https://phamnguyentruong.blogspot.com/2026/03/ban-o-tam-thuc-giang-giai-8.html
GIẢI MÃ BẢN ĐỒ TÂM THỨC
David R. Hawkins, M. D., Ph. D.
Phạm Nguyên Trường dịch
Chương 6
CAI NGHIỆN
Chúng ta không nghiện chất gây nghiện mà nghiện trải nghiệm về Chân Ngã của mình, nghiện trạng thái an bình ở bên trong và tình yêu dành cho tất cả đời sống.
Bộ phim kinh điển Chân trời đã mất (Lost Horizon) khắc họa hành trình thức tỉnh lên tầng tâm thức cao hơn và động lực tìm kiếm tầng tâm thức này bằng mọi giá. Ronald Coleman thủ vai nhân vật chính, Robert Conway, sống sót sau vụ tai nạn máy bay trên dãy Himalaya và đã đến một thung lũng tuyệt đẹp tên là Shangri-La (một trạng thái phi thời gian và yêu thương vô điều kiện, có điểm hiệu chỉnh khoảng 600). Khi Conway trở lại với đời sống bình thường ở Anh (đời sống có điểm hiệu chỉnh khoảng 200), gặt hái được thành công, nhưng không tìm được bất kì thỏa mãn nào so với trạng thái an bình sâu sắc mà anh ta đã trải nghiệm ở Shangri-La. Anh ta khao khát được trở lại trạng thái tâm thức ở bên trong bằng mọi giá. Anh ta liều mạng mong tìm được cánh cổng giúp anh ta trở lại Shangri-La (bộ phim miêu tả Shangri-La như một địa điểm, nhưng chúng ta biết rằng thực ra nó nằm trong chính tâm thức).
Đây là lý do vì sao người nghiện rượu uống rượu, người nghiện ma túy hút chích ma tuý, hoặc bất kỳ người nào trong chúng ta tìm đến những biện pháp khác để “có cảm giác tốt hơn”. Chúng ta đang tìm cách đưa tâm thức của mình lên tầng cao hơn. Khi bị Sợ hãi (điểm hiệu chỉnh 100) làm cho tê liệt, việc có thể uống một viên thuốc hoặc một ly rượu và trải nghiệm ngay lập tức Niềm vui ở bên trong (điểm hiệu chỉnh 540), chúng ta cảm thấy hạnh phúc và tự do, thậm chí vui như tết, thì đấy đúng là một khám phá vĩ đại. Làm bất cứ điều gì có thể để “phê”, chỉ đơn giản là đang cố gắng tìm kiếm cánh cổng dẫn đến Shangri-La ở bên trong mà thôi.
SỰ THẬT VỀ NGHIỆN
Khi chúng ta thành thật với chính mình về những gì ta thực sự muốn trải nghiệm, thì đó là thứ gì? Đó không phải là chất gây nghiện hay bất cứ thứ gì nằm bên ngoài chúng ta. Đó chỉ là những cơ chế tạm thời nhằm ngăn chặn những cảm xúc thấp hơn và cho phép chúng ta trải nghiệm Đại ngã Cao hơn, bẩm sinh của chính mình, đó mới là thứ chúng ta thực sự theo đuổi. Thực ra, hầu hết mọi người đều đi suốt ngày chỉ để tìm kiếm khoái lạc, hoặc ít nhất là một cách nào đó nhằm thay đổi trạng thái tâm thức bên trong của mình. Ma túy và rượu bia là những “giải pháp nhanh”, vì chỉ trong vài giây, người ta đã có thể rơi vào trạng thái lâng lâng và khoan khoái.
Ban đầu, có tác dụng. Nếu không, thì sẽ chẳng có người nào dùng ma tuý hay uống rượu. Nhưng cảm giác dễ chịu chỉ kéo dài trong chốc lát. Chúng ta hoạt động dựa trên trí nhớ, vì vậy phải mất một thời gian mới nhận ra rằng nó không hiệu quả. Cùng với thời gian, vì đó là trải nghiệm hạnh phúc được tạo ra một cách nhân tạo, nó đã tạo ra một món nợ đúng bằng ngần ấy nhưng theo chiều ngược lại. Vũ trụ biết khi nào nó bị lừa. Đau đớn, khó chịu hay bồn chồn chỉ bị trì hoãn chứ không được giải quyết. Lo lắng, u sầu hay oán hận chỉ được đặt sang một bên trong chốc lát, nhưng chỉ trì hoãn về sau. Sử dụng các phương tiện nhân tạo để thăng lên trên Bản đồ Tâm thức không có tác dụng. Chúng ta vượt qua các tầng thấp hơn bằng cách can đảm đối mặt và vượt qua chúng, rồi sau đó trường năng lượng của chúng ta trở thành sóng tải cho những người khác khao khát được giải thoát.
Đây là điểm mấu chốt: đừng bao giờ xấu hổ vì tìm kiếm trạng thái tâm thức cao hơn, và đừng bao giờ xấu hổ về các phương pháp khác nhau được sử dụng để cố gắng trải nghiệm nó. Mục tiêu mà chúng ta đang tìm kiếm thông qua ma túy và rượu không có gì phải xấu hổ. Toàn bộ thế giới tâm linh đang tìm kiếm trạng thái tâm thức cao hơn này. Đó là khát vọng lớn nhất mà chúng ta có khả năng đạt được—trải nghiệm Đại ngã Cao hơn và các tầng tâm thức cao nhất—và theo một số tôn giáo, thậm chí cần nhiều kiếp sống mới có thể vươn được tới mong muốn đó, đó là thức tỉnh tâm linh để vượt ra ngoài thế giới vật chất.
Nghiện ngập là con đường thức tỉnh tâm linh. Đối với những người khác, nó xảy ra thông qua một kiểu bất lực khác—mất con hoặc người thân yêu nào đó, hay bị bệnh nan y, bị nhấn chìm vào vực sâu tuyệt vọng. Đại ngã Cao hơn rất khôn ngoan và sẽ đẩy chúng ta xuống vực thẳm cần thiết để đánh thức chúng ta. Từ tuyệt vọng tột cùng, chúng ta tiến tới phó thác, và từ phó thác xuất hiện khiêm nhường và chúng ta quay trở lại trạng thái cao mà chúng ta tưởng chừng đã vĩnh viễn đánh mất, chỉ khác là lúc này không còn chất kích thích nữa, cho nên nó ổn định hơn và thực sự có tính giải phóng. Vì bản ngã đã suy yếu, khi chúng ta hành thiền hoặc cầu nguyện, và (cho dù là người vô thần hay không cũng không quan trọng) chúng ta cầu xin vươn tới một điều gì đó cao hơn, nó sẽ xảy ra. Khi chúng ta chạm đáy, bản ngã rạn nứt, và hiện tượng này cho phép chúng ta tiếp cận với chính không gian mà trước đây chúng ta từng vươn tới thông qua rượu và ma túy, mặc dù giờ đây nó tốt hơn biết bao nhiêu vì không còn tác dụng phụ tiêu cực nào hết. Chúng ta học được rằng những gì chúng ta tìm kiếm bằng ma túy hoặc rượu luôn luôn ở bên trong. Không cần phải cố gắng, nó sẽ được mặc khải. Bằng cách loại bỏ những thứ tiêu cực, đột nhiên vẻ đẹp của vạn vật tỏa sáng.
TRƯỜNG NĂNG LƯỢNG VÀ NGHIỆN NGẬP
Giờ đây chúng ta có thể hiểu chuyện gì xảy ra trong trải nghiệm ma túy hoặc rượu. Trường năng lượng mạnh mẽ, hấp dẫn và tràn đầy niềm vui này, trường năng lượng của chính sự sống, giống như mặt trời luôn chiếu sáng. Các trường năng lượng thấp hơn giống như những đám mây che khuất trải nghiệm mặt trời bên trong. Ma túy hoặc rượu ngăn chặn trải nghiệm các trường năng lượng thấp hơn và cho phép trải nghiệm trường năng lượng cao hơn. Nếu chúng ta có thể ngăn chặn tất cả các trường năng lượng dưới tầng 560, chúng ta sẽ trải nghiệm những thứ còn lại, đó là trường năng lượng của Mê ly (Ecstasy). Thậm chí còn có một loại ma túy gọi là Ecstasy, được tạo ra nhằm ngăn chặn trải nghiệm các trường năng lượng dưới tầng 560. Trải nghiệm ma túy là một thứ gì đó đã ngăn chặn về mặt dược lý các trường năng lượng thấp hơn và cho phép trải nghiệm trường năng lượng cao hơn mà không bị cản trở. Vì vậy, buổi chiều, một người đang sợ hãi, u sầu, hối tiếc và lo lắng sẽ dừng lại để uống hai ly martini, và đột nhiên tạm thời vượt qua các trường năng lượng thấp hơn và chuyển lên tầng năng lượng khoảng 500, có thể gọi là “trạng thái êm dịu”.
Ở trường năng lượng “êm dịu” chúng ta cảm thấy yêu thương mọi người và sẵn sàng tha thứ cho họ. Chúng ta hào phóng và dễ tính, và tất cả trẻ em đều yêu quý chúng ta khi chúng ta ở trong trạng thái đó; chúng ta mang đồ chơi về nhà cho con cái và hoa cho vợ/chồng. Trạng thái năng lượng cao này được tìm kiếm trong trải nghiệm ma túy vì nó ngăn chặn các tầng năng lượng thấp hơn. Như đã nói bên trên, đây là những trải nghiệm gây nghiện, vì một khi đã trải nghiệm trạng thái đó, tâm trí muốn quay trở lại.
