Hawkins về cơ bản chứa đựng cùng một chân lý vĩnh cửu như các cuốn kinh Áo Nghĩa Thư (Upanishad - Vedanta), nhưng được viết bằng ngôn ngữ hiện đại của chúng ta: “Không có sự khác biệt giữa những gì ông đã trải nghiệm và thảo luận, và những gì đã được các Đại Giác Giả và các vị Thánh vĩ đại nhất của Ấn Độ từng nói.”[27]
VỀ CUỐN SÁCH NÀY
Trước khi Tiến sĩ Hawkins qua đời năm 2012, tôi đã đề nghị ông và Susan kiểm tra cơ bắp danh sách các dự án tương lai, xem có nên thực hiện hay không. Trong danh sách đó có một cuốn “sách nhập môn” về công trình của ông, và câu trả lời là có. Cuốn sách bạn đang cầm trên tay chính là hiện thực hóa ý định đó.
Đây là một cuốn sách độc đáo trong toàn bộ các tác phẩm của ông vì nó mang đến cho người đọc cái nhìn tổng quan về những lời dạy của ông về nhiều chủ đề: giải thích Bản đồ Tâm thức, liên hệ của chúng ta với động vật, quá trình tiến hóa của tâm thức, phát triển cá nhân, khả năng lãnh đạo đã khai sáng, chữa lành cơ thể, kinh doanh thành công, hồi phục sau nghiện ngập, siêu việt rào cản của bản ngã, trạng thái tâm linh cao cấp, và nhiều chủ đề khác nữa.
Khác với những cuốn sách khác của ông, cuốn này cung cấp cho người đọc nhiều phong cách giao tiếp khác nhau của ông: các tác phẩm được xuất bản chính thức, những cuộc chuyện trò và bài giảng trực tiếp. Nội dung được rút ra từ tất cả các cuốn sách của ông, từ một số bài giảng và một số cuộc trò chuyện không chính thức. Biên tập là nhằm để tạo điều kiện thuận lợi cho người đọc hiểu và rút gọn thành một cuốn sách nhập môn. Cuốn sách này là lời giới thiệu vững chắc về toàn bộ công trình nghiên cứu của Hawkins dành cho độc giả mới tiếp cận với ông và là bản tóm tắt bổ ích cho những người đã nghiên cứu trong nhiều năm. Tất cả các lần hiệu chỉnh được đưa vào trong cuốn sách này đều do Tiến sĩ Hawkins và Susan Hawkins thực hiện trước khi ông qua đời vào năm 2012. Hiệu chỉnh (Calibration) là thuật ngữ mà Tiến sĩ Hawkins sử dụng để chỉ việc ông sử dụng phương pháp cơ thể động học để xác minh tầng tâm thức (tức là trường năng lượng) của một thứ gì đó trên Bản đồ Tâm thức của ông.
Các chương trong cuốn sách nhằm bổ sung cho tuyển tập các bài giảng trực tiếp của Tiến sĩ Hawkins cũng có tựa đề Bản đồ tâm thức giảng giải (The Map of Consciousness Explained, Hay House 2019), với các biểu đồ được đưa vào đây để người nghe có thể thấy những gì ông đang nói tới trong băng ghi âm. Tài liệu tham khảo không được đưa vào cuốn sách này. Thay vào đó, các nguồn tư liệu cho từng chương được trình bày trong phần tư liệu ở cuối sách; độc giả quan tâm có thể tiếp tục tra cứu các tác phẩm này để tìm danh mục thư mục phong phú của Tiến sĩ Hawkins. Các câu hỏi thảo luận cho nhóm học tập và bảng Thuật ngữ cũng được đặt ở phần sau của sách.
Mỗi phần trong cuốn sách này—Nền tảng, Ứng dụng thực tiễn, và Thăng tiến tâm thức—đều được mở đầu bằng một bình luận ngắn của biên tập viên, cùng với một câu chuyện ngắn rút ra từ kinh nghiệm lâm sàng của Tiến sĩ Hawkins. Phần Nền tảng trình bày những hàm ý của Bản đồ Tâm thức: Bản đồ này xuất hiện như thế nào? Cơ sở khoa học của là gì? Các tầng tâm thức và trường năng lượng là gì? Làm sau hiệu chỉnh các tầng tâm thức? Tâm thức đã tiến hóa như thế nào qua hàng thiên niên kỷ? Đây là một số câu hỏi được trả lời trong phần đầu tiên.
Phần Ứng dụng thực tiễn trình bày cách thức áp dụng Bản đồ Tâm thức vào cuộc sống hàng ngày. Tiến sĩ Hawkins cung cấp cho chúng ta các bước dễ hiểu để giải quyết các vấn đề cơ bản của con người, chẳng hạn như sức khỏe, thành công trong các nỗ lực của cuộc sống và vượt qua nghiện ngập. Về bản chất, nghiện là việc tìm kiếm hạnh phúc bên ngoài con người mình. Mặc dù Chương 6 đề cập rõ ràng đến nghiện một chất nào đó, nhưng các nguyên tắc có thể được áp dụng cho bất kỳ sự cưỡng chế hoặc mô hình nghiện ngập nào khác. Quá trình hồi cai nghiện đặc biệt quan trọng, đấy là do mức độ gia tăng đáng báo động về số ca tử vong do ma túy và rượu gây ra trong xã hội hiện nay. Tiến sĩ Hawkins liên hệ Bản đồ Tâm thức với chương trình Mười Hai Bước rất hữu ích cho việc cai nghiện và các bối cảnh khác. Đáng chú ý là, Tiến sĩ Hawkins khuyến khích các đệ tử tâm linh của mình tuân theo Mười Hai Truyền thống của A.A. khi gặp gỡ nhau trong các nhóm học tập, vì các hướng dẫn về tính ẩn danh và phục vụ làm giảm xu hướng của các nhóm tâm linh trong việc biến một người nào đó thành một “sư phụ” cụ thể.
Trong phần thứ ba, Thăng tiến tâm thức, Tiến sĩ Hawkins trình bày những đặc điểm của các đạo sư và chính giáo một cách cực kì rõ ràng. Cho đến nay, nhân loại vẫn thiếu một tiêu chuẩn vàng nhằm kiểm tra độ tin cậy của các đạo sư tâm linh. Vô số người tìm kiếm chân thành đã chết hoặc rơi vào tình trạng tuyệt vọng đến mức tự sát dưới bàn tay những guru hay đấng cứu thế giả mạo. Phần này đưa ra hướng dẫn cụ thể về biện pháp tránh những cạm bẫy tâm linh, cũng như biện pháp mở rộng tầng tâm thức của mỗi người. Các bước rất đơn giản, nhưng Tiến sĩ Hawkins nói rằng không nhiều người làm theo vì bản ngã tin một cách thầm kín rằng nó đã “biết”. Bạn có thể tự hỏi: Bạn đã sẵn sàng buông bỏ những gì bạn nghĩ là mình biết hay chưa? Ông chia sẻ từ kinh nghiệm của chính mình rằng hạnh phúc vô bờ bến đang chờ đợi những người buông bỏ ở tầng sâu sắc nhất. Nghịch lý là, ông nói rằng hành trình này thiên về buông bỏ hơn là thủ đắc: “Khi mây tan, mặt trời sẽ chiếu sáng”. Nói cách khác, khi chúng ta buông bỏ những gì chúng ta không phải là, chúng ta trở thành con người thật sự mà chúng ta đang là. Ông từng nói với tôi: “Về bản chất bạn đã là Phật tính; bạn chỉ chưa nhận ra điều đó mà thôi.”
Hiểu về các tầng tâm thức
Năm 2003, khi lần đầu tiên tiếp xúc với Bản đồ này, tôi đã là học giả về huyền môn và là giáo sư nghiên cứu tôn giáo trong suốt nhiều năm. Ngay lập tức tôi nhận ra “Các tầng tâm thức” của Tiến sĩ Hawkins là những giai đoạn kinh điển của quá trình tiến hóa bên trong của người, được tìm thấy trong các Kinh văn của thế giới và được đề xuất bởi các triết gia, các nhà hiền triết và các nhà huyền môn qua nhiều thế kỷ. Ví dụ, trong truyền thống Kitô giáo có Thang lên Thiên đường (The Ladder of Divine Ascent), của nhà tu khổ hạnh theo Chính thống giáo Đông phương, John Climacus (khoảng 579–649) ở núi Sinai, Ai Cập, và Lâu đài bên trong (Interior Castle or The Mansions), của nhà huyền môn Công giáo, Thánh Teresa of Ávila (1515–1582 A.D.), ở Tây Ban Nha.
Dù là leo lên chiếc thang đức hạnh để vươn đến bậc cao nhất, đó là Tình yêu, hay đi vào bên trong, tới dinh thự sâu thẳm nhất của Hợp nhất Thiêng liêng (Divine Union[xxx]), người tìm kiếm đều trải qua nhiều giai đoạn. Trong truyền thống Phật giáo, 10 bức tranh chăn trâu thể hiện các bước trên con đường chứng ngộ từ Vô minh đến Chứng ngộ đã là một công cụ giảng dạy chủ yếu kể từ khi chúng ra đời ở Trung Quốc, vào thế kỷ XII. Trong truyền thống Sufi, có rất nhiều mô tả về hành trình nội tâm và các “giai đoạn” của nó, từ bài thơ ngụ ngôn nổi tiếng Hội nghị các loài chim (The Conference of the Birds) của nhà huyền môn người Ba Tư Farīd al-Dīn ‘A ār (khoảng 1142–1220), đến Mười hai tầng khai tâm (Twelve Levels of Initiation) của nhà huyền môn Sufi hiện đại Llewellyn Vaughan-Lee phác thảo.
Mặc dù có thể khác nhau về từ ngữ và bối cảnh, nhưng bản chất của những giáo lý từ các tôn giáo khác nhau đều giống nhau: những người tìm kiếm Sự thật phải đi qua nhiều giai đoạn. Về mặt trải nghiệm thực chứng, các giai đoạn không diễn tiến theo đường thẳng, tuy nhiên vẫn có một sự tiến hóa tâm thức rõ rệt dành cho những người tầm đạo chí tâm. Giai đoạn đầu tiên xảy ra, ví dụ, khi một người nhận ra rằng cuộc sống còn nhiều thứ chứ không chỉ là những theo đuổi trần thế. Bằng cách hướng vào bên trong, họ bước vào cái mà Thánh Teresa of Ávila gọi là “lâu đài bên trong”. Hoặc có lẽ, họ, giống như người chăn trâu trong mười bức tranh chăn trâu: dừng lại, lần đầu tiên nhận ra dấu chân trâu, biểu tượng cho Phật tính bẩm sinh của chúng ta. Họ nhận thức được đời sống tâm linh của mình và quan tâm đến việc trau dồi những phẩm chất cần thiết như kỷ luật, kiên nhẫn, khiêm tốn, nhất tâm, khả năng học hỏi và phụng sự tha nhân. Xa hơn trên hành trình, nếu họ tiếp tục đi trên con đường đôi khi gian khổ và không có lối đi này, người tìm kiếm sẽ được trải nghiệm thực tại vô cùng quan trọng của Tình yêu. Nó luôn có đó, nhưng chỉ như một “kho báu ẩn giấu trong trái tim” (như các Sufi nói). Mở lòng là một bước ngoặt, bởi vì giờ đây những tìm kiếm đã vượt qua giới hạn của logic và bước vào cõi ân phước vị tha, trùng hợp có ý nghĩa và niềm vui.
Mặc dù tôi đã tiếp thu và giảng dạy những tài liệu này, nhưng Bản đồ Tâm thức là lần đầu tiên tôi gặp một tác phẩm khoa học xác nhận những tầng mang tính kinh điển của đời sống tâm linh là những “mô thức điểm hút” và “trường năng lượng” thực sự, có thể đo lường được. Đó là sự xác nhận đáng kinh ngạc về trực giác của bán cầu não phải thông qua kiến thức của bán cầu não trái.
Tôi phát hiện được rằng Bản đồ Tâm thức tuyệt vời vì nó đơn giản; một biểu đồ được trình bày chỉ trên một trang giấy nhưng lại tiết lộ toàn bộ hành trình. Hơn nữa, nó rất tinh tế về mặt khoa học trong việc mô tả quá trình cảm xúc, quan điểm về Chúa, quan điểm về chính mình và quan điểm về cuộc đời phù hợp với từng tầng tâm thức. Nó tự do khỏi các giáo điều và niềm tin tôn giáo mang tính hình thức, vì vậy, bất cứ người nào cũng có thể tìm thấy đường đời của mình được soi sáng bằng cách nghiên cứu Bản đồ này, mà không phụ thuộc tín ngưỡng tôn giáo nào. Có lẽ khía cạnh hấp dẫn nhất của Bản đồ này, làm nên sự khác biệt so với vô số bản đồ tâm linh được các nhà huyền môn trình bày trong suốt chiều dài của lịch sử, là xác nhận rằng, với mỗi tầng tâm thức thăng lên, “tần số” hay “rung động” của năng lượng tăng lên theo cách có thể đo lường được. Nói cách khác, một cá nhân càng mở rộng tâm thức và yêu thương, thì tầm ảnh hưởng của họ đối với thế giới càng trở nên lớn lao hơn.
Toàn bộ nền tảng tư tưởng trong các công trình của Tiến sĩ Hawkins rất hợp với lẽ thường. Tiêu cực làm cạn kiệt năng lượng, còn tích cực nâng đỡ tinh thần. Trường năng lượng tích cực (Can đảm, Sẵn sàng, Chấp nhận, Lý trí, Tình yêu) mạnh mẽ hơn trường năng lượng tiêu cực (Nhục nhã, Thờ ơ, Sợ hãi, Tức giận, Kiêu hãnh) bởi vì chúng phù hợp với năng lượng của chính sự sống. Tình yêu chữa lành; Sợ hãi kìm hãm. Can đảm đưa chúng ta tiến về phía trước; Đau khổ kìm hãm chúng ta. Ví dụ, nhiều người trong chúng ta biết cần bao nhiêu can đảm để buông bỏ đau buồn và yêu lại sau khi mất người bạn đời vì người đó chết hay ly hôn.
Mỗi trường năng lượng đại diện cho một quan điểm về cuộc sống có ý nghĩa đối với những người ở tầng tâm thức đó. Vô số cuộc tranh luận diễn ra giữa những người ở các tầng khác nhau (ngay cả trong cùng một gia đình hoặc nơi làm việc) vì thế giới mà họ nhìn thấy thực sự là những thế giới khác nhau. Nếu một người đeo kính màu đỏ, mọi thứ sẽ hiện ra màu đỏ, dù lập luận của những người đeo kính màu xanh lá cây có mạnh mẽ đến mức nào. Thế giới này màu xanh lá cây hay màu đỏ? Thế giới bạn nhìn thấy phụ thuộc vào lăng kính mà bạn đang dùng để nhìn. Ví dụ, một người đang chìm trong U sầu chỉ nhìn thấy quá khứ; họ nói về “những gì đã từng xảy ra”. Thất vọng được xoa dịu phần nào khi người ta nhận ra rằng mọi người không phải là người “xấu”; họ chỉ đơn giản là nhìn cuộc sống qua lăng kính mà họ có. Lăng kính đó chính là tầng tâm thức của họ.
Một số người không thích thang đo tuyến tính để đo “các tầng”, và chính ý tưởng về các tầng có thể là miếng mồi ngon cho bản ngã. Chính Tiến sĩ Hawkins cũng từng than phiền về những gì bản ngã đã làm với bản đồ này — chẳng hạn như việc một người tự cho rằng mình đang ở tầng Tình yêu, trong khi trên thực tế họ còn chưa vươn tới tầng tự giải quyết (self-resolution[xxxi]) vốn là đặc trưng của tầng Chấp nhận.
Vấn đề ở đây là: Bản đồ dường như tuyến tính, nhưng thực tế không phải thế. Tiến sĩ Hawkins đã cung cấp một thang đo logarit bằng số nhằm hỗ trợ cho tư duy tuyến tính, tư duy logic của chúng ta để hiểu các trường tâm thức, nhưng chính các trường năng lượng thì không phải là tuyến tính; đúng hơn, chúng là các trường hút (attractor field).
Tôi từng hỏi ông, “Sự thăng tiến tâm thức của ông trong kiếp sống này như thế nào?” Có một khoảng im lặng kéo dài. Khi ông úp mặt vào hai bàn tay, tôi biết câu hỏi của mình không có thực tại! Cuối cùng ông nói: “Không thể mô tả được. Ta không bước từ tầng này sang tầng khác theo lối tuyến tính; nói chính xác hơn, nó mang tính chu kỳ (theo từng pha), giống như thời tiết.”[28]
Những người tìm kiếm chân thành sẽ phát hiện được rằng Bản đồ này mở rộng tầm nhìn. Lần đầu tiên tiếp xúc với nó, họ cảm thấy được an ủi khi biết rằng có một bản đồ chỉ đường cho hành trình nội tâm. Mới đây, một sinh viên đại học nói với tôi: “Nó giúp tôi rất nhiều khi thấy Chấp nhận nằm ở đâu, và đó là nơi có Tha thứ. Đó là điều tôi đang hướng tới trong quan hệ của mình với một người cụ thể nào đó. Lúc này, tôi đang Tức giận, tôi ôm giữ sự oán hận, nhưng Bản đồ này cho tôi quá trình để vượt qua.”
Những người tìm kiếm cũng được Bản đồ này xác nhận trong hành trình tìm kiếm Tình yêu như là cội nguồn và đích đến của đời sống tâm linh. Phần lớn lịch sử tôn giáo đã rao giảng học thuyết sai lệch về mặc cảm tội lỗi, tự trừng phạt, khổ hạnh và sợ hãi như là con đường dẫn đến Sự thật. Thật nhẹ nhõm và là một sự điều chỉnh lớn khi thấy rằng Mặc cảm tội lỗi và Sợ hãi nằm ở cuối thang đo, còn Tình yêu và Niềm vui nằm ở trên đỉnh thang đo. Tiến sĩ Hawkins thường nói: “Mặc cảm tội lỗi khiến bạn bị loét dạ dày, chứ không phải Chúa!” Chúa là Tình Yêu, và vì vậy con đường dẫn tới Sự thật là trong Tình Yêu và thông qua Tình Yêu.
Cũng bổ ích khi thấy rằng Lý trí (Reason[xxxii]), đức tính có vị trí cao nhất trong văn hóa phương Tây, quả thực là năng lượng tinh khiết, nhưng nó mờ nhạt so với năng lượng của trái tim. Tri thức đích thực là tri thức được hình thành qua trải nghiệm; nó nảy sinh từ những bài học của cuộc đời đã thấm sâu vào trái tim và toàn bộ con người chúng ta. Nếu không, người ta nói, “Họ chỉ là những kẻ nói suông.” Như Tiến sĩ Hawkins nói: “Lúc đó, con đường của trái tim bỏ qua trí năng và đặt niềm tin vào sự hoàn hảo của tình yêu hơn là theo đuổi trí năng và lý trí. Đối với Tình Yêu, trí năng và logic chỉ là công cụ; chúng không phải là “Con người mà tôi đang là”[29]
Những công trình nghiên cứu của Tiến sĩ Hawkins về động lực học phi tuyến tính, vật lý lượng tử và toán học cao cấp tạo điều kiện cho Bản đồ Tâm thức của ông kết hợp những ý tưởng không có trong diễn giải của các nhà huyền môn khác về các giai đoạn của hành trình nội tâm. Ví dụ, năng lượng sống có thể được ví như mạch điện. Nói cách khác, chúng ta có thể nói rằng Trường Sức mạnh Vô biên được hạ thấp qua các tầng tâm thức, tương tự như máy biến áp hạ áp. Hệ thần kinh và nguyên sinh chất của con người không thể xử lý được năng lượng khổng lồ của Vô biên, trừ khi nó đến với chúng ta ở mức độ mà mạch điện của chúng ta có thể xử lý. Tương tự, 50.000 vôn không hữu ích lắm trong sinh hoạt gia đình, nhưng 110 vôn thì có thể sử dụng được. Trong sinh hoạt gia đình, các thiết bị điện không được đánh giá hay phân biệt dựa trên công suất hay lượng điện năng mà chúng tiêu thụ. Tủ lạnh không “tốt hơn” đèn ngủ, phải không? Cũng như vậy, các tầng tâm thức khác nhau không nói rằng tốt hơn hay tệ hơn mà chỉ đơn giản là các mức năng lượng khác nhau, mỗi mức có chức năng cụ thể của nó.
Quá nhiều điện có thể “làm hỏng” mạch điện giới hạn, nhưng mạch điện có khả năng chịu điện áp lớn hơn có thể xử lý được nhiều điện năng hơn. Ví dụ, Đức Đạt Lai Lạt Ma có trường năng lượng hay tầng tâm thức rộng lớn và đủ yêu thương để xử lý lượng năng lượng sống khổng lồ, vì vậy ngài tỏa ra năng lượng chữa lành ở những tầng cao, có thể nói như vậy. Trạng thái nội tâm của Ngài tràn ngập Niềm vui và Tình yêu, cùng với hài hước, tiếng cười, tử tế và tâm từ bi.
Tuy nhiên, hầu hết mọi người không có khả năng tương tự để trở thành một kênh truyền dẫn năng lượng cao cho người khác, vì sự chú ý bên trong họ thường xuyên tập trung vào nhu cầu, suy nghĩ, cảm xúc và mục tiêu của riêng mình. “Mạch điện” bên trong của họ bị thu hẹp, tập trung vào bản thân mình, và không có khả năng yêu thương vô điều kiện đối với thế giới. Trên thực tế, một số người gần như hoàn toàn vị tư. Những tầng tâm thức tiêu cực như vậy (ví dụ: Nhục nhã, Mặc cảm tội lỗi, Sợ hãi, Ham muốn, Tức giận và Kiêu hãnh) lấy năng lượng chứ không đóng góp. Cuốn sách này là một ngọn đèn soi đường cho bất kỳ người nào muốn trở thành hiệu quả hơn trong bất kỳ lĩnh vực nào của cuộc đời.
Cách đọc cuốn sách này
Phong cách viết và diễn thuyết của Tiến sĩ Hawkins hướng đến việc tạo điều kiện thuận lợi cho cả hiểu biết của bán cầu não trái và bán cầu não phải. Ông giải thích như sau trong lời tựa cuốn Power vs. Force:
Trên thực tế, chúng ta hiểu mọi thứ nhờ nhận dạng mô thức toàn diện. Cách dễ nhất để nắm bắt một khái niệm hoàn toàn mới chỉ đơn giản là quen thuộc. Cách hiểu này được khuyến khích bằng cách hành văn với đặc điểm là “đóng”. Đáng lẽ chỉ thỉnh thoảng mới sử dụng các tính từ hoặc ví dụ để thể hiện tư tưởng, thì ở đây lại sử dụng nhiều và lặp đi lặp lại. Các khái niệm sau đó được “ghi nhận”, và tâm trí được thoải mái. Cách tiếp cận này cũng hấp dẫn bởi vì tâm trí đọc Chương 3 sẽ không giống với tâm trí đọc Chương 1.
Ý tưởng phải bắt đầu từ Chương 1 và đọc dần cho đến cuối là khái niệm chỉ phù hợp với não trái. Đó là con đường đi của vật lý học Newton, dựa trên tầm nhìn hạn chế và có giới hạn về thế giới, trong đó tất cả các sự kiện đều được giả định sẽ xảy ra theo một trình tự tuyến tính. Quan điểm thiển cận này xuất phát từ hệ hình (paradigm[xxxiii]) lỗi thời về thực tại. Quan điểm rộng hơn và toàn diện hơn của chúng ta dựa trên không chỉ phần tinh tuý của vật lý cao cấp, toán học và lý thuyết phi tuyến tính tiên tiến nhất mà còn dựa trên trực giác có thể được mọi người xác nhận qua trải nghiệm…
Vì vậy, tôi cố gắng trình bày những chủ đề này, ở mức cao nhất có thể, bằng những thuật ngữ bình thường. Không cần phải có trí năng uyên bác nào mới hiểu được những điều sẽ được trình bày ở đây. Chúng ta tìm hiểu dần dần các khái niệm cho đến khi hiểu rõ. Mỗi lần chúng ta quay lại để nhận xét về những ví dụ, bạn đọc sẽ hiểu sâu hơn. Hình thức học tập này tương tự như quan sát vùng đất mới từ trên máy bay: lần đầu đi qua, mọi thứ trông lạ lẫm; lần thứ hai, thấy một số điểm quen quen; lần thứ ba, bắt đầu có cảm giác, và cuối cùng chúng ta quen với nó nhờ tiếp xúc. Cơ chế nhận dạng mô thức bẩm sinh của tâm trí sẽ hoàn thành những việc còn lại[30].
Dù bắt đầu từ đầu hay cuối, bạn sẽ thấy rằng cuốn sách xoay quanh điểm trung tâm này: Chúng ta thay đổi thế giới không phải bằng những lời chúng ta nói hay những việc chúng ta làm mà là hệ quả của con người mà chúng ta đã trở thành. Tiến sĩ Hawkins khẳng định rằng ngay cả sự gia tăng nhỏ nhất trong tâm thức của chính chúng ta cũng mang lại lợi ích cho thế giới nói chung. Ông nói, tình yêu mạnh mẽ đến mức một niệm yêu thương trong một ngày sẽ xóa bỏ tất cả những suy nghĩ tiêu cực. “Nếu bạn nhìn thấy một con mèo hoang đang đi ngang qua đường và bạn gửi đến cho nó tình yêu và hy vọng về sự tồn tại của nó, điều đó sẽ xóa bỏ những lời nguyền rủa mà bạn đã dành cả buổi sáng cho mẹ chồng, thày giáo hoặc bất cứ người nào mà bạn đã tức giận.”[31]
Hành tinh này có rất nhiều người đang cố gắng “thay đổi thế giới” nhưng họ chỉ làm như thế ở tầng triệu chứng, chứ không phải ở cội nguồn của nó. Lực lượng kiểu này tạo ra phản lực, và cuối cùng chúng ta rơi vào bế tắc chứ không phải vĩ đại. Sự vĩ đại đến từ bên trong. Đó là can đảm thay đổi chính mình. Thông điệp của cuốn sách này rất quan trọng đối với xã hội chúng ta: Đời thay đổi khi chúng ta thay đổi.
Nếu chúng ta được thúc đẩy bởi yêu thương, nếu yêu thương là động cơ của chúng ta, thì mọi thứ chúng ta chạm vào, mọi nơi chúng ta đến và mọi người chúng ta gặp sẽ trở nên tốt đẹp hơn nhờ sự kiện là chúng ta đã trở thành một người yêu thương. Tình yêu là sức mạnh thầm lặng truyền cảm hứng, chữa lành, nâng đỡ, khích lệ và cải thiện mọi thứ. Và bởi vì Tình yêu là bức xạ trong trường năng lượng liên kết của vũ trụ - phi định xứ và phi tuyến tính, chúng ta tạo được ảnh hưởng ở bất cứ nơi nào chúng ta có mặt, dù chúng ta làm gì thì cũng thế. Yêu thương bất kỳ biểu hiện nhỏ bé nào của cuộc đời cũng chính là yêu thương toàn bộ cuộc đời, vì mọi thứ đều kết nối với nhau.
Không thể dùng ngôn từ để mô tả đóng góp của Tiến sĩ Hawkins cho quá trình tiến hóa của nhân loại. Không có Bản đồ, thì không thể tìm được kho báu. Con đường này mở ra cho tất cả những người lựa chọn nó. Mỗi người đều có điểm xuất phát khác nhau, nhưng mỗi chúng ta đều tự mình điều khiển bánh lái tương lai của mình. Mỗi khoảnh khắc đều mang đến tự do lựa chọn.
— Fran Grace, Tiến sĩ
Tiến sĩ Grace, Giáo sư Nghiên cứu Tôn giáo và Người sáng lập kiêm Quản lý Chương trình Thiền định tại Đại học Redlands ở California, là tác giả của một số cuốn sách, trong đó có cuốn Sức mạnh của Tình yêu: Một Trái tim được Chuyển hóa Thay đổi Thế gian (The Power of Love: A Transformed Heart Changes the World - 2019), để tưởng nhớ Tiến sĩ Hawkins và được xuất bản bởi Inner Pathway Publishing, một tổ chức phi lợi nhuận 501(c)(3) mà bà thành lập năm 2008, theo hướng dẫn của ông.
[1] Trích từ F. Grace, The Power of Love (Redlands, CA: Inner Pathway Publishing, 2019), 585
[2] Trao đồi cá nhân, 2010.
[3] Bài giảng, Institute of Noetic Sciences (Petaluma, California), 2003.
[4] Power of Love, 522.
[5] D. Hawkins, I: Reality and Subjectivity (Sedona, AZ: Veritas Publishing, 2003), 365.
[6] I: Reality and Subjectivity, 365–66
[7] D. Hawkins, The Eye of the I (Sedona, AZ: Veritas Publishing, 2001), 6
[8] Eye of the I, 6.
[9] Eye of the I, 3–4.
[10] Eye of the I, 9
[11] F. Grace, “Beyond Reason: The Certitude of the Mystic from Al-Hallaj to David R. Hawkins,” International Journal of Humanities and Social Science, vol. I, no. 13 (September 2011), 147–56
[12] Interview with Yun Kyung Huh, in D. Hawkins, Dialogues on Consciousness and Spirituality (Sedona, AZ: Veritas Publishing, 1997), 33–34
[13] D. Hawkins, Dialogues on Consciousness and Spirituality (Sedona, AZ: Veritas Publishing, 1997), 12, 37
[14] D. Hawkins, Power vs. Force, Author’s Official Authoritative Edition (Sedona, AZ: Veritas Publishing, 2012), 388.
[15] Dialogues, 30.
[16] Lecture, 2003.
[17] Power vs. Force, A.O.A. Ed., 380.
[18] D. Hawkins, letter to Linus Pauling, November 5, 1987.
[19] Lecture, 2003.
[20] For details, see chapter on Mother Teresa in Power of Love, 53–84
[21] Eye of the I, 20.
[22] Eye of the I, 210.
[23] Power vs. Force, VHS (Sedona, AZ: Veritas Publishing, 1996).
[24] I: Reality and Subjectivity, 219.
[25] Power of Love, 586–87
[26] Eye of the I, 257.
[27] Power of Love, 570.
[28] Personal communication, 2010.
[29] I: Reality and Subjectivity, 219.
[30] Power vs. Force, A.O.A. Ed., xxv–xxvi.
[31] Dialogues, 21.
[i] Presence dịch là Sự Hiện Diện - Thần tính được trực nghiệm trực tiếp.
1. Sự Hiện Diện là trạng thái “Vượt lên trên nội dung”. Thông thường, tâm trí chỉ chú ý đến nội dung (Content): các sự kiện, suy nghĩ, từ ngữ, mặc cảm. Khi đạt tới trạng thái Sự Hiện Diện, người ta không còn nhìn vào nội dung nữa, mà nhận biết Context (Ngữ cảnh/Trường) bao quanh nội dung đó. Sự Hiện Diện chính là sự nhận biết rằng: “Tôi không phải là suy nghĩ, tôi chính là cái không gian mà suy nghĩ đang hiện ra”. Cái không gian đó chính là Thần tính.
2. Sự Hiện Diện hóa giải “Force” (Bạo lực). Tại sao sự trực nghiệm trực tiếp này lại quan trọng? Force chỉ tồn tại khi có một cái “Tôi” đang cố gắng điều khiển thực tại. Khi có Hiện Diện, cái “Tôi” cá nhân tan biến vào cái Toàn Thể (Allness). Bạn chỉ đơn giản là “có mặt” ở đó, và mọi thứ tự vận hành qua bạn. Đó là lúc Power (Sức mạnh đích thực) thay thế hoàn toàn cho Force.
3. Liên hệ với Cái Phi Hiển Lộ. Sự Hiện Diện là cách duy nhất để chúng ta tiếp xúc với Cái Phi Hiển Lộ ngay trong thế giới hình tướng. Nếu Godhead là kho chứa dữ liệu tĩnh lặng, thì Sự Hiện Diện chính là lúc bạn “mở tệp tin và dữ liệu đó trở nên sống động (trực nghiệm). Bạn không suy luận về Chúa, bạn “chạm” vào Chúa. Nó giống như việc bạn không đọc về vị ngọt của đường, mà bạn đang đặt đường lên lưỡi.
[ii] Oblivion - sự lãng quên là trạng thái hoàn toàn bị lãng quên, không còn được ai nhớ đến, hoặc trạng thái không nhận thức được gì xung quanh mình, thường do bất tỉnh, ngủ sâu, hoặc chết.
[iii] Thuật ngữ trong Phật giáo là Sunyata - Tánh Không không có nghĩa là sự trống rỗng tiêu cực, mà là nhận thức rằng mọi sự vật không có tự tính độc lập, chúng luôn biến đổi và phụ thuộc lẫn nhau. Trong hệ thồng của David Hawkins: Void là trạng thái mà tâm trí nhìn thấy sự trống rỗng khi bản ngã tan biến, còn Allness là khi ý thức nhận ra sự trống rỗng đó thực chất là sự hiện diện rực rỡ và trọn vẹn của Thần tính trong vạn vật. Nói ngắn gọn: Void là sự vắng mặt của hình tướng, còn Allness là sự có mặt của tất cả mọi khả năng trong một thể thống nhất
[iv] Allness (Toàn thể): Đại diện cho tính vô hạn. Nó nhấn mạnh rằng không có gì nằm ngoài thực tại. Tất cả mọi khả năng, mọi sự kiện, và mọi trạng thái đều hiện hữu đồng thời. Trong trạng thái này, không có “khoảng trống” hay sự thiếu vắng, vì Allness bao hàm cả cái hiện hữu và cái chưa biểu hiện.
[v] Reality - Thực tại được hiểu qua hai tầng nghĩa cốt lõi: Thực tại là tầng tâm thức: Mỗi người nhìn nhận “thực tại” khác nhau tùy theo tầng năng lượng của họ (Map of Consciousness). Ở tầng Sợ hãi (100), thực tại là đe dọa; ở tầng Tình yêu (500), thực tại là sự hòa hợp. Thực tại tối hậu (Ultimate Reality): Là trạng thái vượt trên mọi suy nghĩ và hình tướng, nơi không còn sự tách biệt giữa “tôi” và “thế giới”, chỉ còn lại sự hiện diện thuần túy của Thần tính. Tóm lại: Thực tại không phải là cái gì đó “ở ngoài kia”, mà là sự phản chiếu trực tiếp từ mức độ nhận thức bên trong bạn.
[vi] Intellect - Trí năng/trí tuệ, nhấn mạnh vào công cụ của não bộ, mang tính chức năng và logic tuyến tính.
[vii] Light of Divinity - Ánh sáng Thần tính là năng lượng rực rỡ và trực tiếp từ Nguồn, chiếu soi vào vạn vật để biến “không” (Void) thành “Tất cả” (Allness). Nói ngắn: Đó là Sự hiện diện của Thiên Chúa (Presence) dưới dạng nhận thức thuần túy, có khả năng tự chiếu sáng và ban sự sống cho mọi tồn tại mà không cần bất kỳ nỗ lực hay suy nghĩ nào..
[viii] Patterns - Mô thức, có nghĩa là: Những khuôn mẫu lặp đi lặp lại có tính cấu trúc trong hành vi, suy nghĩ, cảm xúc hoặc vận hành của một hệ thống. Mẫu → thiên về hình dạng cụ thể. Khuôn mẫu → thiên về thói quen hoặc định kiến. Mô thức → nhấn mạnh cấu trúc vận hành ẩn bên dưới tạo ra sự lặp lại. Trong văn cảnh tâm linh – tâm lý học, “mô thức” thường chỉ: Mô thức suy nghĩ (thinking patterns); Mô thức cảm xúc (emotional patterns); Mô thức hành vi (behavioral patterns); Mô thức năng lượng (energetic patterns). Có thể nói mô thức là những vệt hằn của quá khứ còn đang tiếp tục vận hành trong hiện tại. Trong Phật giáo thường gọi là Tập khí.
[ix] Awareness — 1. Nhận thức/cái Biết thuần túy, không diễn giải; Tỉnh thức (Awakening / Mindfulness). 1. Từ này thiên về một trạng thái hoặc một quá trình. Định nghĩa: Là sự “tỉnh dậy” sau một cơn mê của bản ngã. Khi bạn bắt đầu quan sát được cảm xúc tiêu cực và không để nó cuốn đi, đó là tỉnh thức. Đặc điểm: Thường dùng cho các tầng tâm thức từ 200 (Can đảm) đến dưới 600. Nó mang tính chủ động: “Tôi đang tỉnh thức”, “Tôi đang thực hành tỉnh thức”. Trong tiếng Anh: Thường tương ứng với Awakened hoặc Mindful. 2. Cái Biết (Awareness/Pure Awareness) Từ này thiên về bản chất hoặc nền tảng vĩnh cửu. Định nghĩa: Là cái “không gian” hay cái “ánh sáng” cho phép mọi sự tỉnh thức diễn ra. Nó không phải là một hành động, nó là một thực tại có sẵn. Ngay cả khi bạn đang ngủ hay đang giận, Cái biết vẫn luôn ở đó, tĩnh lặng và quan sát. Đặc điểm: Thường dùng cho tầng ý thức từ 600 (An bình) trở lên. Nó không có chủ thể: không phải “Tôi có Cái biết” mà là “Tôi LÀ Cái Biết”.
[x] Beatific Visions - Thị kiến Phúc lạc là những trải nghiệm tâm linh ở tầng tâm thức rất cao (thường từ 600 trở lên), nơi hành giả trực tiếp “nhìn” thấy bản chất thiêng liêng của vạn vật qua con mắt của linh hồn. Nói ngắn: Đó là trạng thái nhìn đâu cũng thấy hào quang của Thần tính tỏa ra từ mọi vật chất, biến thế giới tầm thường thành một thực tại rực rỡ, tràn ngập vẻ đẹp và tình yêu tuyệt đố.
[xi] God-shock - là cú sốc của hệ thần kinh và tâm trí khi “tự ngã” nhỏ bé tan biến để đối mặt với Thực tại tối hậu, khiến con người rơi vào trạng thái sững sờ, bất động trước quyền năng và tình yêu bao la của Thiên chúa.
[xii] Self (Đại ngã/Chân ngã, chữ S viết hoa) tương đồng hoàn toàn với khái niệm Bản lai diện mục (Mặt mũi xưa nay) trong Thiền tông. Nói ngắn gọn: Đó là bản thể gốc rễ của bạn trước khi bị che lấp bởi suy nghĩ, cảm xúc và bản ngã — là cái thực tại thuần túy vẫn luôn ở đó, chưa từng sinh ra và cũng không bao giờ mất đi. Còn self (s viết thường) là tự ngã với bản chất là một tập hợp các ảo tưởng, thói quen suy nghĩ, cảm xúc và ký ức mà chúng ta lầm tưởng là “chính mình”. Nó là một cấu trúc của tâm trí dựa trên sự tách biệt (tôi và thế giới). Đặc điểm: Luôn đòi hỏi, sợ hãi, phán xét và bị giới hạn bởi thời gian. Nó hoạt động bằng Bạo lực thay vì Sức mạnh đích chực và là rào cản chính ngăn cản chúng ta nhận ra Đại ngã. Tóm lại: Nếu Self là bầu trời vĩnh cửu, thì self chỉ là những đám mây trôi nổi, luôn biến đổi và che lấp ánh mặt trời.
[xiii] Landberg Lecture là một bài thuyết trình danh giá hằng năm trong lĩnh vực tâm thần học – khoa học thần kinh – tâm linh học, gắn với Landberg Center/Landberg Foundation (Hoa Kỳ), nơi mời các học giả, bác sĩ và nhà nghiên cứu có đóng góp nổi bật trình bày những công trình hoặc tổng kết tư tưởng quan trọng của mình.
[xiv] Devotional Nonduality (Bất nhị Sùng Kính) là con đường bất nhị được đi bằng trái tim sùng kính. Đó là sự hòa quyện giữa hai truyền thống tưởng như khác biệt: Devotion (Sùng kính) — yêu mến, phó thác, thờ phụng Thiên Chúa hay Chân Lý Tối Hậu. Nonduality (Bất nhị) — nhận ra rằng không hề có sự tách biệt giữa người tìm kiếm và Đấng được tìm kiếm. Trong cách tiếp cận này, hành giả không đi thẳng bằng tri thức triết học, mà đi bằng tình yêu. Ban đầu có vẻ như có hai: Người yêu và Đấng được yêu. Người cầu nguyện và Thiên Chúa. Linh hồn và Tuyệt Đối. Nhưng qua sự sùng kính sâu sắc, bản ngã dần tan rã. Tình yêu trở nên thuần khiết đến mức không còn chủ thể yêu thương nữa. Và khi đó, điều được khám phá chính là: Đấng được thờ phụng và người thờ phụng chưa từng là hai. Trong truyền thống Ấn Độ, con đường này gần với Bhakti hòa nhập vào Advaita. Trong Kitô giáo huyền nhiệm, nó phản ánh trải nghiệm “hiệp nhất với Thiên Chúa”. Trong ngôn ngữ của David R. Hawkins, đó là sự tan biến của bản ngã vào Sự Hiện Diện — nơi Tình Yêu không còn là cảm xúc, mà là Bản thể. Bất nhị Sùng Kính không phủ nhận cá nhân ngay từ đầu. Nó sử dụng chính mối quan hệ thiêng liêng làm phương tiện. Từ hai, đi đến Một. Từ cầu nguyện, đi đến tĩnh lặng. Từ yêu, đi đến Hữu Thể. Cuối cùng, điều còn lại không phải là “tôi yêu Thiên Chúa”, mà là: Chỉ có Tình Yêu tự biết chính mình.
[xv] Shadow là tất cả những phần tính cách, cảm xúc, bản năng và mong muốn mà chúng ta từ chối thừa nhận về bản thân. Vì thấy chúng “xấu”, “không thể chấp nhận” hoặc “đáng hổ thẹn”, bản ngã đã đẩy chúng xuống vùng tiềm thức và khóa chặt lại.
[xvi] Archetypes - Nguyên mẫu là những mẫu hình tâm lý bẩm sinh và phổ quát nằm trong vô thức tập thể, biểu hiện qua các biểu tượng và nhân vật chung của nhân loại (như Người Anh Hùng, Người Mẹ).
[xvii] Collective Unconscious - Vô thức tập thể không phải là một kho chứa “bị bỏ quên”, mà là một Trường năng lượng chung bao trùm toàn bộ nhân loại. Nó lưu trữ mọi suy nghĩ, trải nghiệm, ký ức và mức độ tiến hóa của loài người từ thuở sơ khai đến nay. Có thể hình dung mỗi cá nhân là một máy tính, và Vô thức tập thể chính là mạng Internet toàn cầu. Tính phi thời gian, vô thức tập thể tồn tại ngoài thời gian tuyến tính. Mọi dữ liệu của quá khứ vẫn đang "hiện diện" và gây ảnh hưởng đến hiện tại. Có thể hình dung Vô thức Tập thể như là cái kho còn Cơ sở dữ liệu của tâm thức là để nhấn mạnh rằng thông tin ở đó có thể truy cập được.
[xviii] Phức cảm (Complex) trong thực tế: Là khi một sự kiện nhỏ kích hoạt một phản ứng cảm xúc lớn bất thường, do sự tích tụ của những tổn thương hoặc niềm tin cũ trong tiềm thức.
[xix] Trong bản dịch này, thuật ngữ Spirit được chuyển ngữ linh hoạt thành Tinh thần, Tâm linh hoặc Tánh linh tùy theo ngữ cảnh. 1. Tinh thần (Spirit - thuộc phạm vi Mind/Mental). Phạm vi: Dưới tầng 500 (Đặc biệt là các tầng 400 - Lý trí). Bản chất: Liên quan đến tư duy, thái độ, ý chí cá nhân. Nó vẫn nằm trong sự cưỡng ép của "Lực" hoặc sự nỗ lực của bản ngã. Ví dụ: Tinh thần trách nhiệm, tinh thần cầu tiến. Đây là cách tâm trí vận hành để định hướng cuộc sống. 2. Tâm linh (Spirituality/Spiritual Dimension). Phạm vi: Từ tầng 500 trở lên (Tình yêu vô điều kiện, Sự minh triết). Bản chất: Là một chiều kích thực tại phi tuyến tính. Khi chúng ta nói về “Đời sống tâm linh”, chúng ta đang nói về sự kết nối với cái Toàn thể (Oneness), nơi Power bắt đầu thay thế cho Force. 3. Tánh linh (Spirit - thuộc phạm vi Essence/Beingness). Phạm vi: Trạng thái phi hình tướng, các tầng cực cao hoặc trải nghiệm thực chứng trực tiếp. Bản chất: Là Bản thể gốc, cái thực thể thuần khiết thoát ly khỏi sự định nghĩa của thân xác và tâm trí. Ứng dụng: Dùng khi mô tả Spirit như một "chủ thể" phi vật chất (như khi Hawkins đi xuyên tường). Nó không phải là một "thái độ" (Tinh thần), cũng không chỉ là một "chiều kích" (Tâm linh), mà chính là Cái Tôi chân thực đang trải nghiệm sự tự do.
[xx] Behavioral kinesiology là phương pháp sử dụng phản ứng cơ thể—đặc biệt là sức mạnh hoặc sự suy yếu của cơ bắp—như một chỉ báo cho trạng thái ý thức, cảm xúc, hoặc tính chân thật của một phát biểu. Khác với kinesiology truyền thống (vận động học trong y học thể thao), behavioral kinesiology tập trung vào mối liên hệ giữa tâm thức và sinh lý học. Theo cách trình bày của Hawkins: Khi con người tiếp xúc với chân lý, cơ thể có xu hướng mạnh lên (strong response). Khi tiếp xúc với sai lệch hoặc tiêu cực, cơ thể có xu hướng yếu đi (weak response). Phản ứng này không được coi là ý chí cá nhân, mà là phản xạ tức thời của hệ thần kinh thực vật trước các “trường ý thức” khác nhau. Trong các tác phẩm như Power vs. Force, phương pháp này được dùng để: Nghiên cứu và xây dựng Bản đồ Tâm thức (Map of Consciousness), Kiểm định tầng tâm thức của một người, một tư tưởng, hay một hệ tư tưởng, Phân biệt giữa “Power” (sức mạnh đích thực) và “Force” (lực cưỡng ép/bạo lực). Hawkins gọi đây là một dạng “công cụ nghiên cứu tâm thức”, không phải niềm tin mù quáng hay suy đoán chủ quan.
[xxi] Database of Consciousness - Cơ sở dữ liệu của Tâm thức) có thể được giải thích qua các khía cạnh cốt lõi sau:
1. Bản chất là một Trường Năng lượng Phổ quát. CSDL Tâm thức không phải là một thực thể vật lý mà là một trường năng lượng phổ quát, bao trùm tất cả, nằm ngoài thời gian và có cấu trúc phi tuyến tính. Nó được ví như “ánh sáng của thế gian”, bắt nguồn từ cái Phi Hiển Lộ (Unmanifest) để trở thành cái Hiển Lộ (Manifest).
2. Kho lưu trữ thông tin vĩnh cửu. Đây là nơi lưu trữ toàn bộ dữ liệu về mọi suy nghĩ, hành động và sự kiện đã từng xảy ra trong lịch sử nhân loại. CSDL này là một trường năng lượng phi thời gian, nơi sự thật luôn hiện hữu và không bao giờ bị mất.
3. Khả năng truy cập và Hiệu chỉnh. Tính khách quan: Vì tâm trí con người về cơ bản không có khả năng phân biệt thật giả, CSDL này đóng vai trò như một “chiếc la bàn” hay một ngành khoa học lâm sàng về sự thật. Truy vấn dữ liệu: Thông qua kỹ thuật kiểm tra cơ thể động học (kinesiology), con người có thể kết nối với trường tâm thức này để hiệu chỉnh hay xác định tầng năng lượng/sự thật của bất kỳ đối tượng nào.
4. Vai trò trong sự tiến hóa tâm linh. CSDL Tâm thức chứa đựng cả những tầng ý thức dưới 200 (thuộc về Force) và các tầng trên 200 (thuộc về Power). Bằng cách hiểu và truy cập vào CSDL này, cá nhân có thể nhận diện các chướng ngại mang tính chủ quan để siêu việt các tầng tâm thức thấp, hướng tới trạng thái Chứng ngộ.
Nói cách khác, nếu Vô thức tập thể là “cái kho”, thì Database of Consciousness chính là toàn bộ nội dung dữ liệu được tổ chức một cách logic trong cái kho đó, cho phép chúng ta tra cứu sự thật về bản chất của vạn vật.
[xxii] Synchronicity - Tính đồng nhịp hay đồng phương tương tính được Carl Jung định nghĩa là một “nguyên lý liên hệ phi nhân quả” hay nguyên lý trùng ứng hoặc nguyên tắc kết nối phi nhân quả còn được gọi là sự đồng hiện hay ngẫu nhiên có ý nghĩa là một khái niệm được nhà tâm thần học Carl Jung, người sáng lập ra tâm lý học phân tích đề ra để mô tả các sự kiện trùng hợp về mặt thời gian và dường như có liên quan có ý nghĩa, nhưng lại thiếu mối liên hệ nhân quả có thể khám phá được. Đây chính là nguyên lý về sự trùng hợp có ý nghĩa của hai hay nhiều sự kiện, trong đó không tồn tại một mối liên hệ nhân quả nào giữa chúng.
[xxiii] Đoạn này nói đến một thí nghiệm rất nổi tiếng của nhà sinh học Rupert Sheldrake về chú chó có tên là Jaytee.Video mà Hawkins nhắc tới thường được biết đến với tên gọi: “Jaytee: A Dog Who Knew When His Owner Was Coming Home” (Jaytee: Chú chó biết khi nào chủ mình đang về nhà).