Khi yêu cầu người từng có vấn đề với rượu hoặc nghiện ma tuý nhìn vào những gì họ đang tìm kiếm, nhìn vào trải nghiệm đã trở thành quen thuộc và họ muốn quay trở lại hết lần này đến lần khác bằng bất cứ giá nào, chúng ta thấy rằng họ đang tìm kiếm trạng thái tâm thức ở bên trong. Trên thực tế, họ thậm chí không quan tâm đến ma tuý. Ma tuý chỉ là phương tiện, là cách duy nhất mà họ biết nhằm vươn tới trạng thái đó vào lúc đó. Đó là biện phảp để họ trải nghiệm sự tồn tại của chính mình, và đó là trạng thái dễ chịu, tràn đầy năng lượng. Đó là thứ mà họ tìm kiếm, và nếu một loại nào đó không ngăn chặn được các trường năng lượng thấp hơn, do đó cản trở họ trải nghiệm trạng thái hạnh phúc ở bên trong, thì nó sẽ không còn được sử dụng hoặc đánh giá cao nữa. Chúng ta có thể thấy rằng nghiện không phải là nghiện ma túy hay rượu, mà là nghiện chính tầng tâm thức cao hơn.
Một số giải thích về mặt tâm lý về nghiện ngập cố gắng trình bày nó như thể người đó nghiện rượu hoặc ma túy vì họ đang chạy trốn những trải nghiệm thấp hơn về sợ hãi hoặc trầm cảm. Có một số loại thuốc rất tốt giúp loại bỏ lo lắng hoặc trầm cảm nhưng không gây nghiện, vì không có cảm giác “phê”. Do đó, giảm bớt trầm cảm, lo âu, sợ hãi hoặc tức giận được xử lý bằng phương pháp dược lý thông qua các loại thuốc truyền thống không được coi là chất gây nghiện vì chúng không ngăn chặn các trường năng lượng ở mức độ đủ để cho phép con người trải nghiệm những trạng thái cao hơn.
Chúng ta có thể thấy rằng người đó nghiện trường năng lượng ở bên trong, nghiện trạng thái tâm thức cao hơn, và nó tạo ra mong muốn quay trở lại trạng thái đó. Người đó sẵn sàng trả giá vì tâm trí bắt đầu đòi hỏi quay trở lại trải nghiệm đó bằng mọi giá. Cùng với thời gian, sẵn sàng trả giá tăng lên, cho đến cuối cùng, nó sẽ đòi hỏi chính cơ thể của họ: “Nếu anh cứ tiếp tục uống như thế, anh sẽ chết trong vòng vài tuần hoặc vài tháng.” Bạn có biết người đó làm gì hay không? Anh ta đi tới chỗ người pha chế, người bạn cũ tên Joe, và gọi một ly martini rồi nói: “Đoán xem hôm nay bác sĩ đã nói gì với tôi?” Lúc đó, người pha chế đưa cho anh ta một ly rượu để tưởng nhớ những kỷ niệm đẹp, và họ tạm biệt cơ thể. Chúng ta thấy cái giá mà mọi người sẵn sàng trả cho nghiện ngập trạng thái tâm thức này.
Những người chưa từng tiếp cận được tầng tâm thức đó thông qua trải nghiệm với ma túy khó mà hiều được chuyện này. Người nghiện ma tuý hay nghiện rượu sẵn sàng hy sinh mọi thứ để trở lại trường năng lượng mà chúng ta gọi là An bình hay Phúc Lạc—thiên đường ở bên trong. Lost Horizon kể cho chúng ta nghe câu chuyện về động cơ của nghiện ngập bằng cách cho thấy thái độ sẵn sàng hy sinh toàn bộ cuộc đời để có trạng thái tâm thức nhất định.
TẠI SAO PHẢI CAI NGHIỆN?
Nghiện ngập chỉ là xuất phát điểm sai nhằm trải nghiệm sự thật, vì không hiệu quả. Vì vậy, lý do để bỏ rượu, ma túy hoặc các hình thức nghiện ngập khác không phải vì nó “sai” mà vì nó không còn hiệu quả nữa. Nó không hiệu quả, vì sử dụng ma túy và rượu là người ta đánh mất dần lòng tự trọng, cùng với những khó khăn và tiêu cực nổi lên từ các trường năng lượng thấp hơn. Đó là khởi đầu của quá trình trải nghiệm những sự kiện rất tiêu cực trong đời sống: mất các mối quan hệ, mất địa vị, mất tiền, mất sức khỏe, không phát huy được tiềm năng và chức năng của các cơ quan trong cơ thể, tất cả đều cho thấy con đường đi xuống, đấy là do phủ nhận sự thật. Phủ nhận sự thật từ tầng 200 trở xuống là do đưa sức mạnh đích thực ra bên ngoài con người mình. Khi bị nghiện, người đó đã từ bỏ cội nguồn hạnh phúc và ý nghĩa cuộc đời mình bằng cách phóng chiếu nó ra thế giới bên ngoài và trao sức mạnh cho một chất nào đó bên ngoài mình.
Tự nó, ma tuý không có khả năng tạo ra những trải nghiệm cao hơn. Suốt hàng chục năm làm việc trong lĩnh vực nghiện ngập và hồi phục, chúng tôi đã kiểm tra về mặt lâm sàng những câu hỏi nghiên cứu với hàng trăm người tham dự các buổi thuyết trình và các lớp học dành cho những người đang trong quá trình xử lý vấn đề nghiện ngập. Sử dụng phương pháp phân biệt thật giả bằng kiểm tra cơ bắp, chúng tôi đã kiểm tra ý kiến: “Ma tuý có khả năng tạo ra trải nghiệm cao hơn này”
Tất cả 100% số người tham gia đều phản ứng yếu với tuyên bố đó, chứng tỏ đó là nói dối. Ma tuý hoàn toàn không có khả năng đó. Sau đó, chúng tôi đưa ra ý kiến ngược lại: “Ma tuý ngăn chặn các trường năng lượng xuất từ bản ngã và nó cho phép tôi trải nghiệm niềm vui của Đại ngã thực sự của tôi.” Ngay lập tức, tất cả mọi người trong lớp học đều phản ứng mạnh, cho thấy tuyên bố đó là đúng. (Nghiên cứu này được trình bày trong tác phẩm Chữa lành và Hồi phục, cũng như bài giảng thu âm và băng video “Tâm thức và Nghiện ngập”.)
Sự thật mà chúng tôi đã xác minh được là ma tuý không hề có khả năng tạo ra những trải nghiệm này, nhưng về mặt dược lý, nó có khả năng ngăn chặn các trường năng lượng tiêu cực, cho phép người ta ít nhất cũng tiến gần đến trạng thái đó. Trải nghiệm do chất gây nghiện tạo ra không phải là trạng thái Phúc lạc thực sự mà người ta có được bằng quá trình thực hành tâm linh mà chính họ trải nghiệm. Năng lượng đó gần với sự thật của bản thể của mỗi người. Làm sao sử dụng kiếnthức này trong việc tìm hiểu quá trình cai nghiện?
TÂM THỨC TRONG QUÁ TRÌNH HỒI PHỤC
Trớ trêu là, những bước đầu tiên trong quá trình hồi phục lại thường giống như thất bại. Những nỗ lực nhằm từ bỏ thói quen dẫn đến chán nản vì thất bại, sự kinh hoàng không tên, và có thể phải nhập viện và hiện tượng hoang tưởng. Ngừng sử dụng thuốc an thần làm cho người ta sợ. Việc ngừng sử dụng thuốc kích thích dẫn đến trầm cảm. Thờ ơ và u sầu xuất hiện ngay khi thuốc không còn ma tuý, vì sẽ cảm thấy tuyệt vọng trước sự kiện là không bao giờ có thể được trải nghiệm lại những trạng thái tuyệt vời như thế nữa. Khi ngừng sử dụng chất gây nghiện không tạo ra được kết quả, người ta sẽ cố gắng tăng thêm rượu và ma túy, đồng thời che giấu sự phụ thuộc ngày càng tăng, đấy là do xấu hổ và mặc cảm tội lỗi, và tiêu cực lan tới tất cả các lĩnh vực của cuộc đời — công việc, danh tiếng, tiền bạc, các mối quan hệ và chăm sóc chính bản thân mình. Có thể có những lần tham dự các buổi họp của các nhóm hồi phục, “chỉ để xem thử” hoặc theo lệnh của tòa án, nhưng không mang lại hy vọng (“Trường hợp của tôi khác – nó có tác dụng đối với họ nhưng không có tác dụng đối với tôi”) hoặc kích động thái độ kiêu hãnh và phủ nhận (“Tôi chẳng có điểm chung nào với những người thất bại đó!”).
Người đó chưa sẵn sàng cho đến khi chạm đáy, khác nhau với mỗi người, nhưng có một quá trình chung xảy ra trong tâm thức. Cuộc sống buộc họ phải đối diện với những dày vò trong tâm can hoặc bi kịch ở bên ngoài, cuối cùng cũng đưa họ đến bước đầu tiên, như cuốn Mười Hai Bước đã nhắc tới, đó là nói ra sự thật: họ “bất lực” trước chất gây nghiện và cuộc sống của họ đã trở nên “không thể nào kiểm soát được”.
Nói ra sự thật về một cái gì đó là biến cái tiêu cực thành tích cực. Ở tầng Can đảm (200), người đó bắt đầu hành trình của tâm thức và tự trao cho mình sức mạnh đích thực. Bất ngờ là, can đảm nói ra sự thật sẽ mang lại tất cả sự giúp đỡ mà người đó cần. Đây là cái mà người sợ đối mặt với sự thật không hề biết. Ngay khi họ có đủ can đảm để đối mặt với sự thật, nghĩa là nói “có” với năng lượng của chính đời sống, thì cuộc đời sẽ nói “có” với họ và mở ra con đường tiến về phía trước. Nhưng sự thật đòi hỏi khiêm nhường và buông bỏ thái độ phủ nhận, và nhiều người nghiện thực sự chết chứ không thực hiện bước này.
Chúng ta thừa nhận rằng người nghiện ma túy và rượu có thôi thúc vươn tới đến trạng thái tối cao. Người đó nghiện trải nghiệm trạng thái tâm thức cao hơn bên trong chính con người mình, và họ thể hiện động lực cực kì to lớn nhằm vươn tới những trạng thái cao nhất, họ đánh cược cả mạng sống của mình và từ bỏ mọi thứ vì nó. Mục tiêu đó là chính đáng và cao cả. Vấn đề chỉ đơn giản là thay đổi kỹ thuật và nhận ra rằng không cần phải tìm kiếm trạng thái an bình ở bên trong; nó luôn có đó, giống như mặt trời luôn hiện diện, nhưng bản ngã lại hành xử như là đám mây. Khi không còn mây, mặt trời sẽ tỏa sáng. Hồi phục là quá trình loại bỏ những đám mây của tuyệt vọng, mặc cảm tội lỗi, xấu hổ, sợ hãi, tức giận, kiêu ngạo—là vượt qua tất cả các trường năng lượng thấp hơn bằng cách đối mặt với chúng và buông bỏ chúng.