[xxiv] Force – Bạo lực/Cưỡng bức là dạng năng lượng mang tính cưỡng chế, tách biệt và kháng cự lại quy luật tự nhiên, dù biểu hiện ra bên ngoài thành hành động hay diễn ra âm thầm bên trong tâm trí như là quá trình tự hủy hoại. Vì mang tính cưỡng bức, Force luôn tạo ra phản lực, dẫn đến tiêu hao năng lượng và suy yếu trong dài hạn. Bạo lực đại diện cho các tầng ý thức dưới 200.
[xxv] Power - Sức mạnh đích thực - là sức mạnh nội tại phát sinh từ sự hòa hợp với Sự thật. Đại diện cho các tầng ý thức từ 200 trở lên. Đây là nguồn năng lượng nội tại, phát sinh từ sự hòa hợp với các nguyên lý vĩnh cửu và Sự thật. Sức mạnh đích thực có tính chất hợp nhất, nuôi dưỡng sự sống và không tạo ra phản lực.
[xxvi] Chú giải các thuật ngữ về “Ngã” và Bản thể. Trong các tác phẩm của David R. Hawkins, các thuật ngữ liên quan đến “self” được sử dụng với sắc thái rất tinh tế. Để tránh nhầm lẫn giữa bản ngã tâm lý và Bản thể tuyệt đối, các từ sau được hiểu và dịch như sau:
self (viết thường): Tự ngã cá nhân – cảm nhận “tôi” ở mức tâm lý, bao gồm ký ức, vai trò, cá tính và câu chuyện đời. Đây là cấu trúc nhân cách tương đối trong đời sống thường nhật.
ego: Bản ngã – cấu trúc đồng nhất sai lầm với sự tách biệt, đặt nền tảng trên sợ hãi, kiểm soát và cảm thức “tôi” riêng biệt. Ego không phải là bản thể thật của con người mà chỉ là một cơ chế tâm lý hình thành trong ý thức nhị nguyên.
Self (viết hoa): Chân Ngã / Đại Ngã – Bản thể tuyệt đối, phi cá nhân, nền tảng của mọi hiện hữu. Self không phải là một “cái tôi” cao hơn hay tinh tế hơn, mà là Thực tại tự thân vượt ngoài mọi cấu trúc tâm lý và giới hạn cá nhân. Self không sinh không diệt, không bị ràng buộc bởi thân tâm, và không thuộc về riêng ai. Trong kinh nghiệm Chứng ngộ, Self không còn được cảm nhận như “của tôi”, mà chính là Hiện Hữu thuần túy.
True Self: Chân Ngã đích thực – cách nhấn mạnh rằng Self ấy là bản thể thật, đối lập với bản ngã hư ảo (ego). Thuật ngữ này không chỉ một “cái tôi tốt đẹp hơn”, mà chính là Self (Chân Ngã tuyệt đối) được diễn đạt trong ngữ cảnh phân biệt với ngã giả. Về thực tại, Self và True Self không phải hai thực thể khác nhau; chữ “true” chỉ nhằm làm rõ sự phân biệt giữa bản thể và ảo tưởng về bản thể.
[xxvii] Soul (Linh hồn): Thực thể của sự tiến hóa. Khác với Spirit (Tánh linh) vốn là bản thể tuyệt đối và bất biến, Soul trong hệ thống Hawkins có thể hiểu là: "Bản hồ sơ" tiến hóa: Linh hồn là thực thể mang theo các dấu vết của nghiệp, các bài học và tầng năng lượng từ kiếp này sang kiếp khác. Tính cá nhân: Soul vẫn còn mang một chút "màu sắc" cá nhân. Nó là cái "Tôi" đang đi trên hành trình trở về với cái Toàn thể. Vị trí trên bản đồ: Soul là thứ trải nghiệm các Tầng Tâm thức. Khi ở tầng dưới 200, linh hồn bị vướng kẹt trong hệ lụy; khi trên 500, linh hồn bắt đầu hòa nhập vào chiều kích Tâm linh. 2. Sự khác biệt giữa Soul (Linh hồn) và Spirit (Tánh linh). Linh hồn là “chủ thể” của hành trình tiến hóa, còn mang tính riêng biệt và nghiệp quả. Tánh linh là “Bản thể” tuyệt đối, phi hình tướng, vốn đã hoàn hảo và không bao giờ bị tổn hại. Trong các trạng thái cực cao (tầng 700-1000), Hawkins nói rằng ngay cả khái niệm “Linh hồn” (như một thực thể riêng biệt) cũng biến mất, chỉ còn lại Tâm thức thuần khiết (Consciousness) hay Thần tính (Divinity). Như vậy, ta có: Tinh thần (Mental/Spirit): Thái độ, ý chí của Tâm trí (Dưới 500). Linh hồn (Soul): Thực thể tiến hóa, người lữ hành qua các kiếp. Tâm linh (Spiritual): Chiều kích năng lượng cao, phi tuyến tính (Trên 500). Tánh linh (Spirit/Essence): Bản thể gốc, cái “Biết” thuần khiết, phi hình tướng.
[xxviii] Self-Realization – Kiến chân tính, nhận ra bản chất thật của mình là Chân Ngã (Self), vượt ngoài bản ngã cá nhân. Ở đây có sự chuyển dịch căn bản trong đồng nhất tính, tuy nhiên có thể vẫn còn cảm nhận vi tế về “người biết” hay “người chứng”. Enlightenment: trạng thái tan rã sâu rộng của bản ngã và sự ổn định ngày càng vững chắc trong Nhận Biết phi cá nhân. Full Enlightenment (Chứng ngộ viên mãn): sự ổn định hoàn toàn và không hồi chuyển trong Chân Ngã; không còn trung tâm chủ thể riêng biệt, không còn “người chứng ngộ”. Chỉ còn Hiện Hữu tự thân, bất biến và phi cá nhân.
[xxix] Full Enlightenment – Chứng ngộ viên mãn/Toàn giác. Trong văn mạch của David R. Hawkins, Full Enlightenment không chỉ là một trải nghiệm tâm linh sâu sắc hay một khoảnh khắc bừng sáng, mà là sự ổn định hoàn toàn và vĩnh viễn trong Chân Ngã. Đây là trạng thái trong đó bản ngã cá nhân đã tan rã trọn vẹn, không còn tái lập như một trung tâm đồng nhất riêng biệt. Full Enlightenment không phải là sự gia tăng hiểu biết, cũng không phải đạt được năng lực đặc biệt, mà là sự chấm dứt hoàn toàn ảo tưởng về tính tách biệt. Không còn “người chứng ngộ”, mà chỉ còn Hiện Hữu tự thân. Trạng thái này không phụ thuộc vào cảm xúc, trải nghiệm xuất thần hay hiện tượng tâm linh; nó là nền tảng tĩnh lặng, bất biến và phi cá nhân của thực tại. Nếu Enlightenment có thể được hiểu như nhận ra Bản thể, thì Full Enlightenment là sự an trụ không dao động trong sự nhận ra ấy — không còn hồi chuyển về đồng nhất tính với bản ngã. Satori: một trải nghiệm đốn ngộ có thể xảy ra bất chợt, như khoảnh khắc bừng sáng về bản chất thực tại. Tuy sâu sắc, Satori có thể thoáng qua; sau đó cấu trúc bản ngã vẫn có thể tái lập.
[xxx] Đỉnh cao của tình yêu là Divine Union – nơi bản ngã tan biến, nhường chỗ cho sự hợp nhất thiêng liêng giữa hai nguồn năng lượng Âm và Dương.
[xxxi] Self-resolution là hành trình tự hóa giải những rào cản nội tâm, để bản thể thực sự được hiển lộ trọn vẹn nhất Để đạt đến đỉnh cao của tình yêu là Divine Union, mỗi chúng ta đều phải đi qua cánh cửa của Self-resolution. Đó là lúc ta dũng cảm đối diện với những tổn thương, tháo gỡ những nút thắt của bản ngã và tìm thấy sự trọn vẹn trong chính mình. Khi sự “tự hóa giải” đã hoàn tất, sự “hợp nhất” sẽ tự khắc diễn ra như một lẽ tự nhiên của vũ trụ..
[xxxii] Reason -Lý trí. Nhấn mạnh vào khả năng tư duy khách quan, logic và hệ thống.
[xxxiii] Paradigm dịch là “hệ hình” có nghĩa là: Một khung nhận thức nền tảng – một mô hình tư duy bao trùm – quy định cách ta nhìn, hiểu và giải thích thế giới. Khái niệm paradigm trở nên nổi tiếng nhờ cuốn sách The Structure of Scientific Revolutions của Kuhn. Trong đó, Kuhn dùng “paradigm” để chỉ: Một hệ thống giả định nền tảng, phương pháp, giá trị, và mô hình mẫu được cộng đồng khoa học chấp nhận trong một thời kỳ – và chính nó quy định cái gì được xem là “khoa học”, cái gì là “sự thật”, và cách giải thích dữ liệu.
GIẢI MÃ BẢN ĐỒ TÂM THỨC (3)
GIẢI MÃ BẢN ĐỒ TÂM THỨC
David R. Hawkins, M. D., Ph. D.
Phạm Nguyên Trường dịch
Chương 1
KHÁI QUÁT VỀ BẢN ĐỒ TÂM THỨC
Bản đồ Tâm thức là lần đầu tiên ghi lại các tầng tâm thức được hiệu chỉnh. Trên biểu đồ này, chúng ta tìm thấy toàn bộ phổ trải nghiệm của con người và cách tự điều chỉnh chính mình để vươn tới hạnh phúc cao nhất và tự do tuyệt đối. Chỉ cần tiếp cận Bản đồ này đã là may mắn lớn, vì chỉ cần nghe một số thông tin cũng đã làm thay đổi tâm thức của chúng ta một cách mạnh mẽ.
HIỆU CHỈNH TÂM THỨC
Mỗi người sinh ra đều có một tầng tâm thức có thể hiệu chỉnh được, đó là trường năng lượng nằm trong trường tâm thức vô biên. Quả thật, mọi vật trong vũ trụ đều không ngừng phát ra một mô thức năng lượng với tần số xác định, tồn tại xuyên suốt thời gian; và ngày nay, chúng ta đã có trong tay một phương tiện để hiệu chỉnh các trường năng lượng theo sức mạnh tương đối của chúng, tương tự như việc đo cường độ ánh sáng.
Nhiều người đã biết đến sự phân tầng của tâm thức - thể hiện trong suốt chiều dài của lịch sử bằng nhiều sơ đồ khác nhau (ví dụ, mười bức tranh chăn trâu trong Thiền tông), nhưng đây là lần đầu tiên các tầng tâm thức được đánh giá theo sức mạnh năng lượng thực sự của chúng và tương quan với các khía cạnh cụ thể của trải nghiệm của con người. (Sự xuất hiện của khoa học lâm sàng về sự thật này được mô tả trong cuốn Power vs. Force)
Kỹ thuật mà chúng tôi sử dụng để hiệu chỉnh tâm thức là khoa học lâm sàng đang vận hành ngay trong chính đời sống của con người: kiểm tra cơ bắp, sử dụng hệ thần kinh của con người và năng lượng sống được thể hiện thông qua hệ thống kinh mạch (châm cứu), hoạt động như một thiết bị đo lường sinh học có độ nhạy cần thiết. (Kỹ thuật này không thể được sao chép bởi các dụng cụ khoa học không phải sinh vật.) Nói một cách đơn giản, khi có sự thật, cơ bắp của cơ thể trở nên “mạnh mẽ”. Ngược lại, nó trở nên “yếu đi” khi đứng trước giả dối (vắng mặt của sự thật, chứ không phải là ngược lại). Đây là phản ứng nhanh chóng tiết lộ mức độ sự thật của bất cứ điều gì. Để thực hiện bài kiểm tra một cách chính xác, thì ý định cần phải chính trực.
Bản đồ Tâm thức là một hướng dẫn tham khảo về phổ tâm thức, thể hiện tầng năng lượng đã được hiệu chỉnh, tương tự như nhiệt kế đo nhiệt độ, khí áp kế đo áp suất khí quyển và máy đo độ cao đo độ cao. Các phép đo này không dựa trên ý kiến cá nhân hay tri giác có tính tương đối. Vì chúng là cố định, tạo thành một thang đo tuyệt đối. Bất cứ điều gì cũng có thể được hiệu chỉnh và đặt vào một vị trí nào đó trên thang đo này dưới dạng một con số. Con số ấy không phải là phán xét hay tuyên bố đạo đức; nó chỉ đơn thuần biểu thị cho biết cường độ của cái đang được đo. Một tuyên bố quan trọng về trường tâm thức vô biên là: nó đại diện cho cái Tuyệt đối, lấy đó làm chuẩn để mọi thứ khác được hiệu chỉnh theo từng cấp độ. Hiệu chỉnh không thiết lập sự thật; nó chỉ xác nhận sự thật.
Không có gì đáng ngạc nhiên, ví dụ, năng lượng của Mẹ Teresa (điểm hiệu chỉnh 710) rất khác với năng lượng của Adolf Hitler (điểm hiệu chỉnh 40), và hầu hết mọi người đều tự đánh giá năng lượng của mình ở đâu đó trong khoảng giữa hai người này. Đấy là điều người ta đã biết theo lối trực giác, và giờ đây chúng ta có thể kiểm chứng trên một thang đo. Âm nhạc, phim ảnh, địa điểm, hệ thống tín ngưỡng, sách vở, các nhà lãnh đạo chính trị, lập trường tư tưởng, động vật, ý định—tất cả đời sống—đều phát ra năng lượng có thể được hiệu chỉnh, phản ánh bản chất của nó cùng với mức độ của tình yêu và sự thật.
Trên Bản đồ Tâm thức, mỗi tầng tâm thức được hiệu chỉnh trên thang đo logarit của năng lượng (cơ số 10), từ 1 đến 1.000, trong đó 1 là tồn tại, và 1.000, ở đỉnh cao nhất của Bản đồ, biểu thị tầng cao nhất từng hiện diện trên hành tinh này; đó là năng lượng của Chúa Jesus Christ, Đức Phật và Krishna. Tầng Nhục nhã (20) nằm ở dưới cùng, gần với cái chết, và tầng Can đảm (200) là điểm tới hạn của sự thật và tính chính trực. Tình yêu (500) là cánh cửa dẫn tới lĩnh vực tâm linh.
Tầng Can đảm (200) đánh dấu sự chuyển đổi từ năng lượng tiêu cực sang năng lượng tích cực. Đó là năng lượng của tính chính trực, trung thực với chính mình và trao sức mạnh đích thực. Các tầng tâm thức dưới Can đảm là phản sự sống (Bạo lực/Cưỡng ép - Force), trong khi các tầng tâm thức bên trên hỗ trợ sự sống (Sức mạnh đích thực - Power). Chúng ta thường tìm kiếm những người nằm bên trên tầng tới hạn 200. Chúng ta nói họ “cao” và đánh giá cao năng lượng “tích cực” của họ. Môi trường của họ an toàn và sạch sẽ. Động vật bị thu hút về phía họ. Họ có bàn tay khéo léo trong việc chăm sóc cây cối và ảnh hưởng tích cực đến mọi người xung quanh. Ở tầng Can đảm, những cảm xúc tiêu cực chưa hoàn toàn biến mất, nhưng có đủ năng lượng để xử lý chúng, vì người đó đã giành lại được quyền tự chủ. Cách nhanh nhất để đi từ dưới lên trên là hòa hợp với sự thật và tình yêu.
85% người dân trên thế giới nằm ở các tầng dưới 200, đấy là lý do vì sao hành tinh này lại nhiều đau khổ đến như thế. Thật may mắn là, nhân loại được cứu khỏi quá trình tự hủy diệt nhờ sự kiện là thiểu số nằm ở những tầng tích cực đối trọng được với sức nặng của tiêu cực. Ví dụ, một người ở tầng Tình yêu (500) đối trọng được với 750.000 người nằm dưới tầng 200. Ý nghĩa của quá trình tiến hóa nội tâm của mỗi người, khi đó, sẽ trở nên rõ ràng.
Một khám phá đáng chú ý khác là, những con thú cưng trong gia đình có điểm hiệu chỉnh khoảng 245–250, và bản chất của chúng nhìn chung là hiền lành, có nghĩa là chúng ta an toàn khi ở bên một con mèo hoặc chó hơn là ở bên cạnh phần lớn mọi người trên hành tinh này!
(Những phát hiện như thế có thể làm cho người đọc “sốc vì sự thật” (Truth shock[i]), vì vậy chúng ta sẽ quay lại những điểm dữ liệu này trong các chương tiếp theo bằng cách liên hệ chúng với nhiều bối cảnh khác nhau trong trải nghiệm chung của con người. Quá trình học tập diễn ra như là kết quả của làm quen từng bước một, vì mỗi lần tiếp xúc cho phép tích hợp thông tin có thể đã bị bỏ sót hoặc không được hiểu trong lần đầu tiên.)
Người bình thường (nếu họ có điểm hiệu chỉnh trên 200, tầng chính trực) có thể kiểm chứng các con số trên thang đo của chúng tôi bằng cách sử dụng phương pháp đơn giản là kiểm tra cơ bắp. Một người nào đó có thể kiểm tra bạn bằng cách ấn mạnh vào cánh tay bạn trong khi nói: “Trên thang điểm từ 1 đến 1.000, trong đó 1.000 đại diện cho các Thánh Thần Giáng Thế Vĩ Đại, Can đảm/Sự Thật trên 100? Trên 150? Trên 175? Trên 200?” Ở tầng 200, cánh tay sẽ yếu đi. Như đã nói đến trong các ấn phẩm trước, các phép đo này đã được kiểm chứng trên toàn thế giới, trong nhiều thập kỷ, ở nhiều quốc gia khác nhau, trong môi trường lâm sàng, và giữa các nhóm có tuổi đời và thuộc các nền văn hóa khác nhau. (Giải thích đầy đủ về kỹ thuật này được trình bày trong Phụ lục A.)
Cốt lõi của vấn đề có thể được trải nghiệm và hiểu rõ một cách dễ dàng. Bất cứ thứ gì có năng lượng trên tầng 200 đều làm cho cơ bắp của bạn mạnh mẽ hơn, và bất cứ thứ gì dưới tầng 200 đều làm cho bạn yếu đi. Do đó, chúng ta có một phương tiện sẵn có để phân biệt thật giả ngay lập tức. Cơ thể có thể phân biệt, ở mức độ tinh tế nhất, sự khác biệt giữa những gì hỗ trợ sự sống và những gì không hỗ trợ sự sống.
Chúng ta không cần ngạc nhiên trước sự kiện này. Tất cả sinh vật sống đều phản ứng tích cực với những gì hỗ trợ sự sống và phản ứng tiêu cực với những gì đe dọa sự sống; đây là cơ chế sinh tồn cơ bản. Vốn có trong tất cả các dạng sống là khả năng phát hiện sự thay đổi và phản ứng mang tính điều chỉnh—do đó, ở độ cao hơn, khi lượng oxy trong khí quyển trở nên khan hiếm hơn, cây cối nhỏ hơn. Nguyên sinh chất của con người nhạy cảm hơn hẳn so với thực vật. Nếu bạn sử dụng cơ thể của mình như một con lắc, bạn sẽ nhận thấy rằng mình tự động ngã về phía trước khi giữ trong tâm trí sự thật, và bạn ngã về phía sau khi giữ trong tâm trí một điều không phải là sự thật. “Tôi muốn được chữa lành” là một tuyên bố có thể được kiểm chứng khi một người bắt đầu quá trình trị liệu. Một cú ngã ngửa cho thấy sự thiếu sẵn sàng để được chữa lành. Nếu họ ngã về phía trước, chứng tỏ ý định của họ của họ là chân thành, thì tiên lượng là tốt.
CƠ SỞ DỮ LIỆU CỦA TÂM THỨC
Bây giờ, để xua tan nỗi sợ hãi của tôi là, mặc cho những nỗ lực tốt nhất của mình, người đọc có thể không nắm bắt được thông điệp cốt lõi của công trình nghiên cứu này, tôi sẽ trình bày rõ ràng ở đây ngay từ đầu: tâm trí con người cá nhân giống như một cái máy tính được kết nối với một cơ sở dữ liệu khổng lồ. Cơ sở dữ liệu chính là tâm thức của nhân loại, trong đó tâm thức của mỗi chúng ta chỉ là một biểu hiện cá nhân, nhưng có nguồn gốc từ tâm thức chung của toàn thể nhân loại. Cơ sở dữ liệu này siêu việt thời gian, không gian và mọi giới hạn của tâm thức cá nhân. Cơ sở dữ liệu này là lĩnh vực của thiên tài; bởi vì nhân loại tham gia vào cơ sở dữ liệu, mọi người, do được sinh ra trên đời, đều có quyền truy cập vào lĩnh vực của thiên tài. Thông tin không giới hạn chứa trong cơ sở dữ liệu này giờ đây đã được chứng minh là có sẵn cho bất kỳ ai chỉ trong vài giây, bất cứ lúc nào và ở bất cứ chỗ nào. Đây quả thực là một khám phá đáng kinh ngạc, mang sức mạnh thay đổi cuộc sống, cả cá nhân lẫn tập thể, mà trước đây chưa từng dự đoán được.
Nhà phân tâm học vĩ đại người Thụy Sĩ, C. G. Jung, (điểm hiệu chỉnh 520), từ việc nhận ra rằng con người ở khắp nơi — dù không hề liên hệ trực tiếp với nhau — vẫn đồng thời biểu hiện những hình ảnh, biểu tượng và mô thức tâm lý giống nhau, đã suy ra khái niệm “vô thức tập thể”. Từ đó, ông kết luận rằng, bên dưới tâm thức cá nhân còn tồn tại một tầng vô thức sâu hơn — một kho tiềm thức (subconscious pool[ii]) chung của toàn nhân loại, nơi tích lũy những kinh nghiệm nền tảng của kiếp người. Chúng ta có thể hình dung nó như một cơ sở dữ liệu khổng lồ, ẩn giấu của nhận thức nhân loại, được đặc trưng bởi những mô thức tổ chức mạnh mẽ và phổ quát. Lời hứa lớn lao của “cơ sở dữ liệu” này — khả năng tiếp cận tất cả những gì đã từng được trải nghiệm ở bất cứ đâu trong dòng thời gian — chính là năng lực “biết” hầu như bất cứ điều gì, ngay khoảnh khắc nó được “hỏi”.
Cơ sở dữ liệu này là căn nguyên của mọi tri thức được tiếp cận ngoài phạm vi lý trí — dù dưới tầng tiềm thức hay vượt lên trên nó — qua trực giác, linh báo, chiêm mộng, huyền thuật, hay cả những “dự đoán” tưởng chừng ngẫu nhiên. Đó là cội nguồn của thiên tài, suối nguồn của cảm hứng, và là nguồn phát sinh của những tri thức tâm linh “khó lý giải”. Câu hỏi không thể được đặt ra trừ khi đã có tiềm năng của câu trả lời. Lý do là vì cả câu hỏi và câu trả lời đều được tạo ra từ cùng một hệ hình và do đó, hoàn toàn phù hợp. Không có “trên” nếu không có “dưới”. Nhân quả xảy ra đồng thời chứ không phải theo trình tự; đồng nhịp là thuật ngữ được Tiến sĩ Jung sử dụng để giải thích hiện tượng này trong trải nghiệm của con người. Như những gì chúng ta rút ra từ việc khảo sát vật lý học cao cấp, một sự kiện ‘ở đây’ trong vũ trụ không ‘gây ra’ một sự kiện ‘ở kia’. Thay vào đó, cả hai xuất hiện đồng thời, nhưng quan sát dựa trên tri giác khiến ta nhìn chúng như có quan hệ nhân–quả[iii].
Tương tự như vậy, chúng ta quan sát bầu trời vào ban đêm và thích thú khi nhận ra một chòm sao yêu thích. Nhưng trên thực tế, không hề có cái gọi là chòm sao. Mô thức quen thuộc mà chúng ta gọi là các ngôi sao được tạo thành từ những điểm sáng phát ra từ những nguồn sáng hoàn toàn không liên quan—một số cách xa hàng triệu năm ánh sáng, một số thậm chí nằm trong các thiên hà khác nhau, một số thực sự là những thiên hà riêng biệt; nhiều thiên hà đã tắt và biến mất sau hàng thiên niên kỷ. Những ánh sáng đó không có quan hệ không gian hay thời gian nào với nhau, trừ những gì chúng ta gán cho chúng. Không chỉ là hình dạng của một cái gầu hay chòm sao Gấu Lớn hay chòm sao hình người mà chính là mô thức, “chòm sao” đó, được con mắt của người quan sát gán lên bầu trời.
Vậy thì liên hệ giữa những sự kiện này là gì, nếu không phải là một chuỗi tuyến tính nhân quả theo vật lý học Newton? Rõ ràng, hai sự kiện này có liên quan hoặc kết nối với nhau theo cách không nhìn thấy được nào đó—nhưng không phải bằng lực hấp dẫn, từ tính, gió vũ trụ hay ether; chúng được bao trùm bởi trường hút có cường độ lớn đến mức bao gồm cả hai sự kiện.
Tương tự, khi đàn cá bơi đồng bộ hoặc những con chim bay theo đội hình chữ V với đàn của chúng, mỗi cá thể ở vị trí đó không phải do sự thẳng hàng với những cá thể khác mà vì tất cả chúng đều được điều chỉnh theo cùng một trường hút. Do đó, một con cá bơi ở rìa đàn sẽ lập tức quay đầu đồng bộ với cả đàn khi chúng đang chạy trốn kẻ săn mồi, thậm chí khi nó cách xa tới một phần tư dặm.
Sự tồn tại của một cơ sở dữ liệu của tâm thức phi tuyến tính, liên kết với nhau lúc đầu có thể khó hiểu, nhưng chúng ta sẽ đi xung quanh lĩnh vực này theo nhiều cách khác nhau để cuối cùng, bạn sẽ không chỉ nắm bắt được thực tại của tâm thức mà còn nhận ra vị trí quan trọng của mình trong đó.
NỀN TẢNG KHOA HỌC CỦA MÔ THỨC ĐIỂM HÚT
Công trình nghiên cứu này, bắt đầu từ năm 1965, được thúc đẩy bởi quá trình phát triển trong nhiều lĩnh vực khoa học khác nhau — trong đó có ba lĩnh vực mang ý nghĩa đặc biệt quan trọng:
· Nghiên cứu lâm sàng về sinh lý học của hệ thần kinh và sự vận hành toàn thể của cơ thể con người, dẫn tới quá trình hình thành, trong thập niên 1970, một ngành khoa học mới: cơ thể động học.
· Song song với đó, trong lĩnh vực công nghệ, máy tính được thiết kế với khả năng thực hiện hàng triệu phép tính chỉ trong vài phần nghìn giây, mở ra những công cụ mới của trí thông minh (intelligence[iv]) nhân tạo. Việc tiếp cận một cách đột ngột với kho dữ liệu khổng lồ — trước đây chưa thể nào hình dung được — đã khai sinh cách nhìn mang tính cách mạng đối với các hiện tượng tự nhiên: lý thuyết hỗn độn.
· Đồng thời, trong các ngành khoa học lý thuyết, cơ học lượng tử lại dẫn đến vật lý lý thuyết cao cấp; thông qua môn toán học có liên quan, xuất hiện ngành nghiên cứu hoàn toàn mới về động lực học phi tuyến tính, chứng minh rằng trong vũ trụ thực sự không có hỗn loạn nào hết; cảm giác về sự rối loạn chủ yếu phát sinh từ những giới hạn của tri giác (perception[v]) của con người.
Attractor – Điểm hút là tên gọi của mô thức có thể xác định được – xuất phát từ đám dữ liệu dường như vô nghĩa. Có sự cố kết không nhìn thấy được trong tất cả những dữ liệu dường như chẳng ăn nhập gì với nhau. Nhiều thập kỷ trước, Edward Lorenz, nhà toán học và khí tượng học của MIT, là người đầu tiên chứng minh được rằng cố kết như thế vẫn tồn tại trong tự nhiên, đấy là khi ông nghiên cứu đồ họa máy tính được tạo ra từ các mô thức thời tiết trong một thời gian dài. Những thứ thoạt nhìn dường như là hỗn loạn, là những hiện tượng rời rạc hóa ra lại là mô thức mạch lạc, được ghi nhận trong mô thức điểm hút mà ông xác định được - gọi là “Con bướm của Lorenz”.
Lorenz đã chứng minh được liên hệ mật thiết giữa các hiện tượng tưởng chừng như không liên quan với nhau, đến mức những thay đổi nhỏ có thể tạo ra những ảnh hưởng rất to lớn. Như ông nói, một con bướm vỗ cánh có thể trở thành một cơn lốc xoáy. Đây chính là “hiệu ứng cánh bướm” nổi tiếng của ông - khám phá này thách thức quan điểm “vũ trụ vận hành như một cái đồng hồ” của Isaac Newton, tức là quan điểm mang tính quyết định luận về tự nhiên vào lúc đó. Những phát hiện của Lorenz đã tạo ra cuộc cách mạng trong nhận thức về các hiện tượng, như là hệ quả của những tương tác giữa các mô thức điểm hút, chứ không phải là quan hệ nhân quả tuyến tính.
Quan trọng nhất đối với công trình nghiên cứu của chúng tôi là khám phá ra rằng một số mô thức điểm hút rất mạnh (ví dụ như Sẵn sàng, hay Tình yêu) và một số khác yếu hơn nhiều (ví dụ như Mặc cảm tội lỗi hay Tức giận). Có một điểm tới hạn phân định hai nhóm điểm hút khác biệt rõ rệt này. Hiện tượng này của tâm thức song hành và tương ứng với các liên kết năng lượng cao và thấp được mô tả trong toán học về các liên kết hóa học.
Trường chi phối (A field of dominance) được thể hiện bằng ảnh hưởng của các mô thức năng lượng cao đối với các mô thức năng lượng yếu hơn. Tương tự như một từ trường nhỏ nằm trong từ trường lớn hơn, mạnh hơn của một nam châm điện khổng lồ. Vũ trụ hiện tượng là biểu hiện của sự tương tác của vô vàn các mô thức điểm hút với cường độ khác nhau.
Quan hệ nhân quả, trong thế giới có thể quan sát được, trong hệ hình Newton thường được giả định là hoạt động theo phương thức sau: A→B→C.
Đây được gọi là một chuỗi tuyến tính mang tính quyết định luận —giống như những quả bóng bi-a lần lượt va chạm vào nhau. Giả định ngầm của hệ hình Newton là A gây ra B, B gây ra C. Trong mô hình quyết định luận duy vật này, không có gì mang tính tự do tự thân; tất cả đều chỉ là hệ quả của những nguyên nhân khác. Do đó, nó bị giới hạn; cái mà hệ thống này thực sự định nghĩa là thế giới của Force (Bạo lực/Cưỡng ép). Lực A tạo ra lực B, sau đó được truyền đến lực C với hậu quả D. D, đến lượt nó, trở thành khởi đầu của một chuỗi phản ứng dây chuyền, bất tận. Đây là thế giới của bán cầu não trái, tầm thường và có thể dự đoán được. Đó là hệ hình Newton bị giới hạn (điểm hiệu chỉnh 450), các ngành khoa học truyền thống hoạt động từ hệ hình này: quen thuộc, có thể kiểm soát được, nhưng thiếu sáng tạo — do đó, bị chi phối, và bị giới hạn, bởi quá khứ. Đó không phải là thế giới của thiên tài, nhưng đối với nhiều người, nó mang lại cảm giác an toàn. Đó là thế giới của năng suất và có tính thực tiễn. Tuy nhiên, đối với những người sáng tạo, nó dường như tầm thường, tẻ nhạt, thiếu cảm hứng và hạn chế.
Từ biểu đồ này, chúng ta thấy rằng cội nguồn (ABC), là mô thức điểm hút không thể quan sát được, tạo ra chuỗi có thể nhìn thấy được A→B→C, là hiện tượng có thể quan sát được trong thế giới ba chiều, có thể đo lường được. Những vấn đề điển hình mà thế giới cố gắng giải quyết tồn tại ở tầng hữu hình A→B→C. Nhưng công việc của chúng tôi là tìm mô thức điểm hút vốn có, tức làm tìm cội nguồn ABC, mà dường như là xuất phát điểm của A→B→C. Mô tả này về cách vũ trụ vận hành phù hợp với lý thuyết của nhà vật lý David Bohm (điểm hiệu chính 505): vũ trụ toàn ảnh với trật tự ẩn vô hình (“cuộn lại”) và trật tự hữu hình (“trải ra”).
Chúng ta thấy khái niệm ABC, nằm trong vũ trụ không nhìn thấy được, cuộn lại, sẽ kích hoạt sự xuất hiện vào thế giới nhìn thấy được để tạo ra trình tự A→B→C. Như vậy, thế giới nhìn thấy được được tạo ra từ thế giới không nhìn thấy được, và do đó, bị ảnh hưởng bởi tương lai. Khả năng hiện thực hóa của khái niệm không nhìn thấy được dựa trên sức mạnh của chính khái niệm ban đầu. ABC bên trong càng phù hợp với các nguyên tắc phổ quát của sự sống, thì A→B→C của nó trong thế giới bên ngoài càng hiệu quả.
Trong sơ đồ đơn giản này, các tác nhân vận hành vượt ra ngoài cả cái có thể quan sát được và cái không thể quan sát được; chúng ta có thể hình dung chúng như một cầu vồng bắc ngang giữa địa hạt xác định và địa hạt không xác định.
Do đó, không có gì xảy ra trên thế giới mà không được hình thành trước tiên “ở đây” (Tâm thức – ND). Ý tưởng xây dựng tòa nhà cao nhất thế giới đã tạo ra khái niệm không nhìn thấy được, cuối cùng trở thành Tòa nhà Empire State trong thế giới nhìn thấy được. Tất cả các biểu hiện “ở ngoài kia” đều phát sinh trước tiên từ “ở đây”. Nhận thức khoa học sâu sắc này tương ứng với quan điểm về thực tại được trải nghiệm trong suốt chiều dài của lịch sử bởi các Giác Giả, những người đã tiến hóa vượt ra ngoài tâm thức tới trạng thái tỉnh thức thuần túy. Chính tâm thức là chìa khóa cho “lý thuyết trường thống nhất của vạn vật” (tuyên bố có điểm hiệu chỉnh 1.000).
Một số khái niệm và giá trị có sức mạnh lớn hơn hẳn những khái niệm và giá trị khác. ABC có thể là một điểm hút năng lượng cao hoặc điểm hút năng lượng thấp. Nói một cách đơn giản, các mô thức điểm hút mạnh làm cho cơ thể trở nên mạnh mẽ, còn các mô thức yếu làm cho cơ thể trở nên yếu đi. Nếu bạn có tâm tha thứ, thì trong bài kiểm tra cơ bắp lâm sàng cánh tay của bạn sẽ rất mạnh. Nếu bạn có ý nghĩ trả thù, cánh tay của bạn sẽ yếu đi.
Đối với mục đích của chúng ta, thực sự cần là nhận ra rằng Sức mạnh đích thực (Power) là cái làm cho bạn trở nên mạnh mẽ, trong khi Bạo lực/Cưỡng bức (Force) làm cho bạn trở nên yếu đi. Tình yêu, từ bi và tha thứ, những cảm xúc mà một số người có thể hiểu nhầm là phục tùng, thực chất lại vô cùng mạnh mẽ. Ngược lại, trả thù, phán xét và lên án chắc chắn sẽ khiến bạn trở nên yếu đi. Do đó, dù có đúng đắn về mặt đạo đức hay không, sự thật đơn giản là về lâu dài, yếu không thể thắng mạnh. Cái yếu sẽ tự sụp đổ.
Tất cả các bậc thầy vĩ đại trong suốt chiều dài của lịch sử loài người chỉ đơn giản là dạy đi dạy lại một điều - bằng bất kỳ ngôn ngữ nào, tại bất kỳ thời điểm nào. Tất cả đều nói một cách đơn giản: Hãy từ bỏ những điểm hút yếu để hướng đến những điểm hút mạnh.
Các điểm hút là những nguyên tắc tổ chức, và các nguyên tắc tổ chức có tầng sức mạnh bên trong khác nhau. Đó là một trong những bí mật của thành công nơi những con người có sức mạnh đích thực: toàn bộ đời sống của họ tự nhiên được an bài, không cần nỗ lực, bởi họ hoàn toàn hòa hợp với những nguyên lý ở tầng rất cao và có nhiều sức mạnh đích thực.
Ứng dụng điểm hút
Giờ đây khi chúng ta hiểu được làm sao mà Mahatma Gandhi, một người đàn ông trầm lặng, nặng 40kg, chỉ mặc một chiếc dhoti, đã đánh bại Đế quốc Anh. Rất đơn giản. Gandhi được tổ chức hoàn toàn trong mọi suy nghĩ, hành động, cảm nhận và thể hiện của mình, bởi một nguyên tắc phổ quát, nói rằng mọi người đều bình đẳng, đấy là do thần tính của tạo hóa, với các quyền con người vốn có. So với nguyên tắc này, Đế quốc Anh xuất phát từ nguyên tắc hạn chế, chỉ giành lợi ích cho mục tiêu chính trị của mình; do đó, điểm hút vị tư của nó đã bị áp đảo bởi yếu tố điểm hút phổ quát đang kích hoạt Mahatma Gandhi. Những sự kiện diễn ra trong lịch sử Ấn Độ chỉ đơn thuần là biểu hiện bên ngoài của điểm hút yếu hơn phải ngả theo điểm hút mạnh hơn (phù hợp với “các trường chi phối”).
Nguyên tắc, ví dụ như tình yêu có sức mạnh chính trực cực kì to lớn. Chúng ta biết sự thật này từ những trải nghiệm của con người—rằng vì tình yêu, chúng ta làm những việc và chấp nhận rủi ro mà theo quan điểm của logic là vô lý. Chúng ta đã trải nghiệm điều này trong thù hận cá nhân. Chúng ta oán giận ai đó suốt cả đời vì những việc mà chúng ta luôn luôn cho là độc ác và bất công mà họ đã làm. Rồi một ngày, khi đang làm vườn, chúng ta chợt nhận ra là người đó thật đáng thương khi họ bị hạn chế như vậy vào lúc đó. Họ đã phải vượt qua sợ hãi đó để trở thành như thế. Đột nhiên, tâm từ bi do hiểu biết mở ra một điểm hút đầy sức mạnh. Chỉ trong tích tắc, cái không thể giải quyết được đã được giải quyết ngay lập tức. Không chỉ cái gọi là ‘không thể tha thứ’ đã được tha thứ, mà ta còn nhận ra rằng vốn dĩ chẳng có gì cần phải tha thứ hết — ngoài việc con người ấy chỉ là con người. Khi ta thực sự ôm trọn tính người nơi chính mình, việc tha thứ cho tính người nơi kẻ khác trở nên đơn giản. Và càng lặp lại việc này, tha thứ càng diễn ra một cách tự nhiên, không cần nỗ lực.
Rõ ràng là, mô thức điểm hút chi phối tất cả chúng ta chính là mô thức điểm hút của chính sự sống. Cũng như không gì trong vũ trụ của chúng ta có thể thoát khỏi ảnh hưởng của trọng lực, các nguyên tắc mà chúng ta vận hành hoặc trùng khớp với mô thức điểm hút của chính sự sống, hoặc không trùng khớp. Sức mạnh chính trực xuất phát từ việc hòa hợp với các mô thức điểm hút chi phối, phù hợp với những thứ hỗ trợ sự sống.
Chiêm nghiệm Bản đồ Tâm thức đảo ngược hiểu biết của thế gian về nhân quả. Về mặt này, Tuyên ngôn Độc lập (Hoa Kỳ) có thể là công trình nghiên cứu bổ ích. Văn kiện này có điểm hiệu chỉnh rất cao, khoảng 700. Nếu xem xét từng câu một, cội nguồn sức mạnh của nó sẽ hiện ra: khái niệm cho rằng tất cả mọi người đều bình đẳng là do thần tính của tạo hóa, và nhân quyền là bản chất của việc tạo ra con người và do đó, không thể bị tước đoạt. Thú vị là, đây cũng chính là khái niệm từng là cội nguồn sức mạnh của Mahatma Gandhi. ABC đầy nội lực này giải thích cho sự thành công của Hoa Kỳ với tư cách là chế độ dân chủ ở tầng A→B→C có thể quan sát được. Nếu bỏ đi phần nói đến Thần tính khỏi văn kiện lập quốc này, điểm hiệu chỉnh sẽ giảm đáng kể.
CÁC CỘT CỦA BẢN ĐỒ
◆ Cột ở giữa của Bản đồ là các tầng tâm thức của mỗi trường năng lượng, cùng với các giá trị logarit tương ứng. Chương tiếp theo mô tả cột ở này và bàn chi tiết bản chất của từng tầng. Phần này giới thiệu bốn cột nằm bên trái và bên phải các tầng tâm thức trên Bản đồ. Các cột này cho thấy các khía cạnh quan trọng trong trải nghiệm của con người có tương quan với từng tầng tâm thức: quan điểm về Chúa, quan điểm về tự ngã, cảm xúc và quá trình diễn ra bên trong tâm thức. Phần sau trong cuốn sách sẽ bàn về chức năng của não bộ và mức độ hạnh phúc tương quan với tầng tâm thức.
◆ Cột ở phía ngoài cùng bên trái Bản đồ thể hiện quan điểm về Thiên Chúa ở mỗi tầng tâm thức. Mỗi tầng có hiểu biết riêng về Thiên Chúa - giải thích sự tồn tại của các hệ thống thần học và tín ngưỡng tôn giáo rất khác nhau. Quan điểm của một người về Thiên Chúa không liên quan gì đến Thiên Chúa; thay vào đó, tầng tâm thức của họ quyết định quan điểm của người đó về Thiên Chúa.
Ở dưới cùng của Bản đồ, chúng ta thấy những mô tả ma quỷ về Thiên Chúa, những phóng chiếu nhân hình hóa, trong đó Thiên Chúa là người trừng phạt, thất thường, tàn nhẫn và đáng sợ. Trong một số sách của Kinh Thánh và trong các tín ngưỡng nguyên thủy, Thiên Chúa phải được xoa dịu bằng cách hiến tế động vật và con người. Ngay cả hiện nay, những lời tiên tri về “ngày tận thế” vẫn tràn lan, mô tả các hiện tượng tự nhiên, ví dụ, sóng thần là bằng chứng về sự tức giận của Thiên Chúa hoặc sự ứng nghiệm của một số lời tiên tri từ Kinh Thánh. Đây là mặt trái của tôn giáo và là lý do vì sao nhiều người trở thành người tâm linh chứ không theo tôn giáo. Sai lầm của những hình ảnh miêu tả về Thiên Chúa như thế là hiển nhiên khi chúng ta nhớ rằng sóng thần, động đất và bão tố đã xảy ra trên hành tinh này từ rất lâu trước khi có loài người! Đó là thảm họa tự nhiên được cho là đã xóa sổ loài khủng long. Vậy, Thiên Chúa có tức giận với khủng long hay không? Những quan điểm như thế về Thiên Chúa rõ ràng là những phóng chiếu tiêu cực từ bản ngã của con người.
Ở những tầng tâm thức cao hơn, Thiên Chúa được nhìn nhận là nhân từ, trí huệ, vô cùng yêu thương và khoan dung. Từ những tầng này, Thiên Chúa được công nhận là cội nguồn của tình yêu, nhất thể (oneness[i]), và của toàn thể hiện hữu (all-being-ness[ii]). Cuối cùng, chính Thần tính tỏa sáng trong vạn vật, tại thời điểm đó, chỉ có thể nói: Vinh quang Thiên Chúa trên các tầng trời!
◆ Bản đồ cũng có một cột nói về quan điểm sống của mỗi người. Những người ở tầng tâm thức tự thù ghét chính mình và phóng chiếu thái độ căm thù ra thế giới, họ nhìn thấy cái ác ở khắp mọi nơi. Khi bạn thăng lên trên thang đo, quan điểm về chính mình và cuộc đời của bạn ngày càng tích cực hơn, và cuối cùng bạn cảm thấy thoải mái với chính mình. “Hãy là chính mình” có điểm hiệu chỉnh 590, tầng tâm thức của Joseph Merrick - được gọi là Người Voi - vì một căn bệnh ở xương mà bị biến dạng nghiêm trọng. Mặc dù bị chế giễu, nhạo báng và xa lánh, thái độ và phong thái của ông được mô tả là thực sự thánh thiện. Ông hiền lành, có tâm tha thứ, không phản ứng và từ bi, ngay cả khi đứng trước những hành động vô minh nhất. Con người có một không hai này ngụ ý rằng cuộc đời đặc biệt của ông tượng trưng cho việc người ta có thể trở thành con người tâm linh ngay cả trong những hoàn cảnh khắc nghiệt nhất. Đáng chú ý, ông đã lờ đi những cám dỗ của than thân trách phận, tâm lý nạn nhân, oán hận và căm thù những kẻ hành hạ mình. Ở tầng 590, ông đứng ở ngưỡng cửa của Chứng ngộ và an bình với chính mình và thế giới.
Nhân từ đối với chính mình là bước quan trọng, vì nó khẳng định sự thật rằng bạn đang làm hết sức mình. Thực chất là, từ khoảnh khắc này sang khoảnh khắc khác, con người luôn hành xử ở mức tốt nhất mà họ có thể vào lúc đó. Mọi khả năng “làm khác đi” chỉ tồn tại như một giả định trong suy nghĩ mà thôi. Từ trường năng lượng tiêu cực, mọi người đều đặt ra những lý tưởng bất khả thi cho chính mình và sau đó rơi vào mặc cảm tội lỗi hoặc tự trừng phạt nếu họ không vươn tới được lý tưởng mà mình đặt ra. Tự hài lòng ở tầng Trung dung (250) làm cho người ta thoát khỏi những lời thì thầm tiêu cực và nghi ngờ chính mình được trải nghiệm ở các tầng thấp hơn, có thể làm cho người ta tê liệt. Nói chung, những người hoạt động ở tầng chính trực có thể thấy rằng có một lĩnh vực nhất định trong cuộc sống mà họ phải chấp nhận quan điểm tiêu cực về chính mình, và buông bỏ kháng cự có thể là biện pháp giải thoát. Ví dụ, người phụ nữ buông bỏ hình ảnh tiêu cực về cơ thể của mình sẽ được giải thoát khỏi việc liên tục mất năng lượng khi so sánh mình với những người phụ nữ khác. Người nào vượt qua được sợ nói trước công chúng sẽ được giải thoát để bước vào những lĩnh vực mới trong sự nghiệp và thể hiện chính mình.
◆ Bên phải danh sách các tầng là những cảm xúc gắn liền với từng tầng cụ thể. Đây là những giai đoạn kinh điển được tìm thấy trong triết học thường hằng (perennial philosophy[iii]), phân tâm học và nhiều truyền thống tôn giáo khác nhau. Dưới tầng 200, chúng ta gặp những gì phân tâm học gọi là các cảm xúc “khẩn cấp” (“emergency” emotions[iv]), còn trên tầng 200 là các cảm xúc “phúc lợi” (“welfare” emotions[v]). Tất cả những cảm xúc ở các tầng thấp hơn đều là những giới hạn, khiến chúng ta mù quáng trước thực tại của Đại Ngã đích thực.
Chống lại cảm xúc tiêu cực sẽ khiến bạn bị mắc kẹt. Nếu bạn sẵn sàng buông bỏ những cảm xúc tiêu cực, bạn sẽ tự do hơn và tiến lên trên thang điểm, cuối cùng trải nghiệm chủ yếu là những cảm xúc tích cực. Ở đỉnh cao nhất của thang đo, diễn ra nhận thức về Đại ngã đích thực của người đó và các tầng Chứng ngộ khác nhau. Quan trọng chính cần lưu ý là, càng lên cao hơn, và càng tự do hơn, thì sẽ xảy ra cái mà thế giới gọi là tỉnh thức tâm linh (spiritual awareness[vi]), trực giác và sự phát triển của tâm thức. Không thể nhìn thấy hoặc trải nghiệm những sự kiện này ở các tầng tâm thức thấp hơn, nhưng chúng sẽ trở thành hiển nhiên và rõ ràng ở các tầng tâm thức cao hơn. Ví dụ, khi một người đang bị chi phối bởi Ham muốn (điểm hiệu chỉnh 125), người đó không thể tưởng tượng rằng Thanh thản (điểm hiệu chỉnh 540) lại là khả thi. Tuy nhiên, đối với người đã cai nghiện, Thanh thản là một thực tại diễn ra mỗi ngày.
Cần nhớ rằng các tương quan về mặt cảm xúc của trường năng lượng tâm thức ở một cá nhân hiếm khi được biểu hiện một cách thuần túy. Một người có thể hoạt động ở tầng này trong một lĩnh vực nhất định của đời sống và ở tầng hoàn toàn khác trong một lĩnh vực khác của đời sống. Tầng tâm thức tổng thể của một cá nhân là tổng hoà của tất cả các tầng khác nhau đang hoạt động trong đời sống của người đó.