Khi người nào đó tìm cách chữa trị tình trạng nghiện ngập của mình, họ thường ở dưới đáy Bản đồ Tâm thức, căm ghét chính mình, hối tiếc và tuyệt vọng. Trường năng lượng Thờ ơ (50), vô vọng và tuyệt vọng, là trường năng lượng mà người đó không thể tự giúp mình. Vô vọng có nghĩa là chính xác như thế. Ví dụ, chủ tịch của hiệp hội luật sư quận đã chết vì đói khi ông này sống một mình trong nhà trọ. Ông ta nghiện Valium pha rượu. Ông ta chưa bao giờ nhấc điện thoại gọi cho bất cứ người nào để xin giúp đỡ. Một người tầm cỡ như thế đương nhiên là có rất nhiều bạn bè, tất cả đều sẵn sàng bỏ mọi việc để tới giúp đỡ ông ta, nhưng ông ta cảm thấy gọi điện thoại cũng chẳng ích gì, vì không còn chút hy vọng nào. Sự vô vọng về tình trạng của một người thường được thể hiện bằng câu nói “Anh có thể khỏi bệnh, nhưng tôi thì hết cách rồi.”
Ở tầng Thờ ơ, đối với người đó, Thiên Chúa đã chết, và việc chúng ta có thể làm là truyền năng lượng cho họ. Quá trình diễn ra trong tâm thức là mất năng lượng. Người đó bị mất năng lượng, trống rỗng và hoàn toàn chán nản. Giải pháp là truyền năng lượng cho người đó bằng cách quan tâm, yêu thương, có mặt bên cạnh, cho ăn và làm mọi việc có thể để đưa họ lên tầng năng lượng tiếp theo là U sầu.
U sầu (75) liên quan đến quá khứ, và khi người đó thoát khỏi trạng thái trống rỗng, họ bắt đầu khóc và hối tiếc về những mất mát mà tình trạng nghiện ngập này đã gây ra cho mình. Có sự hối tiếc, cùng với cảm giác than thân trách phận và đau buồn vì thực tế là họ đang ở trong cơ sở cai nghiện hoặc bất cứ nơi nào mà tình trạng nghiện ngập đã đưa họ đến. Họ cảm thấy buồn về cuộc đời và tình trạng nghiện ngập của mình và cảm thấy hoàn toàn bị Thiên Chúa bỏ rơi.
Ở tầng này có hối tiếc về quá khứ, vì vậy chúng ta đưa trường năng lượng của người đó lên tầng tiếp theo, đó là Sợ hãi (100). Đến lúc này, người đó bắt đầu sợ nghiện, kèm theo là lo lắng và bất an. Sợ hãi liên quan đến tương lai. Người đó không còn ở trong trạng thái phủ nhận quá mức nữa; ngược lại, họ cảm thấy chán nản. Thế giới trông thật đáng sợ, và họ có thể cảm thấy rằng Thiên Chúa đang trừng phạt mình vì những tội lỗi trong quá khứ. Họ giải thích sai tình trạng nghiện ngập của mình, coi đó là hình phạt và sợ trong tương lai sẽ bị trừng phạt nhiều hơn và mất mát nhiều hơn nữa. Chúng ta thấy năng lượng của mỗi tầng, nếu họ làm việc với từng tầng, có thể đưa họ lên năng lượng của tầng tiếp theo. Người đó vượt qua Sợ hãi nghiện ngập bằng cách ham muốn điều gì đó tốt đẹp hơn (Ham muốn, có điểm hiệu chỉnh 125). Một khi họ cảm thấy mệt mỏi vì mình là nạn nhân của thèm muốn và thèm khát, họ chuyển lên tầng Tức giận.
Tức giận (150) có nhiều năng lượng hơn Sợ hãi hoặc Ham muốn, và do đó, năng lượng của Tức giận có thể rất hữu ích—không phải hình thức Tức giận mà là năng lượng của Tức giận, họ tức giận về hoàn cảnh khó khăn của mình trong cuộc đời và việc mình là nạn nhân. Tức giận này có thể được sử dụng theo lối tích cực, như bước ngoặt để thoát khỏi thái độ bi quan. Kiêu hãnh (175) đưa họ ra khỏi tuyệt vọng và hướng tới làm cái gì đó “vì có thái độ kiêu hãnh, họ hành động và bắt đầu quan tâm đến mình và địa vị của mình, và đây chính là bước tiến lên trường năng lượng tiếp theo, Can đảm (200).
Can đảm nói lên sự thật là bước quan trọng trong quá trình hồi phục. Chúng ta thấy tác động mạnh mẽ của bước đầu tiên trong Mười Hai Bước của Hội Người Nghiện Rượu Ẩn Danh —thừa nhận rằng mình bất lực trước rượu hoặc ma túy — lúc này thái độ thừa nhận như thế tạo điều kiện cho người ta đối mặt, đối phó, xử lý và cư xử đúng mực. Một lần nữa trao cho họ sức mạnh đích thực. Lúc này, thế giới được coi là cơ hội, và lần đầu tiên, họ nhận được lợi ích từ một tâm trí cởi mở, và sự thật có đường đi vào tâm trí. Kiêu hãnh (175) có thể được sử dụng để đưa người đó lên Can đảm (200) và nhìn vào các sự kiện. Làm như vậy sẽ khích lệ họ tiến lên vị trí tiếp theo, Trung dung (250), là buông bỏ việc chống lại các sự kiện và được giải thoát khỏi kháng cự, và bắt đầu nhìn thế giới như là nơi chốn “khá ổn”.
Giải thoát ở bên trong cho phép người đó trải nghiệm tự do nội tâm để khám phá, mở rộng, và sau đó tiến lên Sẵn sàng (310) để nói “có” với những cơ hội của cuộc đời, tham gia vào quá trình khám phá và đồng ý hòa hợp với nó. Ở trạng thái Sẵn sàng, người đó phát triển khả năng nhìn thấy toàn bộ quá trình hồi phục trong thế giới thân thiện, và họ coi Hội Người Nghiện Rượu Ẩn Danh và các chương trình hồi phục khác là hứa hẹn và hy vọng. Họ cảm thấy lạc quan là mình sẽ hồi phục.
Chấp nhận (350) là trường năng lượng rất mạnh mẽ, họ nhận ra sức mạnh bên trong để đưa ra quyết định. Thái độ tự tin, cảm giác đủ năng lực, và sự chuyển hoá xảy ra thông qua trải nghiệm rằng thế giới này là hài hòa. Một mặt, cuộc đời đặt ra cho người đó vấn đề, nhưng mặt khác, nó cũng cung cấp câu trả lời. Thiên Chúa nhân từ cung cấp các giải pháp, vì vậy, mặc dù họ có thể bị nghiện, nhưng có hàng trăm nghìn người xung quanh đã tìm được câu trả lời và rất sẵn sàng giúp đỡ. Người đó chuyển sang tầng Lý trí (400), và năng lượng được dồn vào việc học tập để tìm hiểu khoa học về nghiện ngập và tác động của nó đến sức khỏe tâm thần, kết hợp nhiều nguồn lực y tế và triết lý hữu ích vào quá trình tự tìm hiểu bản thân mình.
Với việc buông bỏ sự tập trung của trí năng vào quá trình thu thập kiến thức, người đó bắt đầu trân trọng sự hiện hữu của mình, và trường năng lượng của tình yêu (500) xuất hiện, nó nằm trong hệ hình hoàn toàn khác của tâm linh, của thái độ biết ơn, và xuất phát từ trái tim. Người đó cam kết với trường năng lượng có khả năng chữa lành, bằng cách tham gia các nhóm 12 bước - năng lượng của các nhóm này vốn dĩ có khả năng chữa lành. (A.A. có điểm hiệu chỉnh 540.) Sự sẵn sàng của người đó trong việc hòa hợp với nó và chấp nhận rằng chữa lành là quan trọng nhất. Bằng cách sằn sàng, lúc đó sẽ có thái độ chấp nhận về nhu cầu thực sự là cần phải ở trong một trường năng lượng nuôi dưỡng, hỗ trợ, thấu hiểu và yêu thương vô điều kiện. Trong trường năng lượng này, mọi người biết rằng họ đang ở trong không gian an toàn và việc ở lại trong trường này đảm bảo rằng họ sẽ tỉnh táo và do đó, họ sẽ sống sót. Cùng với trải nghiệm như thế là niềm vui và khởi đầu của việc trải nghiệm sự thanh thản ở bên trong và nhìn thấy sự hoàn hảo và tính thống nhất của trường năng lượng mà người đó giờ đây là một phần không thể thiếu của nó.
MƯỜI HAI BƯỚC: LOẠI BỎ NHỮNG RÀO CẢN
Như đã nói, các trường năng lượng thấp hơn giống như những đám mây che khuất mặt trời — “ánh sáng mặt trời của tâm linh,” như cách gọi trong A.A. Mặt trời này luôn luôn chiếu sáng; vấn đề chỉ đơn giản là loại bỏ những đám mây che khuất nó, và Mười Hai Bước là quá trình loại bỏ.
Mười Hai Bước của Hội Người Nghiện Rượu Ẩn Danh đã được áp dụng cho mọi vấn đề của con người, đem lại hiệu quả thật kỳ diệu. Việc áp dụng chính những bước này để vượt qua nghiện ngập bất cứ thứ gì cũng có thể rất có lợi. Ví dụ, người ta có thể thay thế từ “rượu” bằng từ “bản ngã” trong bước 1. Trong chương này, chúng ta áp dụng Mười Hai Bước vào Bản Đồ Tâm Thức và trình bày quá trình phục hồi điển hình.