◆ Xa hơn về bên phải cho thấy quá trình diễn ra bên trong chính tâm thức. Ví dụ, ở tầng Kiêu hãnh, thổi phồng là quá trình diễn ra bên trong tâm thức và đặc biệt nguy hiểm trong xã hội chúng ta, với thói ái kỉ hiếu chiến kiểu như “Tôi đúng” (ở cả hai thái cực của phổ chính trị) và thổi phồng của những người hoang tưởng tự đại, dẫn dắt quần chúng đến chỗ chết. Hiện tượng này có thể quan sát được, đấy là Napoleon, với tầng tâm thức ban đầu khá cao, 450, là một nhà chiến thuật giỏi và thiên tài toán học cùng với nhiều thành tích khác. Rồi đột nhiên, khi ông ta tự phong mình làm hoàng đế, tầng tâm thức của ông giảm xuống dưới 200. Giáo hoàng thường phong vương cho các nguyên thủ châu Âu, nhưng Napoleon lại tự phong vương cho chính mình—sự tự thổi phồng cao nhất! Trong khoảnh khắc đó, tầng tâm thức của ông ta giảm từ 450 xuống còn 175. Khi đối đầu với Công tước Wellington (tầng tâm thức 420) ở Waterloo, ý định của Napoleon ở tầng 75 và do đó, ông ta đã bị đánh bại. Sự kiện tương tự cũng xảy ra với Hitler, giảm từ 430 xuống còn 40. Hoang tưởng tự đại tấn công một nhà lãnh đạo, nhưng dân chúng không nhận thức được sự kiện này. Lúc đầu, các chương trình của Hitler đã thúc đẩy xã hội phát triển—đường cao tốc..v.v... Rồi đột nhiên ông ta sụp đổ, và con quái vật xuất hiện. Con người từng là ân nhân vĩ đại đã trở thành kẻ huỷ diện xã hội vĩ đại.
Do đó, Bản đồ Tâm thức soi sáng theo cách mới quá trình tiến hoá của lịch sử. Phân biệt quan trọng đối với mục đích của chúng ta là giữa Bạo lực/Cưỡng chế (Force - năng lượng nằm dưới tầng 200) và Sức mạnh chính trực (Power - năng lượng nằm trên tầng 200). Ví dụ, chúng ta có thể nghiên cứu thời kỳ lịch sử khi chế độ thực dân Anh ở Ấn Độ cáo chung. Như đã nói bên trên, vị thế của Đế quốc Anh lúc đó (khoảng 175) —thổi phồng, tư lợi và bóc lột — như chúng ta thấy, nằm dưới tầng tới hạn 200 trên Bản đồ Tâm thức. Động lực của Mahatma Gandhi (khoảng 760) nằm gần đỉnh cao nhất của Bản đồ Tâm thức. Gandhi chiến thắng vì ông đứng trên nền tảng Tâm thức mang quyền năng vượt xa mọi hình thức cưỡng lực. Ông hòa hợp với nguyên lý phổ quát của Sự thật: Mọi con người đều được Thượng Đế tạo ra bình đẳng, mang trong mình quyền tự quyết bẩm sinh. Đế quốc Anh đại diện cho Bạo lực; và bất cứ khi nào Bạo lực đối đầu với Sức mạnh đích thực, thì cuối cùng Bạo lực cũng sẽ thất bại.
Trong suốt chiều dài của lịch sử, tất cả các tôn giáo lớn và các môn học tâm linh trên thế giới đều quan tâm đến các kỹ thuật để thăng tiến qua các tầng tâm thức này. Hầu hết đều ngụ ý, hoặc nói rõ ràng, rằng leo lên những nấc thang này là nhiệm vụ khó khăn và thành công phụ thuộc vào việc có một sư phụ (hoặc ít nhất là giáo lý) để đưa ra hướng dẫn cụ thể và truyền cảm hứng cho người tìm kiếm, nếu không họ có thể rơi vào tuyệt vọng vì không thể đạt được mục tiêu mà không có trợ giúp. Hy vọng rằng, Bản đồ sẽ giúp tạo điều kiện thuận lợi cho nỗ lực cao nhất này của con người này.
CÂU HỎI VÀ TRẢ LỜI
Hỏi: Cái gì quyết định tầng tâm thức của một người?
Trả lời: Tầng tâm thức của một cá nhân được quyết định bởi các nguyên tắc mà họ cam kết. Muốn duy trì tiến bộ trong tâm thức, không thể có dao động trong nguyên tắc, nếu không người đó sẽ rơi xuống tầng tâm thức thấp hơn. Lập luận thực dụng kiểu “mục đích biện minh cho phương tiện” chưa bao giờ là biện minh thỏa đáng. Nếu giết người là sai, nguyên tắc đó không thể cho phép bất kỳ ngoại lệ nào, dù về mặt cảm xúc, lý lẽ được sử dụng để biện minh cho ngoại lệ đó có hấp dẫn đến đâu. Gandhi không bao giờ đi lệch khỏi các nguyên tắc của mình; đối với ông, bất bạo động vừa là phương tiện vừa là mục đích, và ông giữ vững nguyên tắc bất bạo động trong “cả tư tưởng, lời nói và hành động” (cụm từ của Gandhi).
Hỏi: Người bao nhiêu tuổi thì có thể tiến hành hiệu chỉnh?
Trả lời: Theo nghiên cứu của chúng tôi, mỗi thực thể - ngay từ thời điểm thụ thai (một thực thể tâm linh tiến nhập vào cơ thể vào tháng thứ ba của thai kỳ) - đều đã có tầng tâm thức có thể hiệu chỉnh được.
Hỏi: Phải chăng Bản đồ Tâm thức được hiệu chỉnh ngụ ý sự đánh giá giá trị hay công lao? Vậy, chẳng phải tầng Tình yêu (500) tốt hơn tầng Lý trí (400)?
Trả lời: Bản đồ không biểu thị “tốt hơn”, đó là sự phóng chiếu của bản ngã. Bản đồ chỉ đơn thuần cho biết vị trí hoặc địa điểm, từ đó cho biết các đặc điểm liên quan. Cây lớn không “tốt hơn” cây nhỏ. Viên gạch nằm dưới chân tường không “tốt hơn” viên gạch nằm trên cùng; cả hai đều cần thiết như nhau để giữ cho bức tường đứng vững. Do đó, tầng tâm thức cho biết điểm trên đường cong học tập và một giai đoạn của quá trình tiến hóa của tâm thức. Niềm vui của cuộc đời đến từ việc hoàn thành tiềm năng của một người ở bất kỳ tầng nào. Mỗi tầng đều có phần thưởng riêng, và thực tế mỗi người đều cảm nhận được phần thưởng như nhau. Cuộc đời cống hiến cho Thiên Chúa hoặc cho một mục đích cao cả nào đó là tự viên mãn bất tận—trong khi đó, ngược lại, cuộc đời chỉ dành cho lợi ích cá nhân lại đầy rẫy cạm bẫy và đau khổ.
Mỗi tầng đều phù hợp với vai trò của nó. Một người ở tầng 700 không phù hợp với việc làm thợ mộc, không phù hợp để điều hành một nhà thờ, và không phù hợp để làm tổng thống. Hầu hết các Giác Giả ở tầng 700 hoàn toàn không thể hoạt động trong những vai trò đó. Họ chỉ ngồi trong ashram[vii] của mình, và mọi người đến chào hỏi trong khi họ mỉm cười, vui vẻ đáp lại. Những người ở các tầng 200 và 300—những người xây dựng thế giới, những công nhân xây dựng, công nhân nhà máy thép, những người đi làm mỗi ngày—là xương sống của xã hội chúng ta. Tầng 400 là thế giới của trí năng, logic và lý luận, thống trị nước Mỹ. Lĩnh vực Tình Yêu, tầng 500, là của hiếm, yêu thương vô điều kiện, tầng 540, lại càng hiếm hơn, còn trên 540 thì hầu như không có người nào. Không phải 500 tốt hơn 200. Chỉ là bạn đang ở không gian khác, giống như đang ở một vị trí khác trên bản đồ. Vấn đề của bạn để đi từ đây đến đó sẽ là những con đường khác nhau, đấy là nói nếu bạn bắt đầu ở Albuquerque hay nếu bạn bắt đầu ở Denver. Bạn đang ở một nơi chốn khác, và do đó bạn đang nhìn vào một địa hình khác với những bài học khác.
Mọi thứ đều trọn vẹn như nó vốn là. Không có thiếu sót nào hết. Khi bạn hiểu vũ trụ, bạn sẽ thấy mọi thứ đang chuyển từ “trọn vẹn” sang “trọn vẹn”. Mọi thứ đều trọn vẹn và hoàn hảo ngay trong lúc này. Mọi người chỉ đơn giản là sự thể hiện hoàn hảo nhất của toàn bộ quá trình tiến hóa nghiệp lực của họ cho đến lúc này mà thôi. Mọi người đều phục vụ toàn thể, không phụ thuộc vào tình trạng hay tầng của họ.
Hỏi: Hiệu chỉnh tâm thức là gì?
Trả lời: Bản đồ Tâm thức tạo điều kiện cho chúng ta phân biệt bản chất với tri giác. Ví dụ, giả sử ai đó nói với bạn: “Tôi đến đây là do tình bạn.” Nếu bạn hiệu chỉnh và thấy anh ta ở tầng 190, thì tốt hơn hết là bạn nên tìm hiểu kĩ anh ta! Anh ta nói một đằng và có vẻ hiền lành, nhưng thực chất, anh ta đang âm mưu việc gì đó khác. Ý định của anh ta không mang lại lợi ích gì cho bạn. “Sói đội lốt cừu” là cách chúng ta có thể mô tả con người này.
Khi chúng ta dựa vào Bản đồ Tâm thức để hiệu chỉnh một cái gì đó, là chúng ta phân biệt tầng sự thật, tình yêu, chính trực và lòng tốt trong một cái gì đó hoặc một người nào đó. Chúng ta muốn biết sự thật và bản chất của trường năng lượng, tức là động cơ và ý định. Câu trả lời chỉ hiện ra khi câu hỏi có thực tại; và việc hiệu chỉnh tâm thức chỉ có ý nghĩa khi câu hỏi và câu trả lời nằm trên cùng một tầng của thực tại. Giả dối không có thực tại trong trường vô biên của tâm thức. Tâm thức chỉ có thể ghi lại những gì tồn tại như là sự thật. Do đó, nếu chúng ta hỏi về điều gì đó không phải là sự thật, thì nó không có thực tại, vì vậy cánh tay sẽ yếu đi. Nếu chúng ta kiểm tra một tuyên bố chân thực, cánh tay sẽ mạnh lên. Ý kiến cá nhân hoặc tri giác của người kiểm tra không liên quan. Khi chúng ta sử dụng khoa học sống trong kiểm tra cơ bắp để hiệu chỉnh sự thật của một điều gì đó trong trường vô biên của tâm thức, là chúng ta sử dụng cơ chế của cơ học lượng tử để làm sụp đổ hàm sóng từ tiềm năng thành hiện thực. Khi câu hỏi phù hợp với thực tại, chúng ta nhận được phản hồi mạnh mẽ.
Khó nhất là giữ cho mình hoàn toàn không dính mắc vào kết quả. Đa số chúng ta, một cách vô thức, bám vào một câu trả lời đáng mong muốn, nên việc kiểm tra trở nên không chính xác. Còn khi tôi kiểm tra một điều gì đó, tôi không quan tâm kết quả sẽ ra sao; tôi chỉ muốn biết sự thật mà thôi.
Hỏi: Tôi có thể tự hiệu chỉnh mình?
Trả lời: Tôi khuyên mọi người không tự hiệu chỉnh tâm thức của mình, vì họ không thể không bị ràng buộc và không thể khách quan. Phải vươn tới tầng của Thánh nhân thì bạn mới không quan tâm tới việc biết tầng tâm thức của chính mình, vì vậy bạn sẽ không thể nhận được kết quả chính xác. Nếu nghiên cứu Bản đồ, bạn sẽ thấy cảm xúc chủ đạo và cách bạn nhìn Thiên Chúa, v.v., và nó sẽ cho biết bạn đang ở đâu. Nếu bạn ghét mọi người và bạn là người đa nghi, có lẽ bạn chưa thực sự hướng đến yêu thương! Bạn cũng có thể biết mình đang ở đâu khi nhìn phản ứng của mọi người đối với bạn. Nếu bị mọi người ghét, thì bạn đang có vấn đề!
Hỏi: Có cần phải tin vào Thiên Chúa để hiệu chỉnh tâm thức hoặc được hưởng lợi từ Bản đồ Tâm thức?
Trả lời: Tin vào Thiên Chúa không phải là điều kiện cần. Tin tức hàng ngày cho chúng ta biết rằng, những người tự xưng là tín đồ, nhân danh Thiên Chúa, đã và đang làm tất cả những chuyện khủng khiếp và có tầng hiệu chỉnh khá thấp trên Bản đồ này, đấy là do ý định của họ xuất phát từ hận thù, mặc cảm tội lỗi, sợ hãi, tự cho mình là chính nghĩa và kiêu ngạo. Đức Phật tránh nói về Thiên Chúa vì những hệ lụy mang tính khái niệm kèm theo, mà thay vào đó Ngài nói về Phật tính — tức Sự thật. Con người có tận hiến cho Sự thật hay không, đó mới là vấn đề chính trong quá trình tiến hóa của tâm thức.
Có một giai đoạn khá dài khi tôi là người vô thần sùng đạo, vì vậy tôi thông cảm với người vô thần. Là một người vô thần, tôi đã tận tâm với việc tìm đến cốt lõi của Sự thật của tồn tại. Do đó, tôi thông cảm với thái độ nghi ngờ thực sự vì sự trung thực về mặt trí năng của nó. Nếu tôi không thể thành thật khẳng định sự khả tín của Thần tính, thì ít nhất tôi cũng là người thành thật, và thành thật là yêu cầu đầu tiên của tính chính trực trên Bản đồ Tâm thức. Rồi tôi đi từ vô thần sang bất khả tri, nơi không còn khẳng định cũng không phủ định. Lập trường này có thể xem là tinh tế và khiêm nhường hơn vô thần, vì nó thừa nhận giới hạn của trí năng và việc trí năng không thể vượt qua quan hệ nhân–quả tuyến tính để lý giải các hiện tượng.
Cơ học lượng tử là con đường thoát khỏi phạm vi tuyến tính hạn chế của hệ hình của vật lý học Newton, thông qua nguyên lý Heisenberg—trong đó chúng ta có khám phá thú vị, nói rằng quan sát một vật làm thay đổi kết quả, vì bạn đã để cho tâm thức tác động vào quá trình này. Tầng tâm thức của người quan sát có ảnh hưởng sâu sắc đến những thứ đang được quan sát. Không cần phải tin vào Thiên Chúa mới có thể đồng ý với nguyên lý khoa học này. Hoài nghi và không tin nhiều khi lại là điềm báo cho những bước chuyển biến lớn của tâm thức —động lực lại được kích hoạt sau những thất vọng, nghịch cảnh, hoặc đơn giản là khi con người đã trưởng thành và trí huệ tự nhiên xuất hiện. Sự kiện này được nhiều người, thậm chí cả các vị thánh, ghi nhận, đấy là những người đã trải qua những trải nghiệm mang tính chuyển hoá to lớn, trong đó có cả những điều kỳ diệu. Con đường như thế có thể liên quan đến việc đánh mất niềm tin tôn giáo thời thơ ấu, hoặc do những hoàn cảnh thảm khốc, sau đó là nhiều năm tìm kiếm sự thật có thể xác nhận được. Quá trình khám phá nội tâm như thế được thúc đẩy bằng thiền tập mà không cần một hệ thống tín ngưỡng nào. Do đó, đối với người không có đức tin, Phật giáo thường có tính thực tiễn và hấp dẫn, vì Đức Phật dạy Bát Chánh Đạo mà không cần tin vào “Thiên Chúa”.
Một con đường khác, phù hợp với người không có đức tin là các kinh Veda và Upanishad cổ đại, dự đoán trước những khám phá của cơ học lượng tử. Những cuốn Kinh này cũng nói về Thực tại Tối hậu (Ultimate Reality[viii]) của Nguyên lý Tuyệt đối (Ultimate Principle[ix]) và trường tâm thức vô biên như là Thực tại nguyên thủy, vượt ra ngoài vọng tưởng của tri giác cũng như tư duy. Con đường Advaita (bất nhị) là con đường thuần khiết cho quá trình tìm kiếm Sự thật, mà không cần hệ thống tín ngưỡng nào. (Được mô tả chi tiết trong các tác phẩm The Eye of the I và I: Reality and Subjectivity.) Mặc dù bất nhị dẫn đến Chứng ngộ, nhưng nghiên cứu Vedanta có thể làm người ta sa đà quá mức vào các trường phái triết học Ấn Độ khác nhau, từ đó có thể trở thành những hệ thống tín ngưỡng làm cho người ta xao nhãng.
Hỏi: Các cá nhân tiến hóa từ tầng này sang tầng khác trong một đời người có phải là hiện tượng phổ biết?
Trả lời: Có thể có những cá nhân riêng lẻ có những bước nhảy vọt tích cực và đột ngột, thậm chí lên hàng trăm điểm; tuy nhiên, trường năng lượng được hiệu chỉnh cho một cá nhân ngay từ khi sinh ra chỉ tăng trung bình khoảng năm điểm. Phần lớn con người sử dụng những trải nghiệm đời sống của mình để triển khai và biểu lộ các biến thể của trường năng lượng bẩm sinh; chỉ số ít hiếm hoi là những người có đủ động lực và thực sự vượt lên khỏi chính trường năng lượng này. Nếu không có lựa chọn, sẽ không có tiến bộ nào hết. Cũng có thể “rơi” xuống tầng thấp hơn, như chúng ta đã thấy ở Napoleon và Hitler. Nó đã xảy ra trong cuộc đời của những đạo sư tâm linh, những người đã rơi từ tầng tâm thức cao do những sai lầm trong phán xét. Họ đã không được cảnh báo về những cám dỗ mà họ sẽ gặp ở tầng đó: tiền bạc, tình dục, danh vọng và quyền lực đối với người khác.
Một yếu tố quan trọng của lý thuyết hỗn độn, hữu ích trong tìm hiểu quá trình tiến hóa của tâm thức, đấy là quy luật phụ thuộc nhạy cảm vào điều kiện ban đầu. Nó nói đến sự kiện là, cùng với thời gian, một biến đổi nhỏ có thể tạo ra những thay đổi sâu sắc, tương tự như một con tàu lệch hướng chỉ một độ so với la bàn, cuối cùng sẽ thấy mình đi lạc hàng trăm dặm. Hiện tượng này là cơ chế thiết yếu của tất cả các quá trình tiến hóa. Cùng với thời gian, cam kết thực hành dù chỉ một nguyên tắc tâm linh cũng có thể dẫn đến những thay đổi sâu sắc. Tương tự, sai lầm hay sự dối trá duy nhất, nếu lặp đi lặp lại đủ thường xuyên, có thể khiến một người (hoặc một tổ chức hay một xã hội) đi chệch hướng một cách nghiêm trọng.
[i] Truth shock - Sự chấn động của tâm thức khi bản ngã đối diện với sự thật khách quan.
[ii] Subconscious pool: Tập hợp các dữ liệu, ký ức và chương trình cảm xúc ẩn sâu trong tâm trí, chi phối hành vi cá nhân và kết nối với vô thức tập thể. Trong triết lý Hawkins, đây là phần cần được soi sáng và vượt qua để nâng cao tầng tâm thức.
[iii] Giải thích: Ý định của ông toàn quyền Đông Dương về cầu Long Biên hình thành trong đầu ông, sau đó xuất hiện trong miền hiển lộ, như bản vẽ, công nhân, sắt thép... nhưng người bình thường sẽ thấy bản vẽ, công nhân, sắt thép.. là A gây ra B, B gây ra C... Người bình thường nhìn thế giới theo đường thẳng:Ý định → Bản vẽ→Công nhân →Cây cầu. Họ coi A là “nguyên nhân” đẻ ra B.Nhưng theo góc nhìn cao cấp (vật lý lượng tử hoặc tâm thức), mối quan hệ này không phải là sự “sinh ra”, mà là sự “đồng hiện” (Synchronicity). Hãy tưởng tượng toàn bộ lịch sử xây dựng cầu Long Biên nằm trong một cuốn phim nhựa. Miền Phi hiển lộ: Chính là toàn bộ cuộn phim đã được quay xong và nằm im trên bàn. Ở đó, cảnh “ông Toàn quyền nghĩ” và cảnh “nhát cuốc đầu tiên” đã tồn tại sẵn cùng một lúc, không cái nào gây ra cái nào, chúng chỉ đơn giản là có mặt ở đó. Miền Hiển lộ (Thực tại ta thấy): Là khi ta lắp cuộn phim vào máy chiếu và cho nó chạy qua luồng sáng (luồng sáng này chính là Quan sát/Tri giác). Khi máy chiếu chạy, ta thấy hình ảnh ông Toàn quyền xuất hiện ở giây thứ nhất, rồi bản vẽ ở giây thứ mười. Vì mắt ta bị giới hạn bởi thời gian, ta tưởng giây thứ nhất “đẻ ra” giây thứ mười. Nhưng thực tế, cả hai bức ảnh đó đã nằm sẵn trên cuộn phim từ trước. Chúng xuất hiện đồng thời trong cùng một thực tại tổng thể, chỉ là trình tự quan sát khiến ta gán cho chúng cái mác “nhân-quả”. Tóm lại: Thay vì nói “Cái này tạo ra cái kia”, hãy nói: “Khi một ý niệm đủ mạnh xuất hiện, thì toàn bộ các điều kiện vật chất tương ứng với nó cũng đồng thời bước ra từ bóng tối vào ánh sáng.” Chúng là một combo không thể tách rời, không phải là những mắt xích rời rạc kéo lê nhau.
[iv] Intelligence - Trí thông minh thường được hiểu là “công suất” của bộ não. Nó giống như phần cứng của máy tính. Đặc điểm: Khả năng học hỏi nhanh, trí nhớ tốt, tốc độ xử lý thông tin và khả năng tư duy trừu tượng. Đo lường: chủ yếu qua chỉ số IQ. Chức năng: Giúp bạn giải các bài toán khó, học ngoại ngữ nhanh, hoặc hiểu các lý thuyết phức tạp
[v] Perception - tri giác: nhận thức (Awareness) đã đi qua bộ lọc của bản ngã. Awareness là cái có trước, là nền tảng. Không có Awareness thì không thể có Perception. Một hòn đá không có Awareness nên nó cũng không có Perception (nó không nhìn thế giới theo cách bị bóp méo).
[ii] Toàn thể hiện hữu (All-Beingness): Là trạng thái ý thức tối thượng (tầng 700-1000), nơi mọi sự vật không còn bị chia chẻ mà được nhận biết như một khối sống động, thiêng liêng và thống nhất. Ở đây, sự tồn tại của vạn vật chính là sự hiện diện của cội nguồn.
[iii] Perennial philosophy - Triết học thường hằng là tên gọi dành cho dòng minh triết chung xuất hiện trong nhiều tôn giáo và truyền thống tâm linh khác nhau trên thế giới. Dù được diễn đạt bằng những ngôn ngữ và biểu tượng khác nhau, các truyền thống này đều chỉ về một chân lý cốt lõi: có một thực tại tối hậu vượt lên trên bản ngã cá nhân, và con người có thể nhận ra thực tại ấy thông qua sự chuyển hóa nội tâm. Vì chân lý này không phụ thuộc thời đại hay văn hóa, nên nó được gọi là “thường hằng”.
[iv] Emergency emotions - Cảm xúc “khẩn cấp” là các phản ứng cảm xúc bản năng nảy sinh khi bản ngã cảm thấy bị đe dọa, thường mang tính tiêu cực và tiêu tốn nhiều năng lượng, ví dụ như Sợ tâm, U sầu, Giận dữ, Mặc cảm tội lỗi.
[v] Welfare emotions - Cảm xúc “phúc lợi” là các trạng thái cảm xúc hạnh phúc, nảy sinh khi cá nhân cảm thấy an toàn và tự tin, giúp tăng cường sức khỏe thể chất và mở rộng khả năng nhận thức của ý thức, ví dụ như Chấp nhận, Yêu thương, An bình.
[vi] Spiritual Awareness – Nhận biết/tỉnh thức tâm linh. Nhận biết trực tiếp về chiều kích tâm linh của hiện hữu — vượt ngoài tư duy lý trí và bản ngã cá nhân. Đây không phải là niềm tin, cũng không chỉ là cảm xúc tôn giáo, mà là một trạng thái tâm thức trong đó: Ta cảm nhận sự hiện diện của một Thực Tại sâu hơn hình tướng; Nhận ra đời sống không chỉ giới hạn trong thân – tâm cá nhân. Trực nhận sự liên kết nội tại giữa mình và toàn thể. Phân biệt với các mức nhận biết khác: Sensory awareness: nhận biết qua giác quan; Mental awareness: nhận biết qua suy nghĩ, phân tích; Self-awareness: ý thức về bản thân như một cá nhân; Spiritual awareness: nhận biết vượt khỏi cấu trúc của bản ngã. Spiritual awareness không phải là “nghĩ về Thượng Đế”, mà là trực nhận Sự Hiện diện.
[vii] Ashram - là một không gian tu tập tâm linh có nguồn gốc từ Ấn Độ giáo và truyền thống tâm linh Ấn Độ, nơi con người rút lui khỏi đời sống thế tục để sống, học hỏi và thực hành con đường nội tâm.