Mười Hai Bước của Hội Người Nghiện Rượu Ẩn Danh
Bước 1: Chúng tôi thừa nhận rằng mình bất lực trước sự nghiện ngập của mình và thừa nhận rằng chính mình không còn khả năng kiểm soát được cuộc sống của mình nữa
Bước 2: Chúng tôi tin rằng có một thứ “quyền năng” cao hơn chúng tôi có thể giúp chúng tôi hồi phục.
Bước 3: Chúng tôi quyết định phó thác ý chí và cuộc sống của mình cho sự chăm sóc của Chúa như cách chúng tôi hiểu Ngài.
Bước 4: Chúng tôi làm một bảng kiểm kê đạo đức một cách thấu đáo và can đảm.
Bước 5: Chúng tôi thú nhận với Chúa, với chính mình và với người khác bản chất thật sự của những việc làm sai trái của mình.
Bước 6: Chúng tôi hoàn toàn sẵn sàng để cho Chúa xoá bỏ tất cả những khiếm khuyết trong tính cách của mình.
Bước 7: Khiêm tốn cầu xin Chúa loại bỏ những thiếu sót của chúng con
Bước 8: Chúng tôi lập danh sách những người mà mình đã làm làm tổn thương, và sẵn sàng đền bù cho họ.
Bước 9: Chúng tôi trực tiếp đền bù cho họ mỗi khi có thể, trừ trường hợp đền bù sẽ làm cho họ và những người khác bị tổn thương.
Bước 10: Tiếp tục kiềm kê, bất cứ khi nào mắc lỗi, là chúng ta có thể nhanh chóng sữa chữa sai lầm.
Bước 11: Tìm kiếm thông qua cầu nguyện và thiền định nhằm giúp tâm thức của chúng ta tiếp cận gần hơn với Chúa như cách chúng ta hiểu về Ngài, cầu nguyện chỉ để nhận thức được ý chí của Chúa dành cho chúng ta và sức mạnh bên trong nhằm thực hiện ý chí của Ngài.
Bước 12: Sau khi thức tỉnh về mặt tâm linh, như là kết quả của những bước đi này, chúng tôi đã cố gắng mang thông điệp này đến với những người nghiện rượu và thực hành những nguyên tắc này trong tất cả các công việc của mình.
◆ Bước thứ nhất trong chương trình 12 bước là sẵn sàng thừa nhận sự thật rằng mình bất lực trước rượu hay ma túy và rượu hay ma túy đang làm cho cuộc đời của mình trở nên không thể kiểm soát được.
◆ Lúc đó bước thứ hai trở thành rất quan trọng ở chỗ việc “khôi phục lại sự tỉnh táo” xuất phát từ sức mạnh lớn hơn chính mình. Nhờ đó, bản ngã phó thác cho Thiên Chúa (bản ngã nhỏ bé phó thác cho sức mạnh của Đại ngã Cao hơn). Chúng ta nhìn vào Bản đồ và thấy rằng các trường năng lượng cao hơn của Tình yêu, Niềm vui và An bình bắt đầu từ tầng 500 và lên tới 600. Những trường năng lượng này giống như một nam châm điện đầy sức mạnh kéo người đó trở lại trạng thái mong muốn trải nghiệm lại những trạng thái cao trong tâm thức. Ma tuý hay rượu đã mang lại cho họ trải nghiệm tạm thời về những năng lượng cao hơn đó.
Do đó, để họ có thể xử lý được, cần có cái gì đó có sức mạnh tương đương với trải nghiệm của rượu hoặc ma túy để thay thế cho nó. Trường năng lượng của nhóm trong AA (điểm hiệu chỉnh 540) và các nhóm 12 bước khác cung cấp một trường năng lượng giúp người đó luôn hướng đến trải nghiệm về Đại ngã Cao hơn của họ trong hình thức chân thực nhất. Trên thực tế, một số người đang trong quá trình hồi phục coi nhóm AA của mình như là Sức mạnh Đích thực Cao hơn (ví dụ, từ GOD là viết tắt của “Group of Drunks” - Nhóm những người say xỉn). Bước thứ 2 thực sự là hiểu biết bằng trực giác, rằng cần một điều gì đó lớn hơn bản ngã hay tự ngã nhỏ bé hạn chế để xử lý sức hút của trường năng lượng đầy sức mạnh như thế.
◆ Bước thứ 3 là quyết định xuất phát từ phó thác và sẵn sàng để cho Chúa an bài cuộc đời mình, “như người ta hiểu về Ngài”. Chính từ thái độ sẵn sàng như thế, Thiên Chúa trong hiểu biết của người đó đã là một người bạn – một vị Chúa đầy hứa hẹn, nhân từ và đáp ứng. Sẵn sàng tin tưởng tạo nên đức tin, vì vậy bước thứ 3 phó thác sâu sắc thực sự đưa người ta vào sự hòa hợp với trường năng lượng từ 540 trở lên. Từ quan điểm của các tầng tâm thức, những bước còn lại trong Mười Hai Bước trở thành dễ hiểu hơn. Khi người đó hòa hợp với trường hấp dẫn mạnh mẽ của tầng 540, ABC của Yêu Thương Vô Điều Kiện, thì việc chữa lành ở cấp độ bên ngoài của A→B→C là việc chắc chắn sẽ phải xảy ra, chỉ là thời gian mà thôi.
◆ Bước thứ 4 nói rằng hãy thành thật hướng nội để thấy bất kỳ khiếm khuyết nào trong tính cách và thực hiện việc kiểm kê đạo đức mà không sợ hãi, nó đòi hỏi sẵn sàng nhìn nhận và thừa nhận tất cả những tiêu cực trong đời sống của mình và ảnh hưởng của nó.
◆ Tiếp theo, bước thứ 5 có tính chữa lành, đó là thừa nhận với chính mình, với Thiên Chúa và với một người khác về bản chất thực sự của những lỗi lầm của mình. Những người thực hiện bước này sẽ giảm bớt được tác động của đau đớn lên chính mình bằng cách chia sẻ với thái độ tin tưởng những bí mật sâu kín nhất của mình với người khác, chẳng hạn như người đỡ đầu trong chương trình 12 bước. Những điều từng làm họ xấu hổ sẽ bị mất sức mạnh khi họ nói ra. Một người có thể đau khổ suốt 20 năm vì một sự cố đơn lẻ, lòng tự trọng bị hủy hoại, nhưng khi chia sẻ chuyện đó, nó lại trở thành “chuyện bình thường”. Chia sẻ làm thay đổi trường năng lượng bằng cách loại bỏ điện tích tiêu cực ra khỏi nó. Loại bỏ sự tiêu cực không làm thay đổi lịch sử, nhưng cách thức lưu giữ nó đã thay đổi, làm mất hiệu lực những thứ trước đây từng có khả năng ăn mòn và phá hoại.
Bill Wilson, người đồng sáng lập AA, từng nói rằng thái độ đúng đắn về quá khứ là “hối tiếc chân thành”, khác hẳn với tự căm ghét chính mình, xấu hổ, hay chìm đắm trong mặc cảm tội lỗi. Thay vào đó, thái độ này xuất phát từ trái tim. A.A. là ngôn ngữ của trái tim, chữa lành bằng hài hước, chấp nhận, nhẹ nhàng và sẵn sàng chữa lành quá khứ.
◆ Lúc đó, quá trình chữa lành đi qua bước 5 và được thể hiện bằng việc đền bù trong các bước 6-9, thực chất là các bước sửa chữa. Trong những bước này, người đó chịu trách nhiệm thực sự làm việc đó trong thế giới này để sửa chữa bất kỳ thiệt hại nào có thể sửa chữa được và hàn gắn bất kỳ mối quan hệ nào có thể hàn gắn được, vì vậy, nó không chỉ là một bài tập mang tính trí năng. Với khả năng tốt nhất của mình, người đó quay trở lại thế giới và cố gắng sửa chữa những thiệt hại đã gây ra trong phạm vi có thể sửa chữa được. Lúc đó, chữa lành trở thành thực sự trong cuộc sống của người đó và làm giảm bớt mặc cảm tội lỗi về những việc người đó đã làm trong quá khứ.
◆ Bước 10 nói rằng việc chịu trách nhiệm về nội dung của tâm thức của chính mình và sẵn sàng sửa chữa nó trở thành lối sống thường nhật. Bản kiểm kê hàng ngày ghi nhận những thiếu sót trong tính chính trực, những nơi người đó có thể làm tốt hơn và những nơi người đó có thể yêu thương hơn. Bước 10 là chịu trách nhiệm về quá trình tiến bộ tâm linh và cam kết biến nó thành lối sống của mình.
◆ Bước 11 rất thú vị vì nó nói rằng nếu một người đã thực hiện kỹ lưỡng các bước 1–10, người đó sẽ kết nối lại với điều mà ban đầu mình tìm bằng ma túy và rượu. Nó nói rằng cầu nguyện và hành thiền sẽ “tăng cường tiếp xúc bằng tâm thức” với Thiên Chúa theo sự hiểu biết của riêng mình, “cầu nguyện chỉ để nhận thức được ý chí của Chúa dành cho chúng ta và sức mạnh bên trong nhằm thực hiện ý chí của Ngài.”
Đáng chú ý là, bước 11 không nói “bắt đầu”; nó nói “tăng cường” và giả định rằng tiếp xúc bằng tâm thức đã xảy ra. Nó xảy ra thông qua phó thác ở bên trong và cam kết chân thành với yêu thương như một lối sống. Người đó kết nối với Thiên Chúa thông qua trái tim, vì cái Thiêng Liêng, Thiên Chúa, và Tình yêu, là một. Bằng cách cam kết với yêu thương như một lối sống, như một cách hiện hữu trên thế gian này với khả năng tốt nhất của mình, là người đó tái kết nối với trải nghiệm bên trong vững như bàn thạch, tràn đầy niềm vui, tương tự như lúc đầu họ tìm kiếm thông qua rượu và ma túy.
◆ Bước 12 cho thấy toàn bộ quá trình nghiện ngập là gì và bản chất của nó trong trường tâm thức. Bước 12 khẳng định rằng: nhờ kết quả của những bước này mà ta có được một sự tỉnh thức về mặt tâm linh; điều đó xác nhận rằng việc đạt đến tâm thức mới chính là thành quả từ toàn bộ trải nghiệm nghiện ngập. Những người đã tuân thủ quá trình này với thái độ chính trực và tận tâm giờ đây có khả năng “truyền tải thông điệp này” đến người khác và thể hiện nó trong mọi lĩnh vực của cuộc đời.