[viii] Ultimate Reality - Thực tại Tối hậu: Trong hệ thống tư tưởng của David Hawkins, đây là trạng thái hiện hữu thuần khiết, vĩnh cửu và phi thời gian, nằm ngoài mọi sự phân biệt nhị nguyên (như đúng/sai, tốt/xấu). Nó tương đương với Đại ngã hay Chân ngã, và Sự thật Tuyệt đối (Absolute Truth). Đây là trạng thái mà tự ngã (self) hay bản ngã (ego) bị vượt qua hoàn toàn, chỉ còn lại sự hiện diện của Ý thức thuần khiết (Consciousness) – nguồn cội của mọi tồn tại.
[ix] Ultimate Principle - Nguyên lý Tối hậu là quy luật cốt lõi và tuyệt đối nhất của vũ trụ, vượt ngoài mọi logic tuyến tính hay nguyên nhân - kết quả thông thường. Trong tư tưởng của David Hawkins, nguyên lý này khẳng định rằng mọi sự tồn tại đều tự động nảy sinh từ nguồn cội thiêng liêng và chịu chi phối bởi trường năng lượng của Tâm thức. Đây là nguyên lý về tính nhất thể, nơi không có sự tách biệt giữa người sáng tạo và cái được sáng tạo.
GIẢI MÃ BẢN ĐỒ TÂM THỨC (4)
GIẢI MÃ BẢN ĐỒ TÂM THỨC
David R. Hawkins, M. D., Ph. D.
Phạm Nguyên Trường dịch
Chương 2
CÁC TẦNG TÂM THỨC
Cốt lõi của Bản đồ Tâm thức là các tầng, cùng với các giá trị bằng số tương ứng trên thang đo tâm thức được hiệu chỉnh từ 1 đến 1.000, trong đó 1 là tồn tại và 1.000 là tầng Sự thật cao nhất từng tồn tại trên hành tinh này.
Cực kì quan trọng cần nhớ là các con số hiệu chỉnh không phải phép tính số học, mà là phép tính logarit. Do đó, tầng 300 không phải có biên độ gấp đôi tầng 150; mà là 10 mũ 300 (10300). Vì vậy, thăng lên dù chỉ vài điểm cũng thể hiện một bước tiến lớn trong sức mạnh chính trực; tốc độ gia tăng sức mạnh này khi chúng ta di chuyển lên trên thang đo là rất lớn.
Tất cả các tầng dưới 200 đều xuất phát từ Bạo lực (Force) và có tính hủy diệt sự sống ở cả cá nhân và xã hội nói chung; ngược lại, tất cả các tầng trên 200 đều là những biểu hiện mang tính xây dựng của Sức mạnh đích thực (Power). Tầng mang tính quyết định 200 là điểm tới hạn, là điểm phân chia các lĩnh vực của Bạo lực (hay dối trá) ra khỏi lĩnh vực của Sức mạnh đích thực (hay sự thật).
Mỗi tầng đều có hệ hình thực tại và giá trị riêng, quyết định những gì là chấp nhận được trong phạm vi của nó. Ví dụ, trong các trường năng lượng dưới 200, nuôi dưỡng lòng thù hận, lừa gạt người mua và giết kẻ thù là hợp lý. Thật vậy, trong một số tiểu văn hóa, nếu không trả thù bằng cách giết người, bạn sẽ làm cho tính mạng của mình gặp nguy hiểm. Nhưng trong các trường năng lượng trên 200, những hành động như thế thậm chí sẽ không xuất hiện trong suy nghĩ của bạn. Trong miền Lý trí (400), tình yêu, cầu nguyện và các thực tại tâm linh khác không thể được chứng minh bằng logic, nhưng trong địa hạt Tình yêu (500), sự thật của chúng tự hiển lộ, rõ ràng đến mức không còn chỗ cho nghi ngờ.
TẦNG NĂNG LƯỢNG 20: NHỤC NHÃ
Tầng Nhục nhã cận kề đến mức nguy hiểm với cái chết, người ta có thể vì nhục nhã mà cố ý tự tử, hoặc tự tử một cách tinh vi hơn: không làm gì nhằm duy trì đời sống, gọi là “tự tử thụ động”. Phổ biến nhất là chết trong những vụ tai nạn mà đáng lẽ ra có thể tránh được. Tất cả chúng ta, ở mức độ nào đó, đều nhận thức được về nỗi đau “mất thể diện”, mất uy tín hoặc cảm thấy mình là “người chẳng ra gì”. Ở tầng Nhục nhã, người ta gục đầu xuống và lẩn lút, ước mong mình trở thành vô hình. Trục xuất khỏi cộng đồng thường đi kèm với nhục nhã, trong các xã hội nguyên thủy – tất cả chúng ta đều từ đó mà ra – trục xuất cũng chẳng khác gì chết.
Những trải nghiệm đầu đời như lạm dụng tình dục dẫn đến Nhục nhã, nếu không được chữa trị thì sẽ làm méo nó nhân cách trong suốt một đời người. Như Freud đã nói, Nhục nhã sinh ra chứng loạn thần kinh chức năng. Nhục nhã có tính phá hoại đối với đời sống tình cảm và tâm lý, và thiếu lòng tự trọng còn làm cho cơ thể người ta dễ mắc bệnh. Người cảm thấy Nhục nhã thường nhút nhát, xấu hổ và hướng nội.
Nhục nhã cũng được sử dụng làm công cụ đàn áp tàn bạo, và chính các nạn nhân của nó cũng trở thành những kẻ tàn bạo. Những đứa trẻ bị làm nhục rất tàn bạo với động vật và tàn bạo với nhau. Những người có tầng tâm thức từ 20 đến 30 thường khá nguy hiểm. Họ rất dễ có ảo giác là mình bị buộc tội, cũng như hay mắc chứng hoang tưởng; một số người bị bệnh loạn thần kinh hoặc phạm những tội ác kỳ quái.
Một số người ở tầng Nhục nhã lại tìm cách bù đắp bằng thói cầu toàn và cứng nhắc, và thường trở thành cố chấp và bất dung. Ví dụ khét tiếng nhất là những kẻ cực đoan về đạo đức, họ lập ra các nhóm “dân phòng”, phóng chiếu cảm giác Nhục nhã vô thức của mình lên những người mà họ cảm thấy là tấn công hoặc giết những người đó là chính đáng. Những kẻ giết người hàng loạt thường hành động nhân danh sự trong sạch tính dục, biện minh rằng đó là hình phạt đối với những người phụ nữ “lẳng lơ”.
Vì Nhục nhã hạ thấp toàn bộ tầng tính cách của một con người, cho nên người đó dễ có những cảm xúc tiêu cực khác, và do đó, họ cũng thường có thái độ kiêu ngạo, tức giận và mặc cảm tội lỗi giả tạo.
Tầng năng lượng 30: Mặc cảm tội lỗi
Mặc cảm tội lỗi, thường được xã hội của chúng ta sử dụng nhằm thao túng và trừng phạt, biểu hiện dưới nhiều hình thức khác nhau như hối hận, tự trách mình, bạo dâm và toàn bộ triệu chứng tự coi mình là nạn nhân. Mặc cảm tội lỗi vô thức gây ra bệnh tâm thần, dễ gặp tai nạn và có thể tự tử. Nhiều người phải vật lộn suốt đời với mặc cảm tội lỗi, trong khi một số người khác cố gắng đến mức tuyệt vọng nhằm chạy trốn nó bằng cách phủ nhận một cách vô đạo đức toàn bộ Mặc cảm tội lỗi.
Bị Mặc cảm tội lỗi thống trị sẽ dẫn đến lo lắng rằng mình có “tội”, thái độ thiếu khoan dung đó thường bị những kẻ mị dân trong tôn giáo lợi dụng nhằm ép buộc và kiểm soát. Những kẻ buôn thần bán thánh này thường bị hình phạt ám ảnh, có thể hành động vì cảm thấy chính mình có tội, hoặc phóng chiếu tội lỗi của mình lên những người khác.
Các nhóm tiểu văn hóa thường thực hiện những nghi thức tự trừng phạt khác thường, thể hiện dưới nhiều hình thức đặc biệt tàn bạo, ví dụ như dùng người hay động vật làm vật hiến tế trong những nghi lễ công khai. Mặc cảm tội lỗi kích động những cơn thịnh nộ, và biểu hiện của nó là giết người. Tử hình là ví dụ về việc làm sao mà giết người lại làm cho đám đông có mặc cảm tội lỗi hài lòng.
Tầng năng lượng 50: Thờ ơ
Tầng này có đặc điểm là nghèo đói, tuyệt vọng và vô vọng. Thế giới và tương lai trông có vẻ ảm đạm; cuộc sống đầy đau thương. Thờ ơ là trạng thái bất lực; nạn nhân của nó thiếu thốn mọi thứ, họ không chỉ thiếu nguồn lực mà còn thiếu cả năng lượng để có thể tận dụng những nguồn lực sẵn có. Nếu không có nguồn cung cấp năng lượng từ bên ngoài thì họ có thể không làm gì nhằm duy trì đời sống, kết quả là tự tử thụ động. Mất hết ý chí sống, ánh mắt của họ đờ đẫn và vô vọng, họ hờ hững trước các kích thích cho đến khi mắt họ không còn phản ứng và thậm chí không có đủ năng lượng để nuốt thức ăn được đút vào tận miệng.
Đây là tầng của những người vô gia cư và những người bị xã hội bỏ rơi; cũng là số phận của nhiều người già và những người cô đơn do mắc các bệnh mãn tính hoặc những căn bệnh làm cho tình trạng sức khỏe ngày càng xấu đi. Người thờ ơ sống phụ thuộc vào người khác và bị coi là gánh nặng đối với những người xung quanh.
Thường thì, xã hội không có đủ động lực nhằm giúp đỡ một cách thiết thực cho các cộng đồng cũng như các cá nhân ở tầng này – họ bị coi như những người ăn bám. Đây là tầng năng lượng của các đường phố ở Calcutta, nơi chỉ những người thánh thiện như Mẹ Teresa và đệ tử của Bà mới dám đặt chân đến. Thờ ơ là từ bỏ hy vọng, và chẳng có mấy người có đủ dũng khí để thực sự đối diện với nó.
Tầng năng lượng 75: U sầu
Đây là tầng của buồn bã, mất mát và chán nản. Hầu hết mọi người đều trải qua tình trạng này nhiều lần, nhưng những người bị mắc kẹt ở tầng này sẽ có cuộc sống đầy hối tiếc và phiền muộn. Đây là tầng của những người thường xuyên than thở, thường xuyên cảm thấy mất mát và hối hận về quá khứ; cũng là tầng của những người thường xuyên thất bại và những tay nghiện cờ bạc, coi thất bại là một phần trong cách sống của mình, kết quả là mất việc làm, mất bạn bè, mất gia đình, và cơ hội, mất tiền bạc và sức khỏe.
Những tổn thất lớn đầu đời làm cho người ta sau này dễ dàng chấp nhận một cách thụ động u sầu, coi nỗi buồn là cái giá của cuộc đời. Khi đang U sầu, người ta nhìn thấy ở đâu cũng buồn: những đứa trẻ con đáng buồn, hoàn cảnh của thế giới đáng buồn, chính cuộc sống cũng đáng buồn. Tầng này phủ màu sắc ảm đạm của nó lên toàn bộ tầm nhìn về cuộc đời của người đó. Một phần của hội chứng mất mát này là quan niệm cho rằng không gì có thể thay thế được những thứ đã mất hoặc thay thế được điều mà những thứ bị mất kia là biểu tượng. Ở đây người ta đã khái quát hóa trường hợp cụ thể đến mức mất người thân yêu bị coi là mất chính tình yêu. Ở tầng này, những mất mát về mặt tình cảm như thế có thể gây ra bệnh trầm cảm nghiêm trọng hoặc thậm chí là chết.
Mặc dù U sầu là nghĩa địa của cuộc đời, song nó vẫn có nhiều năng lượng hơn Thờ ơ. Do đó, khi một bệnh nhân bị sang chấn và rơi vào trạng thái thờ ơ bắt đầu khóc, thì chúng tôi biết là họ đang khá lên. Khi bắt đầu khóc là họ sẽ bắt đầu ăn trở lại.
Tầng năng lượng 100: Sợ hãi
Ở tầng 100, con người có nhiều năng lượng sống hơn; sợ nguy hiểm thực sự là nỗi sợ lành mạnh. Sợ hãi đang vận hành phần lớn thế giới này, thúc đẩy vô vàn hoạt động khác nhau. Sợ kẻ thù, sợ già hay sợ chết, sợ bị từ chối và nhiều nỗi sợ hãi trong xã hội là động lực cơ bản trong cuộc sống của hầu hết mọi người.
Theo quan điểm của tầng này, thế giới trông có vẻ nguy hiểm, đầy rẫy cạm bẫy và đe dọa. Các cơ quan và chế độ độc tài áp bức thích dùng sợ hãi làm công cụ để kiểm soát dân chúng, và tình trạng bấp bênh là ngón nghề của những tay thao túng trên thương trường. Sợ hãi được các phương tiện truyền thông và quảng cáo sử dụng nhằm gia tăng thị phần.
Sợ hãi, cũng như trí tưởng tượng của con người, có thể được khuếch đại đến vô cùng vô tận; một khi Sợ hãi trở thành trung tâm chú ý của một người nào đó thì vô vàn những sự kiện đáng sợ trên thế giới sẽ cung cấp dưỡng chất cho nó. Sợ hãi trở thành ám ảnh và có thể xuất hiện dưới mọi hình thức. Sợ mất quan hệ dẫn đến ghen tuông và căng thẳng mãn tính ở mức độ cao. Tư tưởng sợ hãi có thể biến thành hoang tưởng hoặc tạo ra những cơ cấu phòng vệ thái quá và bởi vì Sợ hãi dễ lây lan, nó có thể trở thành xu hướng giữ thế thượng phong trong xã hội.
Sợ hãi làm cho nhân cách không phát triển được và dẫn đến ức chế. Vì phải có năng lượng thì mới vượt qua được sợ hãi; cho nên nếu không có trợ giúp, những người bị ức chế không thể vươn lên được tầng cao hơn. Vì vậy, những người sợ hãi tìm kiếm các nhà lãnh đạo mạnh mẽ, những người dường như đã chinh phục được nỗi sợ hãi của chính mình để dẫn dắt họ thoát khỏi tình trạng nô lệ.
Tầng năng lượng 125: Ham muốn
Tầng này có nhiều năng lượng hơn nữa. Ham muốn là động lực của rất nhiều lĩnh vực hoạt động của con người, trong đó có kinh tế. Những người làm quảng cáo lợi dụng Ham muốn của chúng ta để thao túng chúng ta bằng những nhu cầu liên quan tới bản năng sinh tồn. Ham muốn thúc đẩy chúng ta nỗ lực hơn nữa nhằm đạt được mục tiêu hoặc phần thưởng. Ham muốn tiền bạc, uy tín hoặc quyền lực dẫn động đời sống của nhiều người, những người đã vượt thoát khỏi Sợ hãi thì Ham muốn là cách sống nổi trội nhưng đầy hạn chế của họ.
Ham muốn cũng là tầng nghiện ngập, trong đó ham muốn trở thành thèm khát, còn quan trọng hơn chính cuộc sống. Những nạn nhân của Ham muốn có thể thực sự không nhận thức được nền tảng của những động cơ của mình. Đối với một số người, Ham muốn được người khác chú ý trở thành chất gây nghiện và những đòi hỏi thường xuyên của họ làm cho người ta xa lánh. Ham muốn hấp dẫn giới tính tạo ra toàn bộ ngành mỹ phẩm, thời trang và phim ảnh.
Ham muốn dẫn tới tích trữ và lòng tham. Nhưng Ham muốn là vô độ, vì nó là trường năng lượng ngày càng gia tăng, do đó thỏa mãn ham muốn này thì sẽ xuất hiện ham muốn chưa được thỏa mãn khác. Các triệu triệu phú vẫn bị ám ảnh với việc kiếm được ngày càng nhiều tiền hơn.
Tuy nhiên, Ham muốn là tầng cao hơn hẳn so với Thờ ơ hay U sầu. Để “có”, trước hết phải có năng lượng để “muốn”. Truyền hình đã tạo được ảnh hưởng to lớn đối với nhiều người bị áp bức, bởi vì nó khắc sâu vào tâm trí họ những điều họ muốn và tiếp thêm năng lượng cho những ham muốn của họ đến mức họ thoát khỏi Thờ ơ và bắt đầu tìm kiếm cuộc sống tốt đẹp hơn. Muốn có thể đưa người ta bước lên con đường dẫn tới thành công. Do đó, Ham muốn có thể trở thành bệ đỡ giúp người ta bước lên các tầng tâm thức cao hơn.
Tầng năng lượng 150: Tức giận
Mặc dù Tức giận có thể dẫn đến giết người và chiến tranh, nhưng như một tầng năng lượng, nó cách xa cái chết hơn hẳn những tầng bên dưới. Tức giận có thể dẫn đến cả hành động xây dựng cũng như phá hoại. Khi người ta thoát khỏi cách sống Thờ ơ và U sầu, để vượt qua Sợ hãi, thì họ bắt đầu muốn; Ham muốn dẫn đến thất vọng, đến lượt nó, thất vọng làm cho người ta Tức giận. Vì vậy, Tức giận có thể là điểm tựa mà những người bị áp bức, cuối cùng đã vượt thoát tới tự do. Tức giận vì bất công xã hội, vì bị đối xử tàn nhẫn và bất bình đẳng đã tạo ra những phong trào quần chúng vĩ đại, dẫn đến những thay đổi to lớn trong cơ cấu xã hội.
Nhưng, Tức giận hay thể hiện nhất dưới dạng oán hận và trả thù và do đó, đây là tình cảm bồng bột và nguy hiểm. Có thể thấy lối sống Tức giận ở những người hay cáu kỉnh, dễ nổi khùng, những người quá nhạy cảm với những chuyện nhỏ nhặt và trở thành “những kẻ tích tụ bất công”, hay sinh sự, hiếu chiến hoặc thích kiện tụng.
Vì Tức giận xuất phát từ mong muốn không được đáp ứng, nó lấy trường năng lượng bên dưới làm cơ sở. Thất vọng là kết quả của việc thổi phồng mức độ quan trọng của ham muốn. Người tức giận có thể nổi cơn thịnh nộ, tương tự như một đứa trẻ cáu kỉnh. Tức giận dễ dẫn đến căm thù, nó bào mòn tất cả các lĩnh vực trong cuộc sống của một người.
Tầng năng lượng 175: Kiêu hãnh
Kiêu hãnh, điểm hiệu chỉnh 175, có đủ năng lượng để vận hành Binh chủng Thủy quân lục chiến Hoa Kỳ. Đây là tầng mà phần lớn nhân loại chúng ta hiện nay đang hướng tới. Trái ngược với các trường năng lượng thấp hơn, người ta sẽ cảm thấy phấn khích khi lên đến tầng này. Gia tăng lòng tự trọng xoa dịu tất cả những đau đớn mà người ta đã trải qua ở những tầng tâm thức thấp hơn. Kiêu hãnh có vẻ ngoài đẹp đẽ và nó biết như thế; nó nghênh ngang mang những thứ của nó vào màn diễu hành của cuộc đời. Kiêu hãnh cách khá xa Nhục nhã, Mặc cảm tội lỗi hoặc Sợ hãi, cho nên, ví dụ, thoát khỏi cảnh tuyệt vọng trong khu ổ chuột để đạt tới niềm tự hào của người lính thủy đánh bộ đã là bước nhảy vọt rồi. Kiêu hãnh thường được coi là tốt và được xã hội khuyến khích, nhưng, như chúng ta thấy trên bản đồ các tầng tâm thức, nó vẫn có nhiều tiêu cực, cho nên vẫn nằm dưới tầng tới hạn (200). Đây là lý do vì sao Kiêu hãnh chỉ tốt hơn so với các tầng bên dưới.
Như tất cả chúng ta đều biết, vấn đề là “kiêu hãnh thường dẫn tới sa ngã”. Kiêu hãnh mang tính phòng thủ và dễ bị tổn thương, vì nó phụ thuộc vào các điều kiện bên ngoài. Nếu không có những điều kiện đó, nó có thể đột ngột rơi xuống tầng năng lượng thấp hơn. Bản ngã bị thổi phồng rất dễ bị tấn công. Kiêu hãnh vẫn là tầng yếu vì người ta có thể hạ bệ nó để đưa nó về tầng Nhục nhã, đó chính là đe dọa thổi bùng lên ngọn lửa sợ hãi về việc đánh mất Kiêu hãnh.
Kiêu hãnh mang tính chia rẽ và tạo ra chủ nghĩa bè phái, với nhiều hậu quả tai hại. Người ta thường chết vì Kiêu hãnh; các đội quân thường xuyên tàn sát lẫn nhau vì một trong những khía cạnh của Kiêu hãnh là chủ nghĩa dân tộc. Chiến tranh tôn giáo, khủng bố chính trị và cuồng tín, lịch sử kinh hoàng của Trung Đông và Trung Âu, đều là cái giá của lòng Kiêu hãnh, mà tất cả các xã hội đều phải trả.
Mặt trái của Kiêu hãnh, do đó, là kiêu ngạo và phủ nhận. Đây là những đặc điểm cản trở phát triển. Khi Kiêu hãnh, người ta không thể cai nghiện vì họ không công nhận mình mắc phải các vấn đề về cảm xúc hoặc khiếm khuyết về ý chí. Tất các các phủ nhận đều là do Kiêu hãnh mà ra. Do đó, Kiêu hãnh là chướng ngại rất lớn trong quá trình vươn tới Sức mạnh đích thực– thay thế Kiêu hãnh bằng tầm vóc và uy tín chân thực.
Tầng năng lượng 200: Can đảm
Tầng 200, tầng đầu tiên có Sức mạnh đích thực. Khi kiểm tra các đối tượng ở tất cả các tầng năng lượng dưới 200, chúng tôi nhận thấy – có thể dễ dàng kiểm tra lại – tất cả những người này đều phản ứng yếu. Mọi người đều phản ứng mạnh với các trường năng lượng hỗ trợ sự sống trên tầng 200. Đây là tầng tới hạn, chia tách những ảnh hưởng tích cực và tiêu cực đối với đời sống. Ở tầng Can đảm, người ta có Sức mạnh đích thực; do đó, nó cũng là tầng có thể truyền Sức mạnh. Đây là khu vực của khám phá, của thành tựu, của ý chí kiên cường và quyết tâm. Ở những tầng thấp hơn, người ta nhìn cuộc đời bằng cặp mắt vô vọng, buồn bã, đáng sợ, hoặc bực bội; nhưng ở tầng Can đảm, người ta thấy cuộc đời rất thú vị, đầy thử thách và kích thích.
Can đảm nghĩa là sẵn sàng thử sức với những điều mới mẻ và đối phó với những thăng trầm của cuộc đời. Ở tầng này, con người có thể đối phó và xử lý một cách hiệu quả những cơ hội của đời sống. Ví dụ, ở tầng 200, người ta có năng lượng để học các kỹ năng nghề nghiệp mới. Phát triển và học hành trở thành những mục tiêu có thể thực hiện được. Người ta có khả năng đối đầu với sợ hãi hoặc khiếm khuyết trong tính cách và vươn lên, mặc dù vẫn còn có những khuyết điểm đó; lo lắng cũng không còn làm tê liệt được nỗ lực như nó có thể làm ở các tầng thấp hơn. Những chướng ngại từng khuất phục được những người ở các tầng tâm thức dưới 200, lúc này lại trở thành những yếu tố kích thích đối với những người đã tiến lên đến tầng đầu tiên của Sức mạnh đích thực.
Những người ở tầng này lấy của thế giới bao nhiêu năng lượng thì sẽ trả lại bấy nhiêu; ở những tầng thấp hơn, tập thể cũng như cá nhân tiêu hao năng lượng của xã hội mà không hoàn trả. Vì thành tích tạo ra phản hồi tích cực, tự thưởng, và lòng tự trọng ngày càng được củng cố thêm. Hiệu quả bắt đầu từ đây. Tâm thức tập thể của nhân loại vẫn nằm ở tầng 190 suốt nhiều thế kỷ và, kỳ lạ là, nó chỉ mới nhảy lên được tầng hiện nay (204) trong những năm 1980.
Tầng năng lượng 250: Trung dung
Khi đạt đến tầng mà chúng tôi gọi là Trung dung, năng lượng trở nên rất tích cực, vì nó là hiện thân của giải thoát khỏi những tầng tâm thức thấp hơn. Dưới 250, tâm thức có xu hướng nhìn nhận mọi thứ theo hướng nhị nguyên và có quan điểm cứng nhắc, đó là trở ngại trong thế giới phức tạp và đa tầng chứ không chỉ có hai màu đen và trắng.