Bước 12 chỉ ra rằng: Toàn bộ mục đích của tiến trình nghiện ngập thực chất là để đánh thức con người và nâng họ từ tầng tâm thức này lên tầng tâm thức khác; đó là cuộc chuyển dịch từ u mê, vô định sang trạng thái tỉnh thức, sáng suốt và thấu suốt. Quá trình này đưa người ta từ vị thế của nạn nhân vô thức, bất lực và trốn tránh trách nhiệm trở thành người làm chủ bản thân, tự chịu trách nhiệm về mặt tâm linh đối với hạnh phúc và thành công trong cuộc đời mình. Nó loại bỏ việc đặt cội nguồn hạnh phúc ra bên ngoài mình. Thay vào đó, họ nhận ra rằng cội nguồn của hạnh phúc cũng chính là cội nguồn của sự sống, và nó đến từ việc tự chịu trách nhiệm làm chủ bản thân như một người có tỉnh thức về mặt tâm linh.
Nghiện ngập là căn bệnh tàn phá sinh mạng, và cách duy nhất để thoát khỏi nó là không ngừng khai mở tâm linh và nâng cao tầng tâm thức của chính mình. Bản thân sự sống phụ thuộc vào việc trở nên tỉnh thức thông qua một cuộc đối diện trực tiếp đầy kịch tính với những thử thách mà Đại ngã Cao hơn của mỗi người đã lựa chọn để buộc họ phải trưởng thành, vì lúc đó không còn con đường lùi nữa. Lựa chọn duy nhất là phó thác ý chí cá nhân cho Thiên Chúa (tức là phó thác cho cái Cao hơn bản ngã), nếu không thì sẽ bị điên và chết. Một khi các tế bào não đã được lập trình, sẽ không có việc tái lập trình. Khi một người đã rơi vào nghiện ngập, họ như đang đi trên dây và không thể quay đầu lại. Chỉ còn cách duy nhất là đối diện với việc thừa nhận sự thật về chính mình. Hồi phục phụ thuộc vào việc chấp nhận tiến trình đó, bước vào nó một cách hân hoan và với lòng biết ơn.
SỨC MẠNH CHỮA LÀNH CỦA NHÓM YÊU THƯƠNG
Trường năng lượng của các nhóm 12 bước là Yêu Thương Vô Điều Kiện (540). Cách thoát khỏi hố sâu là quan tâm đến người khác. Mỗi hành động yêu thương, mỗi ý định yêu thương và sẵn sàng tha thứ cho mình và người khác là chúng ta đang bước lên tầng cao hơn. Yêu Thương Vô Điều Kiện không phải là cảm xúc lên xuống phụ thuộc vào người khác và những việc họ làm hoặc không làm. Tình yêu không do người khác truyền cho chúng ta. Tình yêu là quyết định bên trong mà chúng ta đưa ra về một trạng thái tâm thức mà chúng ta muốn lựa chọn trong mọi khoảnh khắc. Từ tầng đó, người khác không thể làm bất cứ điều gì làm cho chúng ta ngừng yêu thương họ.
Những người đang trong quá trình hồi phục khám phá ra rằng Tình yêu có thể truyền đạt được, và họ trải nghiệm nó bằng cách thẩm thấu—nghĩa là, ở bên cạnh những người yêu thương. Xung quanh và xuyên suốt cơ thể vật lý là cơ thể năng lượng rung động với tần số của năng lượng đó. Rung động càng cao, sức mạnh càng lớn. Những rung động ở các tầng tâm thức cao hơn trên Bản đồ Tâm thức có sức mạnh lớn hơn hẳn so với những rung động ở các tầng dưới 200. Không cần phải tin vào Thiên Chúa. Tất cả những việc cần làm là ngồi trong một căn phòng với những người đang phát ra năng lượng chữa lành, và bạn sẽ cảm nhận được năng lượng của Tình yêu. Tương tự như thế, nếu chúng ta ngồi dưới ánh mặt trời, chúng ta không thể không cảm thấy ấm áp!
Một trải nghiệm phổ biến là bước vào một cuộc họp của nhóm 12 bước với cảm giác chán nản hoặc “buồn bã” về rất nhiều vấn đề, rồi bước ra ở tầng cao hơn, mà thậm chí không hề nhắc tới những vấn đề đó. Trường năng lượng của Yêu Thương Vô Điều Kiện của nhóm đưa chúng ta lên không gian mà “Tôi thậm chí không biết tại sao tôi lại buồn”. Chúng ta khám phá ra rằng những sự kiện của cuộc đời chẳng có bất kì ý nghĩa nào. Chỉ có cách chúng ta cảm nhận về chúng mới tạo thành trải nghiệm cuộc đời của chúng ta, và cách chúng ta cảm nhận về sự kiện phụ thuộc vào quan điểm của chúng ta, nó được quyết định bởi tầng tâm thức của chúng ta. Do đó, mọi vấn đề đều được loại bỏ bằng cách thay đổi góc nhìn—nghĩa là, chuyển lên tầng tâm thức cao hơn. Chúng ta không cần phải sửa chữa vấn đề; chúng ta tiến hóa vượt lên trên những vấn đề này.
“Tiếp thu bằng cách thẩm thấu”
Lợi ích cực kì to lớn của việc tham gia vào các nhóm yêu thương là chúng ta được ngồi bên cạnh những người có những hình thức tư duy đã tiến hóa. Kỹ thuật để thoát khỏi thờ ơ, trầm cảm và những tiêu cực khác là chọn ở bên cạnh những người đã giải quyết được vấn đề mà chúng ta đang phải vật lộn để giải quyết. Đây là một trong những sức mạnh vĩ đại của các nhóm tự giúp nhau. Khi ở trong trạng thái tiêu cực, chúng ta dành rất nhiều năng lượng cho những hình thức tư duy tiêu cực, còn những hình thức tư duy tích cực thì yếu ớt. Những người có rung động cao hơn được giải phóng khỏi năng lượng từ những suy nghĩ tiêu cực của mình và có những hình thức tư duy tích cực tràn đầy năng lượng. Chỉ cần ở bên cạnh họ cũng đã là lợi lạc rồi. Trong một số nhóm 12 bước, nó được gọi là “gắn kết với những người chiến thắng.” Lợi ích ở đây nằm ở tầng tâm linh của tâm thức, và có sự chuyển giao năng lượng tích cực và khơi dậy những suy nghĩ tích cực tiềm ẩn của chính chúng ta. Nó cũng được gọi là “tiếp thu bằng thẩm thấu”.
Suy nghĩ có hình thức năng lượng điện từ nhất định. Khi chúng ta ở bên cạnh những người đã giải quyết được những vấn đề trong cuộc sống mà chúng ta đang gặp, thành tựu bên trong của họ ảnh hưởng đến chúng ta mà không cần lời nói, làm cho năng lượng ở tầng thấp của chúng ta được thay thế bằng hình thức tư duy cao hơn. Tư duy cao hơn nhìn nhận vấn đề như là cơ hội bằng vàng. Cái mà trước cuộc gặp gỡ này chúng ta coi là mất mát, thì lúc này chúng ta lại coi là lợi ích nhờ sự truyền đạt mà không dùng ngôn từ. Sự kiện không thay đổi, nhưng cách chúng ta nhìn nhận tình huống đã thay đổi vì tầng tâm thức của chúng ta đã thay đổi. Thay đổi xảy ra không phải do lời nói mà là do được ở bên cạnh hào quang của những người yêu thương, có trường năng lượng mang trí huệ cao hơn. Nói một cách đơn giản, chúng ta bị ảnh hưởng tích cực hoặc tiêu cực bởi những người mà chúng ta giao du. Khó có khả năng chúng ta sẽ vượt qua được vấn đề nếu chúng ta chọn ở bên cạnh những người cũng gặp phải vấn đề tương tự.
Tình yêu đến từ sự dồi dào năng lượng mà chúng ta có thể chia sẻ với người khác. Khi những tiêu cực bên trong chúng ta được giải quyết, chúng ta sẽ có nhiều yêu thương, và chúng ta có thể bắt đầu chia sẻ nó với người khác. Khi năng lượng của chúng ta bị ràng buộc với những cảm xúc tiêu cực, chúng ta không thể chia sẻ nhiều với người khác. Trên thực tế, đối với chúng ta họ không tồn tại, vì chúng ta hoàn toàn tập trung vào bản thân mình. Chỉ khi chúng ta tràn đầy và dư dả tình yêu, chúng ta mới có thể bắt đầu chia sẻ với người khác. Muốn cảm thấy tốt đẹp nhanh chóng thì cần ở trong hào quang của người tràn đầy yêu thương. Ngồi gần họ, ôm họ, ngủ cùng họ, vòng tay ôm lấy họ, ở bên họ. Được ở trong hào quang của một người tràn đầy yêu thương là được nâng đỡ một cách tự động, và chúng ta sẽ nhìn mọi thứ khác đi. Cuối cùng, chúng ta trở thành kênh truyền tải ân phước hữu ích đó cho người khác.
Biết ơn, Ân phước và thanh thản
Lúc này, có thể hiểu được vì sao những người phát biểu tại các cuộc họp 12 bước lại nói rằng họ biết ơn vì họ là người nghiện rượu hoặc nghiện ma túy. Đối với người mới, thực sự nghe có vẻ điên rồ. Biết ơn ư? Làm sao họ có thể biết ơn vì đã trở thành nghiện ma tuý hay nghiện rượu? Vì bệnh và đau khổ buộc họ phải trưởng thành và mở rộng tâm thức. Nó buộc họ phải tỉnh thức và do đó biết ơn quá trình đó. Ban đầu, họ oán hận và chống lại nó, nhưng sau đó họ chấp nhận và đồng ý với nó. Họ bắt đầu yêu thương, trải nghiệm niềm vui, và cuối cùng đạt được trạng thái gọi là Thanh thản, đó là lời cầu nguyện của họ trong hầu hết các cuộc gặp gỡ:
Lạy Chúa, xin ban cho chúng con Thanh thản để chấp nhận
những điều chúng con không thể thay đổi,
can đảm để thay đổi những điều chúng con có thể thay đổi,
và trí huệ để biết sự khác biệt.