Những quan điểm như thế tạo ra phân cực, đến lượt nó, lại tạo ra đối lập và chia rẽ. Như trong võ thuật, tư thế cứng nhắc dễ trở thành điểm sơ hở; không dẻo thì dễ gãy. Trung dung vượt lên trên các rào cản hoặc chống đối làm tiêu tan năng lượng của con người, nó làm cho con người trở thành linh hoạt và không phán xét, đánh giá các vấn đề theo lối thực tế. Trung dung có nghĩa là không dính chấp quá mức vào kết quả; không đạt được mục tiêu không còn bị coi là thất bại, đáng sợ hay thất vọng nữa.
Người ở tầng Trung dung có thể nói: “Ồ, nếu không nhận được công việc này thì mình sẽ nhận được công việc khác”. Đây là khởi đầu của thái độ tự tin ở bên trong con người; cảm nhận được Sức mạnh đích thực của chính mình, nên khó có thể đe dọa được họ. Người đó không có động cơ chứng minh bất cứ điều gì. Thái độ điển hình của tầng 250 là cuộc sống, với những thăng trầm của nó, về cơ bản là ổn, nếu có thể linh hoạt theo hoàn cảnh.
Những người Trung dung thường cảm thấy hạnh phúc; biểu hiện nổi bật của tầng này là khả năng tự tin để sống trong đời. Do đó, theo kinh nghiệm, đây là tầng an toàn. Những người ở tầng này dễ hòa đồng với mọi người, người khác cảm thấy an toàn khi kết giao và ở bên cạnh họ, vì họ không quan tâm tới xung đột, cạnh tranh, hoặc mặc cảm tội lỗi. Họ là những người thoải mái và về cơ bản là không lo âu. Đây là người có thái độ không phán xét và không có nhu cầu kiểm soát hành vi của người khác. Đổi lại, vì những người Trung dung coi trọng tự do, nên rất khó kiểm soát họ.
Tầng năng lượng 310: Sẵn sàng
Tầng năng lượng rất tích cực này có thể được coi là cánh cổng dẫn đến những tầng cao hơn. Ví dụ, trong khi ở tầng Trung dung, tất cả công việc đều được hoàn thành ở mức thỏa đáng, thì ở tầng Sẵn sàng, công việc được hoàn thành ở mức tốt và thường thì, nỗ lực nào cũng thu được thành công. Trưởng thành nhanh, đây là những người được chọn để đưa lên. Sẵn sàng có nghĩa là người đó đã vượt qua được kháng cự nội tâm đối với cuộc đời và cam kết dự phần vào đời sống. Dưới điểm hiệu chỉnh 200, người ta thường bảo thủ, nhưng ở tầng 310, người ta có đầu óc rất cởi mở. Người ở tầng này trở thành thân thiện thực sự và thành công về kinh tế và xã hội dường như là đương nhiên. Thất nghiệp không làm cho người Sẵn sàng nao núng, vì họ sẽ nhận bất kỳ công việc nào, nếu cần, hay sẽ tạo dựng sự nghiệp hoặc tự mình kinh doanh. Họ không cảm thấy xấu hổ vì phải phục vụ người khác hoặc bắt đầu từ dưới đáy. Bản tính của họ là thích giúp đỡ người khác và có tinh thần xây dựng xã hội. Họ cũng sẵn sàng đối mặt với các vấn đề nội tâm của mình và không có các trở ngại lớn trong việc học hỏi.
Ở tầng này, lòng tự trọng bẩm sinh đã khá cao và còn được củng cố bởi những phản hồi tích cực từ xã hội dưới những hình thức như công nhận, đánh giá cao và phần thưởng. Sẵn sàng nghĩa là đồng cảm và đáp ứng nhiệt tình trước nhu cầu của người khác. Những người Sẵn sàng là những người xây dựng và đóng góp cho xã hội. Với khả năng vượt qua nghịch cảnh và học hỏi từ kinh nghiệm, họ thường là những người có khả năng tự hoàn thiện bản thân. Sau khi buông bỏ thái độ Kiêu hãnh, họ sẵn sàng nhìn vào những khiếm khuyết của mình và học hỏi những người khác. Những người ở tầng Sẵn sàng là những học trò xuất sắc. Họ là những người dễ dạy và là nguồn nội lực đáng kể của xã hội.
Tầng năng lượng 350: Chấp nhận
Ở tầng nhận thức này, diễn ra một thay đổi lớn, người ta biết rằng mình là nguồn gốc và là người tạo ra những trải nghiệm trong cuộc đời của chính mình. Nhận trách nhiệm như thế là điểm nổi bật của tầng này với đặc điểm là sống hài hòa với Sức mạnh đích thực của đời sống.
Tất cả những người ở những tầng dưới 200 thường tỏ ra bất lực và coi mình là nạn nhân, phó mặc thân phận cho cuộc đời định đoạt. Đấy là do người ta tin rằng hạnh phúc hay trắc trở là do “ở ngoài kia”. Một bước nhảy lớn – giành lại Sức mạnh – được hoàn thành triệt để ở tầng Chấp nhận, với nhận thức rằng cội nguồn của hạnh phúc nằm trong chính mình. Tại tầng tiến hóa hơn này, không có gì “ở ngoài kia” có khả năng làm cho con người hạnh phúc, và tình yêu không phải là một cái gì đó được người khác ban cho hay lấy đi, mà nó được tạo ra ngay trong chính bản thân mình.
Không được đánh đồng Chấp nhận với thụ động, bởi đó là biểu hiện của thờ ơ. Hình thức Chấp nhận này tạo điều kiện cho người ta tham gia vào đời sống theo các điều kiện của chính cuộc đời mà không cố gắng uốn nắn nó theo một chương trình nào hết. Cùng với Chấp nhận là bình yên về cảm xúc và khi siêu việt lên khỏi từ chối thì nhận thức càng mở rộng thêm. Lúc này, người ta nhìn thấy mọi thứ như chúng vốn là, mà không bị bóp méo hay hiểu sai; bối cảnh của trải nghiệm được mở rộng đến mức người đó có thể “nhìn được toàn bộ bức tranh”. Thực chất, Chấp nhận là giữ cân bằng, cân đối và đúng mực.
Người ở tầng Chấp nhận không thích tranh cãi đúng sai, thay vào đó, họ tìm cách giải quyết và tìm giải pháp cho vấn đề. Khó khăn không làm họ khó chịu hay nhụt chí. Các mục tiêu dài hạn được ưu tiên hơn các mục tiêu ngắn hạn; kỷ luật tự giác và làm chủ bản thân là đức tính nổi bật của họ.
Ở tầng Chấp nhận, khác biệt hay quan điểm đối lập không chia rẽ được chúng ta; chúng ta nhận ra rằng người khác cũng có những quyền giống như chúng ta, và chúng ta tôn trọng quyền bình đẳng. Trong khi các tầng thấp hơn có đặc điểm là cứng nhắc, thì ở tầng này, đa nguyên về mặt xã hội bắt đầu được coi là hình thức giải quyết vấn đề. Do đó, tầng này không còn phân biệt đối xử hay bất dung nữa; người ta nhận thức được rằng bình đẳng không loại bỏ đa dạng. Chấp nhận dung hợp chứ không chối bỏ.
Tầng năng lượng 400: Lý trí
Trí thông minh và lý tính (rationality[i]) bước lên hàng đầu khi người ta vượt lên khỏi xu hướng cảm tính (emotionalism[ii]) của các tầng thấp hơn. Lý tính có khả năng xử lý khối lượng dữ liệu lớn và phức tạp; đưa ra quyết định một cách nhanh chóng và đúng đắn; hiểu được sự phức tạp của các mối quan hệ, phân cấp và phân biệt tinh tế; và vận dụng khéo léo các biểu tượng để thể hiện các khái niệm trừu tượng, khái niệm trừu tượng ngày càng trở thành quan trọng hơn. Đây là tầng của khoa học, y học, và nói chung là khả năng trừu tượng hóa và sự hiểu biết ngày càng gia tăng. Kiến thức và giáo dục được coi là nguồn vốn. Hiểu biết và thông tin là công cụ chính để đạt được thành tựu, đấy là dấu ấn của các tầng 400. Tầng này là tầng tâm thức của những khôi nguyên Nobel, của các chính khách vĩ đại, và các thẩm phán của tòa án tối cao. Einstein, Freud và nhiều nhà tư tưởng vĩ đại khác của lịch sử cũng nằm ở tầng này, các tác giả bộ sách Great Books of the Western World (tạm dịch: Những cuốn sách vĩ đại của Thế giới phương Tây) cũng nằm ở tầng này.
Khiếm khuyết của những người ở tầng này là họ không phân biệt được một cách rõ ràng sự khác biệt giữa biểu tượng và nội dung đằng sau biểu tượng và lẫn lộn giữa thế giới khách quan và chủ quan, làm cho họ không hiểu đầy đủ về quan hệ nhân quả. Ở tầng này, rất dễ thấy cây mà không thấy rừng, rất dễ mê đắm vào các khái niệm và lý thuyết, để rồi cuối cùng rơi vào lý thuyết suông và bỏ qua bản chất của vấn đề. Tìm tòi tri thức có thể trở thành mục đích tự thân. Lý trí có giới hạn ở chỗ là nó không có khả năng phân biệt được bản chất hoặc điểm tới hạn của vấn đề phức tạp. Và, nói chung Lý trí thường không quan tâm đến bối cảnh.
Tự nó, Lý trí không cung cấp cho chúng ta kim chỉ nam hướng tới sự thật. Nó tạo ra rất nhiều thông tin và tài liệu, nhưng không có khả năng giải quyết sự thiếu nhất quán trong dữ liệu và kết luận. Tự thân tất cả các luận cứ triết học đều nghe có vẻ rất thuyết phục. Mặc dù Lý trí rất có hiệu quả trong thế giới kỹ nghệ, nơi các phương pháp logic giữ thế thượng phong, nhưng ngược đời là, bản thân Lý trí lại là chướng ngại chính, ngăn cản không cho người ta vươn lên những tầng tâm thức cao hơn. Chỉ có 4% dân số thế giới siêu việt được tầng tâm thức này mà thôi.
Tầng năng lượng 500: Tình yêu
Tình yêu được bàn ở đây không phải là thứ tình yêu mà các phương tiện truyền thông đại chúng đang quảng bá. Ngược lại, nói chung thế giới coi tình yêu là cảm xúc mãnh liệt, kết hợp hấp dẫn về thể xác, chiếm hữu, kiểm soát, nghiện, gợi tình và mới lạ. Loại tình yêu này thường phù phiếm và thất thường khi điều kiện thay đổi. Khi thất vọng, tình cảm này thường thể hiện thành tức giận và sự phụ thuộc mà nó che đậy. Người ta thường thấy tình yêu biến thành thù hận, nhưng đấy không phải là tình yêu mà là ràng buộc và thói đa cảm có tính gây nghiện. Thù hận là do Kiêu hãnh, chứ không phải Tình yêu. Trong những mối quan hệ như thế, có lẽ chẳng bao giờ có tình yêu đích thực.
Yêu thương vô điều kiện, không thay đổi và vĩnh viễn là đặc điểm của tầng này. Nó không lên xuống thất thường vì cội nguồn yêu thương nằm ở bên trong người đang yêu, không phụ thuộc vào điều kiện bên ngoài. Yêu thương là trạng thái của hiện hữu. Đó là liên hệ mang tính khoan dung, khuyến khích và nâng đỡ với thế giới bên ngoài. Tình yêu không thuộc về trí năng và không xuất phát từ tâm trí. Tình yêu bắt nguồn từ trái tim. Tình yêu này, với động cơ thuần khiết, có khả năng nâng đỡ người khác và thực hiện được những thành tích to lớn.
Ở tầng này, khả năng nhận biết bản chất nổi bật hẳn lên; cốt lõi của vấn đề trở thành trọng tâm chú ý. Vì đã vượt qua tầng Lý trí, ở đây xuất hiện khả năng nhận biết tức thời toàn bộ vấn đề và mở rộng bối cảnh, đặc biệt là đối với thời gian và quy trình. Lý trí chỉ giải quyết những vấn đề cụ thể, trong khi Tình yêu giải quyết tổng thể. Người ta thường cho rằng đấy là trực giác, tức là khả năng hiểu ngay lập tức mà không cần dựa vào quá trình suy luận biểu tượng một cách tuần tự. Trên thực tế, hiện tượng dường như trừu tượng này là khá rõ ràng; cùng với nó là quá trình giải phóng khá nhiều chất endorphin ở trong não bộ.
Tình yêu không có quan điểm và do đó, có tính bao trùm, vượt lên trên chia tách của lập trường vị (positionality – xem thuật ngữ bên dưới). Lúc đó, nó có thể trở thành “hòa nhập với người khác”, vì không còn bất kỳ rào cản nào nữa. Do đó, Tình yêu mang tính dung hợp và không ngừng mở rộng cảm thức về tự ngã. Tình yêu chú tâm vào những mặt tốt đẹp của đời sống trong tất cả các biểu hiện của nó và thúc đẩy những mặt tích cực. Nó xua tan tiêu cực bằng cách đưa vào bối cảnh khác chứ không tấn công.
Đây là tầng hạnh phúc thực sự, nhưng, mặc dù thế giới rất hào hứng với chủ đề Tình yêu, và tất cả các tôn giáo trường tồn đều có điểm từ 500 trở lên, thật thú vị khi biết rằng chỉ có 4% dân số thế giới đạt đến tầng tâm thức này mà thôi. Và chỉ có 0,4% đạt đến tầng yêu thương vô điều kiện (540).
Tầng năng lượng 540: Niềm vui
Khi Tình yêu ngày càng trở nên vô điều kiện hơn, người ta bắt đầu trải nghiệm nó như là Niềm vui bên trong chính con người mình. Đây không phải là niềm vui bộc phát khi thấy các sự kiện xoay chuyển theo hướng mà mình ao ước; mà là niềm vui đi kèm với tất cả các hoạt động của người đó. Niềm vui xuất hiện trong từng khoảnh khắc của đời sống, chứ không phải từ bất kỳ nguồn bên ngoài nào. 540 cũng là tầng chữa lành và của các nhóm giúp đỡ lẫn nhau về mặt tâm linh.
Từ tầng 540 trở lên là lĩnh vực của thánh nhân, những người chữa lành về mặt tâm linh, và những người nghiên cứu tâm linh cao cấp. Đặc điểm của trường năng lượng này là mức độ kiên nhẫn siêu hạng và giữ vững thái độ tích cực trước những nghịch cảnh kéo dài. Điểm nổi bật của trạng thái này là tâm từ bi. Những người đạt đến tầng này có ảnh hưởng đáng kể lên những người khác. Họ có quan điểm cởi mở và bền bỉ, có thể khơi gợi trạng thái tin yêu và an bình.
Ở những tầng ở nửa trên 500, người ta thấy thế giới lung linh vẻ đẹp tinh tế và hoàn hảo của tạo tác. Mọi thứ đều diễn ra một cách nhẹ nhàng như không, vì chúng xảy ra đồng nhịp với nhau; thế giới cùng với mọi thứ trong thế giới này được coi là biểu hiện của tình yêu và Thần tính. Ý chí Cá nhân hợp nhất với ý chí Thiêng liêng (Devine Will[iii]). Người ta cảm nhận được Hiện diện mang theo năng lượng tạo điều kiện cho các hiện tượng xảy ra ngoài sức tưởng tượng về thực tại của người bình thường, mà người quan sát bình thường gọi là kỳ diệu. Những hiện tượng này là sức mạnh bên trong của trường năng lượng, chứ không phải của cá nhân.
Ở tầng này, ý thức trách nhiệm đối với người khác khác về chất so với những tầng thấp hơn. Họ mong muốn sử dụng trạng thái tâm thức của mình vì lợi ích của chính đời sống chứ không phải vì lợi ích của những con người cụ thể. Cùng với khả năng yêu nhiều người cùng một lúc, người ta còn phát hiện được rằng, càng yêu nhiều, thì người ta càng có thể yêu nhiều hơn nữa.
Mặc khải xảy ra ở những tầng ở nửa trên 500, do đó, mở đường cho sự biến đổi và tâm từ bi dẫn đến trạng thái mê ly và các trạng thái gần 600. Đây là những trạng thái Phúc lạc và là khởi đầu của trạng thái tâm thức được khai mở bởi Ánh sáng và Chứng ngộ. Chúng thường đi kèm với cảm giác về Ánh sáng. Ví dụ, căn phòng bừng sáng khi Bill Wilson của A.A. có trải nghiệm tâm linh của mình. Ông nói rằng căn phòng được chiếu sáng bởi Hiện Diện Vô biên (điểm hiệu chính 575). Đó là sự khởi đầu của tiếp cận với trường năng lượng có điểm hiệu chỉnh 600. Ánh sáng rạng rỡ lan tỏa ra thế giới như phong trào 12 bước toàn cầu vĩ đại, thông qua đó A.A. đã giúp cho hàng triệu người cai được nghiện rượu.
Trải nghiệm cận tử, do tác động mang tính chuyển hóa của nó, thường cho phép người ta trải nghiệm tầng năng lượng từ 540 đến 600.
Tầng năng lượng 600: An bình
Trường năng lượng này liên quan tới trải nghiệm được thể hiện bằng những thuật ngữ như siêu việt (transcendence[iv]), Kiến chân tính, và Thần thức (God-consciousness[v]). Đây là trạng thái cực kỳ hiếm hoi. Khi đạt đến trạng thái này sẽ không còn có sự phân biệt giữa chủ thể và khách thể nữa, và không còn tiêu điểm tri giác cụ thể nữa. Không hiếm những trường hợp khi những người đạt đến tầng này lui về ở ẩn, tránh xa thế giới, vì trạng thái phúc lạc xuất hiện sau đó sẽ cản trở, không cho người đó làm những công việc trần tục nữa. Một số người trở thành đạo sư; một số người khác hoạt động âm thầm vì lợi ích của nhân loại. Một số người trở thành những thiên tài vĩ đại trong các lĩnh vực của mình và có những đóng góp to lớn cho xã hội. Những người này là thánh và cuối cùng có thể được chính thức phong thánh, mặc dù ở tầng này, người ta thường đã siêu việt tôn giáo hình thức, để được thay thế bằng tâm linh thuần khiết, cội nguồn của tất cả các tôn giáo.
Đôi khi có người nói rằng tri giác từ tầng 600 trở lên xảy ra như trong một đoạn phim quay chậm, chùng chình trong thời gian và không gian – mặc dù không có gì đứng yên; tất cả đều sống động và rạng rỡ. Mặc dù thế giới này cũng là thế giới mà những người khác đều nhìn thấy, nó liên tục trôi chảy, tiến triển trong vũ điệu tiến hóa được phối hợp một cách nhịp nhàng, tràn đầy ý nghĩa và năng lượng. Mặc khải tuyệt vời này diễn ra một cách phi lý tính, đến mức tâm trí hoàn toàn tĩnh lặng, không còn bất cứ giải thích nào. Người chứng kiến và điều được chứng kiến trở thành một; người quan sát hòa tan vào cảnh quan và trở thành cái được quan sát. Tất cả mọi thứ đều được Sự Hiện Diện – với quyền năng vô hạn, vi tế nhưng vô cùng bền chắc – kết nối với nhau.
Những tác phẩm nghệ thuật, âm nhạc và kiến trúc xuất sắc có điểm từ 600 đến 700 có thể nhất thời đưa chúng ta lên tầng tâm thức cao hơn và được mọi người công nhận là có khả năng truyền cảm hứng và bất tử.
Tầng năng lượng 700-1.000: Chứng ngộ
Đây là tầng của những Vĩ nhân trong lịch sử, những người đã khởi phát những con đường tu tập tâm linh mà quần chúng đã tu tập theo trong suốt nhiều thời đại. Tất cả đều gắn liền với Thần tính, và thường đồng nhất với Nó. Đây là tầng của những cảm hứng mãnh liệt, những Vĩ nhân này nằm trong các trường năng lượng điểm hút có ảnh hưởng đến toàn thể nhân loại qua suốt nhiều thời đại. Ở tầng này, không còn trải nghiệm của tự ngã cá nhân tách biệt với những tự ngã khác nữa; mà là Đại ngã đã hợp nhất Tâm thức và Thần tính. Người ta trải nghiệm Đấng Phi Hiển Lộ (Unmanifest[vi]) như là Đại ngã vượt ngoài tâm trí. Siêu việt khỏi bản ngã cũng là tấm gương dạy những người khác cách thức thực hiện điều đó. Đây là đỉnh cao nhất của quá trình tiến hóa tâm thức trong cõi nhân gian.
Những giáo lý vĩ đại đã nâng đỡ quần chúng và nâng cao tầng tỉnh thức của toàn thể nhân loại. Tầm nhìn như thế được gọi là ân sủng, và món quà mà nó mang lại là an bình vô hạn, không thể diễn tả bằng lời. Ở tầng chứng ngộ này, cảm thức về sự tồn tại của người đó siêu việt mọi thời gian và tất cả tính cá thể. Không còn đồng nhất với cơ thể vật lý như là “tôi” nữa, và do đó, không còn lo lắng cho số phận nữa. Cơ thể chỉ được coi là công cụ của tâm thức thông qua sự can thiệp của tâm trí, giá trị cốt yếu của nó là truyền tải thông tin. Tự ngã cá nhân hòa nhập trở lại vào Đại ngã. Đây là tầng của bất nhị, hoặc Nhất thể trọn vẹn. Tâm thức không còn nằm một chỗ; cái Biết hiện diện như nhau ở khắp mọi nơi.
Các tác phẩm nghệ thuật vĩ đại khắc họa các bậc đã Chứng ngộ có đặc điểm là một người thầy với vị trí cụ thể của bàn tay, được gọi là mudra (thủ ấn), lòng bàn tay tỏa ra phúc lành. Đây là hành động truyền trường năng lượng tới tâm thức của nhân loại. Tầng Ơn Phước Thiêng Liêng (Divine Grace[vii]) đạt điểm 1.000, tầng cao nhất mà một số người sống trong giai đoạn lịch sử thành văn đã đạt được – tức là những người được tôn xưng là Thánh Thần Giáng Thế như Krishna, Đức Phật và Chúa Jesus Christ.
NHỮNG VÍ DỤ THƯỜNG THẤY VỀ CÁCH CÁC TẦNG TÂM THỨC
QUYẾT ĐỊNH HÀNH VI CON NGƯỜI
Trên Bản đồ Tâm thức, hai điểm tựa quan trọng tạo điều kiện cho những bước tiến bộ vượt bậc.
· Điểm tựa đầu tiên nằm ở tầng 200, tầng ban đầu của tự chủ. Lúc này ngươi ta thôi đổ lỗi và chấp nhận trách nhiệm về hành động, cảm xúc và niềm tin của chính mình. Chừng nào nguyên nhân và trách nhiệm còn được phóng chiếu lên người khác, thì người đó sẽ vẫn ở trong tình trạng bất lực của nạn nhân. Rõ ràng, biện pháp duy nhất để gia tăng hạnh phúc, thịnh vượng và năng lượng tâm linh là chuyển lên tầng tâm thức cao hơn. Những cuộc tìm kiếm hạnh phúc bất tận “ở ngoài kia” (tài sản, chấp thuận, giải thưởng, bằng cấp, v.v.) không bao giờ mang lại hạnh phúc trong dài hạn. Hạnh phúc là sản phẩm tự nhiên của quá trình tiến bộ trong tâm thức.
· Thứ hai là tầng 500, người ta vươn tới đó bằng cách chấp nhận tình yêu và tha thứ mà không phán xét như là một lối sống, tử tế vô điều kiện đối với tất cả mọi người, mọi vật và mọi sự kiện mà không có ngoại lệ nào. (Trong các nhóm phục hồi 12 bước, người ta nói rằng không có cái gọi là oán hận chính đáng. Ngay cả khi ai đó “làm điều không đúng đối với bạn”, bạn vẫn được tự do lựa chọn phản ứng của mình và buông bỏ oán hận.) Một khi bạn thực hiện cam kết này, bạn bắt đầu trải nghiệm một thế giới khác, hiền hòa hơn, đấy là khi tri giác của bạn đang tiến hoá.
Công trình nghiên cứu của chúng tôi chỉ ra rằng các tầng tâm thức là yếu tố quyết định trong nhiều biến số xã hội và hành vi cá nhân, như được thể hiện trong biểu đồ bên dưới:
Tương quan giữa tầng tâm thức và các vấn đề xã hội
Tầng tâm thức | Tỷ lệ thất nghiệp | Tỷ lệ nghèo đói | Tỷ lệ hạnh phúc (“cuộc đời như thế là được rồi”) | Tỷ lệ tội phạm |
600+ | 0% | 0.0% | 100% | 0.0% |
500–600 | 0% | 0.0% | 98% | 0.5% |
400–500 | 2% | 0.5% | 79% | 2.0% |
300–400 | 7% | 1.0% | 70% | 5.0% |
200–300 | 8% | 1.5% | 60% | 9.0% |
100–200 | 50% | 22.0% | 15% | 50.0% |
50–100 | 75% | 40.0% | 2% | 91.0% |
<50 | 97% | 65.0% | 0% | 98.0% |
Muốn hiểu rõ hơn, xin xem xét ví dụ sau đây. Hãy tưởng tượng một ngươi gọi là “hành khất” đang đứng ở một góc phố:
Trong một khu phố sang trọng giành cho giới thượng lưu, ở một thành phố lớn, có một ông già quần áo tả tơi đang đứng một mình, lưng dựa vào phiến đá lát tường bóng loáng. Bây giờ, xin quan sát ông lão từ những tầng tâm thức khác nhau và lưu ý tới những khác biệt trong diện mạo của ông ta.