Trong lòng biết ơn của họ, có hiểu biết ở bên trong, nói rằng đây là số phận của họ—cách thức thực hiện và cách thức nó đã được lựa chọn—điều này dẫn đến nhận thức rằng họ không bao giờ có thể vươn tới hiểu biết tuyệt vời này thông qua bất kỳ cách nào khác. Một số người trong chúng ta phải trải nghiệm theo cách này. Bản ngã phải chạm đáy để phó thác và tìm được Thiên Chúa. Đối với những người đã chạm đáy và phó thác, lòng biết ơn sâu sắc sẽ tới, cùng với hiểu biết lớn lao hơn về bản chất của chính tâm thức. Chúng ta đã đi hết toàn bộ Bản đồ tâm thức, từ Nhục nhã đến An bình, và giờ đây, từ trải nghiệm sống của mình, chúng ta có thể khẳng định: những người phó thác cho Thiên Chúa sẽ nhận được ân huệ của Thiên Chúa.
GIẢI MÃ BẢN ĐỒ TÂM THỨC
David R. Hawkins, M. D., Ph. D.
Phạm Nguyên Trường dịch
Phần III
THĂNG TIẾN TÂM THỨC
Trong phần này, Tiến sĩ Hawkins trình bày cách thức tâm thức thăng tiến qua Bản đồ Tâm thức. Từ kinh nghiệm phi thường của mình với tư cách là người đã đi hết toàn bộ hành trình trên Bản đồ này, Tiến sĩ Hawkins đưa ra cho chúng ta những nguyên tắc cần tuân theo, những phương pháp cần thực hành và những cạm bẫy cần tránh. Nhiều lữ khách bị lạc đường. Nếu không được một thủy thủ dày dạn kinh nghiệm đã vượt biển thành công hướng dẫn, thì thủy thủ mới vào nghề làm sao có thể thành công? Tiến sĩ Hawkins không chỉ cung cấp cho chúng ta Bản đồ. Mà trong Phần III này, ông còn trình bày chi tiết những việc cần chú ý trên mỗi chặng đường và cách vượt qua những thách thức cụ thể của nó.
Ông nói cho chúng ta biết rằng, kì lạ là, bản ngã bám víu vào những thứ “quen thuộc” và chống lại thay đổi, ngay cả khi thay đổi là tuyệt vời. Do đó, ông hướng dẫn chúng ta từng bước nhằm thoát khỏi bản ngã nhỏ bé. Ông nói rằng có tâm từ bi với bản ngã và những hạn chế của nó là rất quan trọng. Nếu chúng ta lên án bản ngã trong chính con người mình hoặc ở người khác, thì chúng ta sẽ củng cố nó.
Rào cản của bản ngã, ngay cả khi bạn đã mang nó theo suốt cả cuộc đời, cũng có thể vượt qua được ngay lập tức nếu có ý chí tâm linh để buông bỏ nó. Dưới đây là một câu chuyện từ cuốn sách Buông bỏ (Letting go) của Tiến sĩ Hawkins minh họa cách bước đột phá duy nhất có thể đưa bạn đi hết toàn bộ hành trình. Người đàn ông này đã bị mắc kẹt trong tầng Thờ ơ: “Tôi không thể nhảy múa,” thực ra có nghĩa là “Tôi sẽ không nhảy múa!” Đó là thái độ từ chối ngay cả thử nhảy, do quá tự ti. Trong đoạn văn này, ông sử dụng kỹ thuật “buông bỏ” Thờ ơ và Sợ hãi, và đón nhận phó thác, để mở ra cánh cửa dẫn đến Mê ly:
Minh họa cho quá trình này là trải nghiệm của một người đàn ông trung niên thông minh, thành đạt, cả đời không có khả năng nhảy múa. Ông rất muốn nhảy múa, và đã nhiều lần tham gia các lớp học khiêu vũ. Nhưng lần nào ông cũng đều thấy mình cứng nhắc, vụng về và tự ti. Với ý chí mạnh mẽ, đôi khi ông ta cũng cố gắng làm một vài động tác trên sàn nhảy, nhưng chưa bao giờ cảm thấy thích thú và lúc nào cũng cảm thấy không thoải mái. Ông ta di chuyển một cách cứng nhắc và mỗi bước đi đều có tính toán, và toàn bộ trải nghiệm là không thỏa mãn, chẳng giúp ích gì nhằm nâng cao lòng tự trọng ông ta.
Sau khoảng một năm thực hành cơ chế buông bỏ, ông ta tham dự một bữa tiệc với một người phụ nữ, bà này liên tục yêu cầu ông ta đứng lên và nhảy. “Em biết anh không biết nhảy mà,” ông ta nói.
“Thử đi. Quên chuyện chân tay đi. Nhìn em và làm theo là được.” – bà ta năn nỉ.
Khi bước lên sàn nhảy, ông ta hoàn toàn buông bỏ. Trong tích tắc, cảm xúc bên trong của ông ta chuyển từ tầng Thờ ơ lên tầng Tình yêu và, trước sự kinh ngạc của chính mình, ông ta bỗng nhiên bắt đầu nhảy múa, điệu nhảy mà từ lâu ông vẫn luôn mơ ước và từng thầm ngưỡng mộ ở người khác! Nhận thức rằng mình có thể làm được! ập tới, và ông ta chuyển từ Tình yêu lên tầng Niềm vui, và thậm chí là chuyển thành trạng thái Mê ly. Niềm vui của ông ta tỏa tới tất cả mọi người. Bạn bè dừng lại xem. Từ trạng thái vui sướng tột độ, ông ta đột nhiên trải nghiệm sự hòa hợp với bạn nhảy của mình. Ông ta đột nhiên nhìn thấy chính Đại ngã của mình hiện ra trong mắt bà ta và nhận ra rằng thực ra chỉ có một Đại ngã duy nhất đằng sau tất cả những bản ngã cá nhân. Hai người kết nối với nhau theo lối thần giao cách cảm. Ông ta biết từng bước nhảy của bà. Họ hòa hợp một cách hoàn hảo và nhảy như thể đã luyện tập và nhảy cùng nhau suốt nhiều năm. Ông ta khó lòng kìm nén được niềm vui của mình. Điệu nhảy dần trở nên thanh thoát và bắt đầu tự tuôn chảy mà không cần bất kỳ sự can thiệp nào của lý trí. Họ nhảy càng lâu, ông ta càng cảm nhận được nhiều năng lượng hơn.
Trải nghiệm đỉnh cao như thế đã làm thay đổi cuộc đời người đàn ông này. Tối hôm đó, ông ta về nhà và nhảy thêm nữa. Khiêu vũ disco tự do luôn luôn luôn làm cho ông ta sợ hãi hơn bất kỳ phong cách nào khác bởi vì không phải ghi nhớ bước đi nào. Chỉ cần tự phát và cảm giác tự do, đấy là những thứ trước đây ông ta chưa từng trải nghiệm được. Sau khi về nhà, ông ta bật nhạc disco và bắt đầu nhảy suốt mấy giờ liền. Ông ta nhìn mình trong gương và bị mê hoặc bởi cơ thể được buông lỏng và cảm giác tự do bên trong.
Đột nhiên, ông ta nhớ lại kiếp sống trước đây với những chi tiết cực kì sống động. Ông ta từng là một vũ công giỏi, và lúc này ông ta bắt đầu nhớ lại những chỉ dẫn cụ thể mà các ông thầy đã cho ông biết trong kiếp sống đó. Khi ông ta làm theo chỉ dẫn của họ, kết quả thật đáng kinh ngạc! Ông ta phát hiện được rằng có một trung tâm cân bằng trọng lực thẳng đứng bên trong chính con người mình, và ông ta bắt đầu xoay quanh nó với sự cân bằng hoàn hảo. Chuyển động diễn ra một cách dễ dàng, và ông ta chỉ đơn giản là người chứng kiến điệu nhảy. Không còn cảm giác về “tôi” nữa. Chỉ còn lại niềm vui và chính điệu nhảy. Giờ đây, ông hiểu ngay lập tức nền tảng cốt lõi của điệu nhảy Sufi xoay tròn. Khả năng xoay tròn và quay cuồng mà không chóng mặt hay mệt mỏi—trạng thái tâm thức nhất định đó —xuất phát từ buông bỏ tự ngã cá nhân.
Bước đột phá mà người đàn ông này trải nghiệm trên sàn nhảy sau đó đã lan tỏa sang nhiều lĩnh vực - từng bị tắc nghẽn - trong cuộc đời của ông ta. Những lĩnh vực từng bị hạn chế, giờ đây đã mở rộng một cách nhanh chóng. Bạn bè và gia đình ông ta nhìn thấy rõ những thay đổi này và những phản hồi tích cực của họ càng làm tăng thêm lòng tự trọng và mong muốn tiếp tục buông bỏ những cảm xúc và suy nghĩ tiêu cực từng ngăn cản, không để cho ông ta trải nghiệm niềm vui sống.
Trải nghiệm này nêu ra khá chi tiết vì một vài lý do. Nó là minh họa cho Bản đồ Tâm thức. Trong suốt 50 năm, người đàn ông vừa nói đã ở tầng thấp nhất trong lĩnh vực này, với niềm tin là: Tôi không thể. Thái độ tự ti đã làm giảm lòng tự trọng của ông ta và làm cho ông ta né tránh. Trong suốt nhiều năm, ông ta đã tìm cách tránh các buổi họp mặt có khiêu vũ. Ông ta giận chính mình vì thái độ tự ti đó, và ông ta cảm thấy tức giận khi có người nào đó rủ khiêu vũ. Thế mà chỉ trong vài giây và vài phút, ông ta đã trải nghiệm tất cả các cảm xúc trên toàn bộ Bản đồ và đi đến tận đỉnh cao. Lúc đó, tâm thức cao hơn xuất hiện cùng với nhận thức tâm linh đột ngột ở một tầng rất cao. Với tâm thức cao hơn, hiểu biết cùng với khả năng tâm linh xuất hiện (thần giao cách cảm, đồng nhịp và nhớ lại tiền kiếp). Kết quả là, hành vi của ông ta thay đổi, và động lực của nó loại bỏ một loạt rào cản và hạn chế. Xã hội cũng phản hồi một cách tích cực, rồi phản hồi tích cực củng cố động lực phát triển đang diễn ra.