Từ tầng cuối cùng, tầng 20 (Nhục nhã), ông lão ăn mày trông thật bẩn thỉu, kinh tởm và đáng xấu hổ. Từ tầng 30 (Mặc cảm tội lỗi), ông ta bị chỉ trích vì để cho mình rơi vào tình trạng như thế. Ông ta đáng bị như thế; có lẽ ông ta là một kẻ lười nhác, gian dối hòng hưởng phúc lợi xã hội. Ở tầng 50 (Thờ ơ), hoàn cảnh khốn cùng của ông ta có thể toát lên vẻ tuyệt vọng, là bằng chứng chứng tỏ rằng xã hội hoàn toàn bất lực trước vấn đề người vô gia cư. Ở tầng 75 (U sầu), ông lão trông thật thảm hại, không bạn bè, hoàn toàn cô độc và trơ trọi.
Ở tầng tâm thức 100 (Sợ hãi), chúng ta có thể coi người hành khất này như một mối đe dọa, một kẻ gây phiền toái cho xã hội. Có lẽ nên gọi cảnh sát trước khi ông ta phạm tội. Ở tầng 125 (Ham muốn), ông ta có thể là biểu tượng cho một vấn đề nhức nhối – vì sao không có người đứng ra giải quyết? Ở tầng 150 (Tức giận), ông lão có thể trông giống như một kẻ thích gây hấn; hoặc, người ta có thể tức giận khi thấy tình trạng như thế vẫn tồn tại trong xã hội. Ở tầng 175 (Kiêu hãnh), ông ta có thể bị coi như một nỗi xấu hổ hoặc một kẻ thiếu lòng tự trọng, không biết tự cải thiện bản thân mình. Ở tầng 200 (Can đảm), chúng ta có thể tự hỏi liệu ở gần đây có nhà cho người vô gia cư hay không; việc làm và chỗ ở là những thứ ông ta cần ngay lúc này.
Ở tầng 250 (Trung dung), ông lão trông khá ổn, thậm chí có thể là thú vị nữa. Ta có thể tự nhủ: “Dĩ hòa vi quý thôi”; nói cho cùng, ông ấy chẳng làm hại ai. Ở tầng 310 (Sẵn sàng), chúng ta có thể quyết định lại gần ông lão và xem có thể giúp đỡ ông ta, hoặc tham gia công tác với tổ chức thiện nguyện ở địa phương trong một thời gian nào đó. Ở tầng 350 (Chấp nhận), ông lão khơi dậy trí tò mò. Có lẽ ông ta có một câu chuyện thú vị, rất đáng quan tâm; ông ấy đang ở đó vì những lý do mà chúng ta có thể không bao giờ hiểu được. Ở tầng 400 (Lý trí), ông ta là biểu hiện của tình trạng bất ổn kinh tế và xã hội đang diễn ra trong thời điểm hiện nay, hoặc có lẽ là một chủ đề tốt cho công trình nghiên cứu tâm lý chuyên sâu, xứng đáng được chính phủ tài trợ.
Ở các tầng cao hơn, ta thấy ông già không chỉ toát lên vẻ thú vị, mà còn thân thiện và thậm chí là đáng yêu. Có lẽ sau đó chúng ta sẽ có thể thấy rằng ông ta, trên thực tế, là một người đã siêu việt các giới hạn của xã hội và để sống đời tự do tự tại, một ông lão vui vẻ mang vẻ thông thái của tuổi tác và sự thanh thản của một người hoàn toàn bàng quan trước vật chất. Ở tầng 600 (An bình), ông là hình ảnh phản chiếu nội tâm của ta theo sự biểu lộ tức thời của nó.
Khi có người tới gần, phản ứng của ông già với những người ở các tầng tâm thức khác nhau cũng sẽ khác nhau. Với một số người, ông ta sẽ cảm thấy an toàn, với những người khác, ông ta cảm thấy sợ hãi hoặc chán nản. Một số người sẽ làm ông ta tức giận, còn một số người khác thì làm cho ông ta thích thú. Do đó, ông ta sẽ tránh một số người, và vui vẻ chào đón một số người khác. (Vì thế mới nói, thực ra, cái chúng ta gặp chính là cái gương đang phản chiếu hình bóng của chính mình) .
Tầng tâm thức của chúng ta quyết định những thứ chúng ta nhìn thấy diễn ra theo cách như thế. Cũng đúng như thế nếu nói rằng khi ta áp dụng hệ thống ý niệm này vào thực tại trước mắt, thì tầng tâm thức tại thời điểm quan sát sẽ là căn cứ để dự báo phản ứng của ta trước thực tại đó. Sự kiện bên ngoài có thể tạo ra điều kiện, nhưng chúng không quyết định tầng tâm thức của phản ứng của con người. Để minh họa, xin lấy ví dụ phàm tục hơn trong hệ thống hình phạt hiện nay của chúng ta.
Dù được đưa vào cùng một môi trường cực kỳ căng thẳng, các tù nhân khác nhau – tùy thuộc vào tầng tâm thức của họ – sẽ phản ứng cực kỳ khác nhau. Những tù nhân vời tâm thức ở tầng thấp nhất đôi khi tìm cách tự tử. Một số người khác bị rối loạn tâm thần, còn một số mắc chứng hoang tưởng. Trong cùng một hoàn cảnh, nhưng có người trở thành chán nản, câm lặng và bỏ ăn. Có những người lấy tay ôm đầu, cố giấu những giọt nước mắt tủi hổ. Người ta thường cảm thấy sợ hãi, trong đó có cả thái độ phòng thủ đầy hoang tưởng. Trong cùng một phòng giam ấy, chúng ta thấy những tù nhân có tầng năng lượng cao hơn tỏ ra tức giận, bạo lực, dễ gây gổ và giết người. Thái độ kiêu ngạo được thể hiện ở khắp mọi nơi, dưới dạng một tay bặm trợn dương dương tự đắc và chiến đấu để ngoi lên vị trí thống trị.
Ngược lại, một số tù nhân tìm được dũng khí để đối mặt với nguyên nhân vì sao họ lâm vào cảnh tù đày, và bắt đầu suy ngẫm về đời sống nội tâm của mình một cách trung thực. Và bao giờ cũng có những người có khả năng vượt qua nghịch cảnh và đọc sách báo. Các tù nhân với tâm thức ở tầng Chấp nhận tìm kiếm người giúp đỡ và tham gia các nhóm hỗ trợ. Thỉnh thoảng cũng có những tù nhân tìm kiếm niềm vui trong học tập, bắt đầu học trong thư viện nhà tù hoặc trở thành cố vấn pháp lý cho các bạn tù (một vài cuốn sách chính trị có ảnh hưởng nhất trong lịch sử được chấp bút sau song sắt nhà tù). Một ít tù nhân chuyển hóa được tâm thức và họ chăm sóc các bạn tù với tấm lòng nhân ái và hào hiệp. Đã từng có tù nhân nhất quán với các trường năng lượng cao hơn và dấn sâu vào con đường tâm linh, thậm chí chủ động hướng tới Chứng ngộ.
Đây là điểm then chốt rút ra từ các ví dụ trên: cách chúng ta phản ứng phụ thuộc vào thế giới mà ta dường như đang phản ứng lại. Con người mà ta trở thành, cũng như điều ta nhìn thấy, đều được quyết định bởi tri giác; và có thể nói một cách giản dị rằng chính tri giác đã tạo nên thế giới trải nghiệm — thế giới tri giác — của chúng ta.
Chiêm nghiệm Bản đồ Tâm thức có thể chuyển hoá sự hiểu biết của bạn về các lĩnh vực quan trọng của cuộc đời, bắt đầu từ niềm tin vào quan hệ nhân quả, vốn là một rào cản lớn cho tiến bộ. Khi tri giác tiến hóa cùng với tầng tâm thức, người ta sẽ ngày càng hiểu rõ ràng rằng cái mà thế giới gọi là miền nguyên nhân trên thực tế lại là miền kết quả. Không có gì “ở ngoài kia” gây ra trải nghiệm đời sống của bạn mà chính là những gì “ở trong này”, đó là trường năng lượng đang hoạt động trong đời sống của bạn. Bằng cách chịu trách nhiệm về hậu quả của tri giác của chính mình, bạn có thể vượt qua vai trò nạn nhân và hiểu rằng “không có gì ở ngoài kia có quyền lực đối với bạn”. Không phải các sự kiện trong cuộc đời mà là cách bạn phản ứng với chúng và thái độ của bạn về chúng quyết định liệu các sự kiện đó có tác động tích cực hay tiêu cực đến đời sống của bạn, liệu chúng được trải nghiệm như là cơ hội hay căng thẳng. Không có gì tự nó có sức mạnh để “tạo ra” căng thẳng. Âm nhạc ồn ào làm tăng huyết áp của người này có thể là nguồn vui đối với người khác. Ly hôn có thể là một cú sốc nếu không mong muốn, hoặc là giải thoát đến tự do nếu được mong muốn. Vì vậy, cách duy nhất để thay đổi trải nghiệm cuộc sống của bạn là phát triển tâm thức thông qua việc hòa hợp với các mô thức điểm hút năng lượng cao.
CÂU HỎI VÀ TRẢ LỜI
Hỏi: Làm sao mà một người có thể chuyển từ trạng thái tuyệt vời sang trạng thái tồi tệ chỉ trong vài giây?
Trả lời: Đó gọi là bản chất người! Vỏ não trước trán, phần làm nên con người chúng ta, là phần bổ sung cho bộ não động vật có từ xa xưa. Bộ não bò sát vẫn hoạt động, vì vậy nếu muốn, bạn có thể ngay lập tức trở thành một kẻ giết người, giống như rồng Komodo. Bạn đã học cách không phản ứng lại nó, nhưng xung động giết chóc, cũng như các xung động nguyên thủy khác vẫn xuất hiện. Hãy để ý xung động giết người của bạn khi một người nào đó cắt ngang mặt bạn!
Về mặt cảm xúc, hầu hết mọi người đều trải nghiệm một loạt các cung bậc cảm xúc khác nhau. Tầng tâm thức của bạn có thể là tốt, rồi đột nhiên bạn rơi vào Mặc cảm tội lỗi, Nhục nhã, Đau khổ, Sợ hãi, Ham muốn, Tức giận, v.v. Những cảm xúc này chỉ thoáng qua. Tầng tâm thức tổng thể của bạn là tầng chiếm ưu thế, nhưng nó không loại trừ những cảm xúc xuất phát từ vô thức cá nhân. Một số trong đó là những thứ bạn đã phóng chiếu vào thế giới. Giờ đây, khi bạn nhận trách nhiệm tâm linh, đột nhiên bạn có mặc cảm tội lỗi về chúng. Nhưng đó chỉ là quá trình xử lý tạm thời năng lượng của mặc cảm tội lỗi; điều đó không có nghĩa là tâm thức của bạn đã sa sút đến tầng mặc cảm tội lỗi!
Một điều cần xem xét nữa là cần thời gian để đồng hóa và phát triển lên mô thức mới. Thay vì cố gắng thay đổi quá nhiều và quá nhanh, làm như thế có thể gây ra xáo trộn lớn, tốt hơn hết là hãy cùng phát triển với nó và để nó dần ổn định. Mỗi người phát triển theo khả năng, ý định, thái độ sẵn sàng và sự chín muồi nghiệp lực của riêng mình. Và bạn không biết tốc độ đó là bao nhiêu.
Hỏi: Có bình thường không khi một người cảm thấy như mình đang đi lên và đi xuống trong toàn bộ Bản đồ?
Trả lời: Hầu hết những người tìm kiếm tâm linh đều trải qua nhiều giai đoạn khác nhau, có thể từ tuyệt vọng đến niềm vui hoặc thậm chí là mê ly. Cũng có những khoảng thời gian khá dài mà dường như không có gì xảy ra, và bạn có thể cảm thấy như mình không tiến bộ được một chút nào. Xen kẽ với đó là những giai đoạn dường như trì trệ, thất vọng, tự trách mình, và thậm chí là tuyệt vọng. Tất cả những giai đoạn này trong quá trình tổng thể đều là bình thường. Kiên trì và tận tâm sẽ giúp bạn vượt qua. Con đường sẽ dễ dàng hơn nếu có một người thầy chân chính hoặc một nhóm tận tâm.
Bạn cũng sẽ khám phá ra rằng “Tình yêu mang đến cái trái ngược với nó”, vì vậy chính ý định trở nên yêu thương vô điều kiện lại tạo ra những trở ngại cần phải vượt qua (tức là ghen tị, oán hận, thiếu kiên nhẫn, v.v.). Tình yêu và an bình là đe dọa lớn nhất đối với “bản ngã”, nó tự bảo vệ mình bằng cách dựa vào những lập trường cố hữu ẩn giấu trong vô thức. Những thái độ không yêu thương này nảy sinh từ thời thơ ấu, xuất phát từ bản năng sinh tồn của não động vật và bị kìm nén xuống dưới bề mặt bởi áp lực từ cha mẹ và xã hội thông qua các cơ chế tâm lý quen thuộc như đàn áp, phủ nhận, kìm nén, phản ứng ngược, phóng chiếu và hợp lý hóa. C. G. Jung đã tạo ra từ “bóng tối” để chỉ những phần bị chối bỏ trong tính cách cần được thừa nhận và xử lý trong quá trình phát triển tâm lý.
Điều đó có thể gây xáo trộn khi những mặt tiêu cực này bộc phát từ vô thức đúng vào lúc bạn đang khát khao trở nên yêu thương hơn. Tuy nhiên, bạn có thể xem việc đối diện với chúng như là hệ quả tất yếu của cam kết đối với tiến trình tiến hóa nội tâm của chính mình.
Nghiệp quá khứ là điều mà người khao khát tâm linh không biết tới, dù nó cũng là một yếu tố có ảnh hưởng. Vì vậy, bạn không thể so sánh mình với người khác về thời điểm hay chi tiết của trải nghiệm. Khi bạn thăng tiến trên Bản đồ và có khả năng tiếp cận nguồn năng lượng lớn hơn, có thể bạn ‘đủ điều kiện’ để những nghiệp tiêu cực được khơi lên và được thanh lọc. Do đó, có thể sẽ xuất hiện những giai đoạn khó khăn về tài chính, bệnh tật, hoặc các thử thách khác không thể lường trước. Những gì bề ngoài trông như một bước lùi, vì thế, thực chất lại là một cơ hội để tiến hóa.
Hỏi: Cách tốt nhất để nâng cao tâm thức là gì?
Trả lời: Kiên trì. Nỗ lực tâm linh hiệu quả là kết quả của sự kiên trì và bền bỉ hơn là những hăng hái nhất thời. Mỗi giai đoạn tiến hóa tâm linh đều là tự tưởng thưởng, thỏa mãn và trọn vẹn trong chính nó.
Phát hiện được rằng những khoảnh khắc đau khổ trước đây xứng đáng với nỗ lực bỏ ra. Và khiêm nhường. Từ bỏ ảo tưởng rằng tôi biết luôn luôn xảy ra trước khi có những bước nhảy vọt lớn trong tâm thức. Vì vậy, bạn phải sẵn sàng buông bỏ việc thầm nghĩ rằng tôi biết, và nói, “Tôi không biết.” Thường thì, con đường duy nhất để một người đạt tới thái độ sẵn sàng thay đổi là khi họ ‘chạm đáy’ — tức là đi trọn vẹn một đường lối hành động cho đến khi hệ thống niềm tin vô vọng của nó tự sụp đổ. Ánh sáng không thể đi vào một chiếc hộp kín; mặt tích cực của thảm họa đôi khi chính là sự mở ra của một tầng nhận thức cao hơn. Khi đời sống được nhìn như một người thầy, thì nó thực sự trở thành như vậy. Nếu những bài học đau đớn của cuộc đời không được chuyển hóa — thông qua khiêm tốn — thành những cánh cổng của tăng trưởng và phát triển, thì chúng sẽ bị uổng phí.
Hỏi: Ông từng nói rằng chỉ riêng hành động hiệu chỉnh tâm thức cũng có thể làm thay đổi tầng hiệu chỉnh của một đối tượng, nhờ vào Ý định. Điều đó có thể xảy ra bằng cách nào?
Trả lời: Chúng tôi đã phát hiện ra rằng khi những người trên 200 điểm quan sát một thứ gì đó với lòng yêu thương, họ đã nâng cao tầng hiệu chỉnh của nó lên một cách đáng kể. Ví dụ, khi chúng ta coi một thứ gì đó hoặc một ai đó là đáng yêu, tầng hiệu chỉnh đang ở 204 sẽ nhảy lên khoảng 310. Bạn có thấy nó có ý nghĩa gì hay không? Bạn không cần phải đi ra ngoài và làm những điều cầu kỳ. Chỉ cần chứng kiến tính linh thiêng của toàn bộ tồn tại, tiếp cận mọi sự sống với lòng tôn kính và thiện chí; chỉ riêng điều đó thôi, bạn đã đang làm thay đổi thế giới — theo đúng nguyên lý Heisenberg, vốn nói rằng việc quan sát một vật sẽ làm thay đổi chính nó. Tôi không biết trước khi chúng ta chiêm nghiệm nó thì tiếng gừ gừ của chú mèo con có ở tầng 500 hay không, nhưng bây giờ thì ở tầng đó rồi.
Tầng tâm thức của người quan sát càng cao, thì tác động lên đối tượng được quan sát sẽ càng lớn. Chúng ta thực sự đã và đang thay đổi các tầng tâm thức được hiệu chỉnh và phần lớn xã hội chỉ bằng việc quan sát công việc mà chúng ta đang cùng nhau thực hiện. Mọi thứ chúng ta nhìn bằng yêu thương đều nâng cao tầng hiệu chỉnh của nó, ngay cả rồng Komodo thì cũng thế. Nó chỉ đang là con vật mà nó đang là, một con rồng Komodo rất tốt, có thể giết người một cách chính xác và nuốt chửng bạn chỉ bằng một miếng cắn! Thật ấn tượng, và chúng ta nhìn thấy ngay cả ở rồng Komodo một nét đáng yêu – vốn là sự biểu hiện của Thần tính bên trong tiến trình mở ra của Tạo hóa, nơi mà vạn vật đều phụng sự cho Thực tại Tối hậu.
Thế giới đang trở thành cái mà chúng ta hình dung, và nếu nó được tạo ra bằng tình yêu, thì nó rất mạnh mẽ. Hãy nhìn vào tất cả sức mạnh mà bạn đang mang theo mà không hề hay biết! Mọi thứ chúng ta nhìn vào, nếu chúng ta yêu thương và tha thứ cho nó vì bản chất của nó—nếu chúng ta chứng kiến sự thiêng liêng của nó, nếu chúng ta coi nó như một biểu hiện của quá trình tiến hóa, và nó phục vụ một mục đích tối thượng nào đó—thì quan sát của chúng ta sẽ ảnh hưởng tới nó.
Xem cá sấu trên kênh nature channel thật là khai sáng. Nếu bạn muốn học hỏi nhiều điều về tâm linh, hãy xem kênh nature channel, vì trong tự nhiên, bạn sẽ thấy một thế giới không hề có định kiến. Có con hà mã và con cá sấu trên bãi biển, và con hà mã có một bản năng làm mẹ đối với cá sấu. Ý tôi là, ai có thể yêu thương một con cá sấu ngoài một con hà mã? Mọi người đều sợ cá sấu trừ hà mã. Mỗi năm hà mã giết nhiều người hơn hầu hết các loài động vật khác, nhưng ngay cả hà mã cũng có khả năng quan tâm đến cá sấu. Hà mã tiến lại gần, huých nhẹ con cá sấu và thậm chí liếm nó, đảm bảo rằng con cá sấu cảm thấy thoải mái. Làm sao một con hà mã lại có bản năng làm mẹ đối với một con cá sấu? Rõ ràng là chúng đã kết bạn với nhau qua hàng thiên niên kỷ. Con cá sấu đang giật giật, và hà mã đẩy con cá sấu sang một bên cho đến khi con cá sấu hài lòng. Hãy tưởng tượng liếm một con cá sấu! Đó mới là yêu thương và chấp nhận! Vậy nên, có lẽ ta nên học theo loài hà mã: biết nuôi dưỡng và chở che cả những gì mà thế gian coi thường, gán cho cái nhãn Homo horribilis[viii]!
[i] Rationality - Lý tính là khả năng sử dụng trí thông minh để đưa ra quyết định đúng đắn và hình thành niềm tin dựa trên bằng chứng. Nó giống như phần mềm vận hành phần cứng. Đặc điểm: Khả năng chống lại các định kiến (biases), tư duy phản biện, và đánh giá xác suất khách quan. Đo lường: Qua các bài kiểm tra về tư duy logic, ra quyết định (RQ - Rationality Quotient).
[ii] Emotionalism – Cảm tính, là xu hướng nhấn mạnh vào cảm xúc hơn là lý trí. Trong nghệ thuật, nó nhấn mạnh khả năng truyền tải cảm xúc. Trong tâm lý, nó chỉ việc để cảm xúc chi phối các quyết định và hành vi.
[iii] Divine Will - Ý chí thiêng liêng là ý định của sức mạnh tối cao. Nó đối lập với ý chí cá nhân (Personal Will) và hướng tới sự hài hòa, mục đích cao cả của vũ trụ.
[iv] Transcendence - Siêu việt là trạng thái vượt lên trên các giới hạn của thế giới vật chất, bản ngã hoặc trí năng để đạt tới những giá trị cao cả hoặc thiêng liêng hơn. Nói về trạng thái thì siêu việt là vượt qua bản ngã, hướng tới cái tuyệt đối/thiêng liêng. Nói về tiến trình thì siêu việt các tầng tâm thức là vượt qua và bao hàm; là mở rộng nhận thức theo hình xoắn ốc. Phân biệt: Siêu việt là “bầu trời”, siêu việt các tầng tâm thức là “cái thang”.
[v] God-consciousness - Ý thức Chúa. Trong hệ thống của Hawkins, God-consciousness gắn liền với các tầng năng lượng cao nhất (thường từ 600 đến 1.000 - mức của các Bậc Chứng ngộ). Không còn sự phân biệt: Ở tầng này, phân biệt giữa “Tôi” và “Thiên Chúa” tan biến. Bạn không còn “tin” vào Thượng đế nữa, mà bạn trải nghiệm trực tiếp sự hiện diện của Ngài như là bản chất thật sự của chính mình và của vạn vật. Chủ thể và Khách thể hợp nhất: Thế giới không còn được nhìn nhận như một thứ gì đó “bên ngoài”. Tất cả đều là sự biểu hiện của Tâm thức duy nhất. Trạng thái Bất nhị (Non-duality): Đây là trạng thái mà mọi đối cực (tốt/xấu, sống/chết, ta/người) đều được siêu việt.
[vi] Unmanifest - Đấng Phi Hiển Lộ - là trạng thái tiềm tàng, phi hình tướng, nằm ngoài thời gian và không gian. Trong hệ thống Hawkins: Không được nhầm lẫn với “Hư vô” (The Void) tĩnh mịch. Đây là Sự Hiện Diện Vô Biên (Infinite Presence) – nguồn sống rực rỡ mà từ đó mọi sự vật hữu hình (Manifest) được phóng chiếu ra. Bản chất: Là “Cái Tất Cả” (Allness) ở dạng tiềm năng thuần túy, không phải là “Tính Không” (Nothingness/Void). Mối quan hệ: Manifest (Hiển lộ) là “sóng”, Unmanifest (Phi Hiển lộ) là “đại dương” rực rỡ sự sống.
[vii] Divine Grace - Ân phước Thiêng liêng. Là nguồn năng lượng trợ lực từ Thực tại Tuyệt đối, giúp cá nhân siêu việt các giới hạn của bản ngã. Hoạt động theo nguyên lý phi tuyến tính. Con người không “tạo ra” Ân phước, mà chỉ có thể “mở lòng” để đón nhận thông qua phó thác (Surrender). Nó là yếu tố quyết định để vượt qua các ngưỡng cửa tâm linh quan trọng (như việc bước qua “Hư vô” để chạm tới “Hiện diện”. Thông điệp chủ đạo: “Ta không thể tự cứu mình bằng bản ngã; chỉ có Ân phước mới có thể dẫn ta về nhà”.
[viii] Homo horribilis: Cách gọi châm biếm chỉ con người trong trạng thái tâm thức thấp, đối lập với Homo sapiens.
--

%20(4).png)
.png)



0 Comments