Chương 7
SIÊU VIỆT CÁC RÀO CẢN NGĂN CHẶN TẦNG TÂM THỨC CAO HƠN
Kiến thức “về” Bản đồ Tâm thức là một chuyện, nhận thức mang tính trải nghiệm lại là chuyện khác. Những người tìm kiếm tâm linh thường cảm thấy “bị mắc kẹt” trước một rào cản trong thời gian khá dài, nó có thể làm cho họ cảm thấy tuyệt vọng về mặt tâm linh; họ đã “đọc mọi thứ, đã đi khắp mọi nơi, đã thử mọi pháp tu” nhưng ngày nào thức dậy cũng đều thấy tâm mình hoàn toàn không thay đổi. “Tâm trí tôi như một miếng bọt biển: nó đã hấp thụ tất cả thông tin, nhưng tôi vẫn mắc kẹt ở cùng một chỗ!”
Ý CHÍ TÂM LINH
Làm thế nào để thoát khỏi những mô thức sợ hãi từng đi theo họ suốt cả cuộc đời và vươn tới trạng thái tâm thức cao hơn? Làm sao vượt qua những rào cản dường như không thể vượt qua?
Hiện nay, cơ hội trở thành người chứng ngộ lớn hơn 1.000 lần so với những giai đoạn trước đây, đấy là do thông tin về quá trình tiến hóa của tâm thức, nhưng chỉ thông tin thôi thì chưa đủ. Thay vào đó, Ý chí Tâm linh mới là chức năng quan trọng nhất trong tu tập tâm linh. So với tầm quan trọng cực độ của nó, Ý chí Tâm linh nhận được tương đối ít sự chú ý, bởi lẽ đó chính là lời mời gọi dẫn đến sự can thiệp Thiêng liêng.
Để làm sáng tỏ bước đi cần thiết này, xin đưa ra ví dụ điển hình và có tính hỗ trợ. Có lẽ ví dụ lớn nhất và nổi bật nhất là trường hợp các cựu chiến binh trong Thế chiến II, trong đó trải nghiệm của cả nhóm, cũng như từng người lính, phải nói là đều kinh khủng đến mức không thể nào mô tả được. Nhưng sau khi chiến tranh kết thúc, phần lớn các cựu chiến binh của cả hai phe đã nhanh chóng tha thứ cho nhau, thậm chí còn chào hỏi nhau một cách trang trọng và cùng nhau ăn mừng vì xung đột đã kết thúc. Họ bắt tay nhau với thái độ tôn trọng lẫn nhau. Có những phi công Kamikaze đã bắn phá tàu của phía bên kia, đã giết chết đồng đội của họ và gây ra nhiều thương vong. Mặt khác, người Mỹ đã thả bom nguyên tử giết chết hàng ngàn thường dân. Khi chiến tranh kết thúc, thật kỳ lạ là, mọi người dường như cùng chấp nhận rằng tất cả đã kết thúc và tất cả chỉ là “chiến tranh” mà thôi. Các cựu chiến binh thậm chí còn trở thành bạn bè thân thiết và thỉnh thoảng lại đến thăm gia đình nhau. Mọi người đều hiểu rằng binh lính ở cả hai phía đều có phẩm chất đạo đức như nhau, vì họ đã làm những gì mà mình cho là cần làm để hoàn thành vai trò của mình trong xã hội hoặc nghĩa vụ đối với Thiên Chúa, với đất nước, với gia đình, hoặc vì bất kỳ mục đích nào khác mà họ đã chiến đấu.
Miễn cưỡng tha thứ không chỉ là hệ quả của việc không muốn buông bỏ “nhựa sống” của bản ngã về bất công mà còn là vọng tưởng cho rằng người khác không “xứng đáng” được tha thứ. Trên thực tế, người tha thứ chứ không phải người được tha thứ mới là người được lợi nhiều nhất. Mục đích của ví dụ này là để chứng minh rằng có thể siêu việt ngay cả những điều kiện khắc nghiệt nhất, nhưng phải sử dụng hành động của ý chí cùng với sẵn sàng từ bỏ nuôi dưỡng lòng thù hận và trả thù.
Có thể hỏi làm sao sự chuyển đổi thánh thiện như vậy lại có thể xảy ra, nếu xét đến những hoàn cảnh kinh hoàng ở cả hai phía, trong đó có giam cầm trong các trại tù binh chiến tranh, đói khát, tra tấn, những hành động tàn ác và tàn sát nhiều người cùng một lúc. Trên thực tế, và về mặt tâm lý, bản ngã/tâm trí không thể làm được việc này vì nó không sức mạnh cần thiết vì bị mắc kẹt trong trường năng lượng của Mặc cảm tội lỗi/Hận thù, có điểm hiệu chỉnh ở tầng 30. Do đó, cội nguồn sức mạnh mang tính chuyển hoá không thể xuất phát từ tâm trí hoặc nhân cách được gọi là “tôi” cá nhân. Sức mạnh đích thực mà người ta cần nằm ở phẩm chất phi tuyến tính của tâm thức được gọi là “Ý chí”, chỉ có ý chí mới có thể mở ra cánh cửa dẫn đến sức mạnh đích thực mà người ta cần để giải tán lập trường của bản ngã.
VAI TRÒ CỦA ÂN PHƯỚC
Qua lời mời gọi, Thánh Linh (Holy Spirit[i]) chuyển hoá hiểu biết, đấy là nhờ sự hiện diện của sức mạnh chữa lành của Ân phước (Grace[ii]). Những cái mà bản ngã, dù có dùng tất cả sức mạnh của nó, cũng không thể nâng lên, thì lại nhẹ như lông hồng trước Ân phước của Thiên Chúa. Kết quả của quá trình chuyển hoá, là không chỉ quan điểm của chúng ta về những người khác được chuyển từ hận thù sang nhân từ mà quan điểm về chính mình cũng chuyển hoá. Như đã nói bên trên, đây là sự kiện xảy ra với những người nghiện, họ hoàn toàn phó thác cuộc đời mình cho sức mạnh to lớn hơn chính mình.
Những chuyển hoá đột ngột như vậy khẳng định chân lý của giáo lý Thiền: “Thiên đường và địa ngục chỉ cách nhau một phần mười inch.” Chúng ta có thể ở dưới đáy bản đồ, trong thống khổ tột cùng, bất tận, và khi nghe lời khẩn cầu của Ý Chí Tâm Linh: “Nếu có Thiên Chúa, xin Ngài giúp đỡ con”, thì chuyển hoá làm người kinh ngạc xảy ra, trong đó Vinh Quang Vô Biên của Thiên Chúa tỏa sáng từ tất cả tồn tại. Đối với một số người, phải rơi vào vực thẳm của địa ngục và tuyệt vọng tột cùng, thậm chí phải cận kề cái chết về thể xác, thì người ta mới buông bỏ bản ngã.
Ân phước của Thiên Chúa chờ đợi những người thành tâm cầu xin. Thần tính không ép buộc bất cứ người nào phải tiến hóa. Mọi người đều phải chịu trách nhiệm trước vũ trụ và phục tùng Công lý Thiêng liêng (Divine Justice[iii]), bởi chính cơ chế vận hành của chính vũ trụ này. Giống như một chiếc nút chai trên biển, mỗi linh hồn nổi lên đến tầng nổi của chính nó, đấy không phải là do hành động tùy tiện nào đó của biển cả. Không có bàn tay nào điều khiển bánh lái ngoài chính bản thân mình, đó là tự do tuyệt đối mà Thiên Chúa ban cho cuộc đời. Không ai gục ngã trừ phi bởi chính bàn tay của mình. Ngay cả những sự kiện được cho là “tình cờ” cũng chỉ là tri giác mà thôi. Không có hiện tượng ngẫu nhiên nào có thể xảy ra trong vũ trụ này, thậm chí ngẫu nhiên không phải là khả năng. “Ngẫu nhiên” đơn giản có nghĩa là điều gì đó không thể dự đoán được hoặc không thể hiểu được đối với bản ngã tuyến tính và sự hạn chế của nó trong mô hình nhân quả của Newton – có điểm hiệu chỉnh ở tầng 450.
Người ta tụ họp thành nhóm vì họ hoà điệu với cùng một trường hút. Người ta thường nói: “Chim bay theo bầy”. Mỗi người, riêng lẻ, đi theo một trường đầy sức mạnh, tương tự như nam châm, đến lượt nó, trường này lại chịu ảnh hưởng của trường hút cao hơn ở bên trên, và cứ thế cho đến Thần tính.
Mặc dù các cuộc xung đột dường như là không thể giải quyết được, nhưng giải quyết chúng thực ra lại đơn giản đến mức làm người ta bất ngờ, đấy là tuân thủ nghiêm ngặt các công cụ đã được chứng minh trong quá trình xử lý tâm linh—đó là sẵn sàng phó thác cho Thiên Chúa, và buông bỏ kháng cự bằng cách cầu khẩn sức mạnh của Ý Chí Tâm Linh (điểm hiệu chỉnh 850) khi xin Thánh thần (Divine[iv]) giúp đỡ. Có thể cầu xin Thánh Linh trợ giúp, cùng với việc thừa nhận sự thật rằng chính Tôi [bản ngã] không thể tự mình hoàn thành bước đi này. Về mặt thực tiễn, đây thực chất là yêu cầu để hiểu và đưa tình huống vào bối cảnh khác, và do đó, giải quyết được những nghịch lý sờ sờ trước mắt. “Xung đột” hay “rào cản” sẽ được giải quyết ngay khi ta nhìn nó từ một góc độ rộng hơn, điều mà Ân phước ban cho như là mặc khải và đưa vào bối cảnh mới.
Ý chí cá nhân chỉ hoạt động ở tầng tâm thức được hiệu chỉnh của người đó tại một thời điểm nhất định trong quá trình tiến hóa của họ và do đó, thường quá yếu, không thể tạo được thay đổi đáng mong muốn. Những nỗ lực thay đổi trong quá khứ thông qua các cơ chế của bản ngã có thể dẫn đến nghi ngờ, thiếu tự tin và từ chối đối mặt với các vấn đề, đấy là do bi quan. Nó thường được thể hiện bằng câu: “Tôi đã cố gắng,” thực chất là sự kiện —chính tự ngã nhỏ bé đã cố gắng, thường là mong muốn chứ không phải là hành động quyết liệt.
Những ý định tốt đẹp vấp phải những tảng đá của “sức mạnh ý chí” cá nhân, thường được sử dụng như một cây gậy đạo đức, làm tăng thêm mặc cảm tội lỗi và tự trách móc mình. Thật vậy, phó thác sâu sắc cho Thiên Chúa hoặc Sức mạnh Cao hơn không thể thực sự diễn ra nếu không từ bỏ vọng tưởng về “sức mạnh ý chí” cá nhân và thay thế nó bằng một quyết định dứt khoát. Bản ngã chống lại việc từ bỏ quyền kiểm soát, bởi vì nó nhận được khoái cảm từ những phần thưởng của lập trường mà người ta đang mắc kẹt trong đó. Do đó, bản ngã tạo ra kháng cự như sợ hãi, trong đó có sợ khó chịu, sợ mất mát do thay đổi, hoặc sợ thất bại. Tuy nhiên, kháng cự là do kiêu ngạo tâm linh, cũng cần phải được buông bỏ.
Vì vậy, muốn siêu việt rào cản, thì cần tuyên bố rằng mình là tôi tớ của Thiên Chúa và dâng hiến bản thân mình cho tu tập tâm linh nhân danh Thiên Chúa, tuyên bố này đưa ý định tiến hóa của mình vào trường năng lượng vô cùng mạnh mẽ của việc cầu xin Ân phước để buông bỏ những ràng buộc, ác cảm và phần thưởng của bản ngã, cái phần thưởng vốn đang giữ mỗi tầng tâm thức ở nguyên vị trí của mình.
NGƯỜI TRẢI NGHIỆM: MŨI NHỌN CỦA BẢN NGÃ
Người ta thường hỏi: “Tại sao tôi không thể vượt qua chuyện này? Tôi cảm thấy mình bị mắc kẹt.” Bế tắc đó xảy ra là vì mỗi tầng đều có phần thưởng gắn liền với những thái độ đã ăn sâu bén rễ, vốn xuất phát từ bản năng động vật của chúng ta. Nếu không có phần thưởng này, chẳng ai lại chịu ở lại đó. Muốn tiến hóa, bạn chỉ cần biết một điều duy nhất: cái đang kìm hãm bạn chính là cái “nhựa sống”, là phần thưởng và sự thỏa mãn mà bạn nhận được khi giữ nguyên trạng thái hiện tại. Như người ta thường nói: “Hãy cứ tận hưởng nhựa sống đó, cho đến khi nào còn có thể.” Nếu bạn sẵn sàng buông bỏ những phần thưởng mà bản ngã nhận được ở vị trí hiện tại của nó, rào cản sẽ tự động tan biến.
Muốn siêu việt bất kỳ lập trường nào của bản ngã, điểm khởi đầu là với “người trải nghiệm”, đó là mũi nhọn của bản ngã. Nó giống như một thiết bị dò tìm thông tin, luôn tìm kiếm trải nghiệm, luôn tìm kiếm phần thưởng, luôn tìm kiếm lợi ích. Để tồn tại, người trải nghiệm của bản ngã phải liên tục thu thập dữ liệu, chẳng hạn như ăn được/không ăn được và bạn/thù. Thay vì lo lắng về toàn bộ cấu trúc của bản ngã, chúng ta tập trung vào mũi nhọn của nó, đó chính là người trải nghiệm.
Người trải nghiệm là bộ xử lý liên tục xác định cái gì tốt, cái gì độc hại, ai là kẻ thù, ai là bạn—và xử lý rất nhanh. Nó xử lý lượng thông tin khổng lồ trong một phần mười nghìn giây. Máy tính không thể làm được như thế. Quá phức tạp, vì có cả giá trị, ý nghĩa, tầm quan trọng, và ưu tiên. Máy tính không thể làm được như thế, vì nó không đánh giá vật này cao hơn vật khác. Máy tính không nghĩ rằng mẩu thông tin này quan trọng hơn mẩu thông tin kia, nhưng bộ xử lý của bản ngã thì nghĩ như thế.
Người trải nghiệm cách xa thực tại một phần mười nghìn giây. Do đó, bản ngã không bao giờ trải nghiệm cái đang là; nó trải nghiệm trải nghiệm của chính nó về cái đang là. Tương tự như thế, nó không trải nghiệm những gì đang được ghi lại; nó đang trải nghiệm quá trình phát lại từ máy ghi âm. Bản ngã đang trải nghiệm cái vừa được ghi lại cách đây một phần mười nghìn giây. Dường như là không đáng kể, ngoại trừ việc chất lượng đã thay đổi hoàn toàn. Ở phía bên này của một phần mười nghìn giây, cây cối trông giống như cây cối, và hoa trông giống như hoa. Ở phía bên kia của một phần mười nghìn giây, chúng tỏa ra Thần tính! Chứng ngộ là vượt qua người trải nghiệm. Người trải nghiệm đột ngột biến mất. Nó không yếu dần đi; nó đơn giản và đột ngột bị dập tắt, rồi tâm trí lặng đi vì choáng ngợp.
Cuối cùng, điều mà con người nghiện là trải nghiệm. Đó là lý do vì sao chúng ta cứ đổi kênh, bật nhạc, chơi game, và ăn cái này hay cái kia. Tại sao chúng ta bám vào trải nghiệm? Vì trong quá trình tiến hóa, chính nhờ trải nghiệm mà động vật mới tồn tại được. Trải nghiệm làm cho bản ngã sống động, bởi vì bản ngã không có nguồn năng lượng tâm linh ở bên trong. Nó chỉ có năng lượng của động vật. Do đó, từ mỗi trải nghiệm, nó phải chiết xuất ra “nhựa sống”, vốn là cội nguồn của sự tồn tại của động vật. Ví dụ, bản ngã nhận được “nhựa sống” bằng cách hả hê trước sự đau khổ của người khác, khi mình đúng và chiến thắng: “Hắn ta đáng bị như vậy, tên khốn đó, và hắn ta xứng đáng bị như thế!”
Người trải nghiệm nhận được thỏa mãn mang tính ái kỷ. Họ cố gắng che đậy nhựa sống đó bằng những lý lẽ như “sự oán hận chính đáng”, lòng tốt, tự do ngôn luận, tự cho mình là nạn nhân có chính nghĩa, và những thứ tương tự như thế. Nhưng nếu tự kiểm kê bằng thái độ không sợ hãi và trung thực, chúng ta sẽ thấy rằng bất kỳ tiêu cực nào làm phiền chúng ta đều là do chúng ta nhận phần thưởng từ nó. Bạn có thể nói, “Không người nào muốn cảm thấy thương thân trách phận.” Nhưng trên thực tế, nhiều người thích tử vì đạo, thích bị đối xử bất công, bị làm cho khó chịu. Đấy là những sự kiện không mới đối với các nhà trị liệu, bác sĩ tâm thần và nhân viên xã hội, ngày nào họ cũng được các nạn nhân kể lại những chuyện đó. Liệu cả thế giới có nên thay đổi chỉ vì một người nào đó cảm thấy khó chịu với tình hình hiện nay của nó? Tính ái kỷ và cuồng ngã là quá rõ ràng. Kiểu như: “Nó làm cho tôi cảm thấy khó chịu.” Những người ái kỷ luôn luôn tìm cách thay đổi thế giới chứ không thay đổi chính mình. Nếu tên Thiên Chúa xuất hiện trên toà nhà xử án làm cho bạn mất ngủ, thì chúng ta có cần thay đổi cả một kiến trúc lịch sử chỉ để bạn ngủ ngon hơn hay không? Chìa khóa để siêu việt các tầng tâm thức chính là sẵn sàng tự thay đổi chính mình, thay vì muốn thay đổi người khác hay cải tổ xã hội. Một khi bạn thay đổi chính mình, bạn sẽ trải nghiệm những người xung quanh một cách hoàn toàn khác.
Điều duy nhất bạn cần biết về bất kỳ rào cản nào là phần tưởng mà bản ngã nhận được. Người trải nghiệm đang thu được gì từ lập trường đó, từ tiêu cực đó, từ trạng thái “bế tắc” đó?
NHỮNG NHỊ NGUYÊN CỦA BẢN NGÃ: HẤP DẪN VÀ ÁC CẢM
Cuốn Siêu việt các tầng tâm thức: Con đường dẫn tới chứng ngộ thảo luận kĩ lưỡng từng tầng tâm thức và siêu việt nó bằng cách buông bỏ những nhị nguyên đặc trưng của nó. Ở đây, chúng tôi đề cập đến những điểm chung về hấp dẫn và ác cảm của bản ngã để người đọc có thể bắt đầu trực giác về cách thức quá trình này diễn ra trong tâm lý. Các cặp hấp dẫn và ác cảm được nêu dưới đây áp dụng cho tất cả các chương trình của bản ngã và cho tất cả các tầng tâm thức.
Hấp dẫn | Ác cảm |
Quen thuộc, an toàn | Thay đổi, không chắc chắn |
Bám vào | Sợ cái mới |
Dễ dàng | Nỗ lực |
Người trải nghiệm luôn luôn hướng về những gì đã quen. Khi tới đám đông, việc đầu tiên chúng ta làm là nhìn xung quanh để tìm kiếm một khuôn mặt quen thuộc. Ác cảm là đối với những thứ không chắc chắn. Chúng ta lo lắng: “Chuyện gì sẽ xảy ra nếu tôi đến đó mà không thấy người quen nào?” Vì vậy, chúng ta bám víu vào những gì đã biết và sợ tương lai. Quá khứ là chắc chắn còn tương lai là không chắc chắn, và bản ngã thích chắc chắn, vì vậy nó bám víu vào những gì nó biết. Chúng ta thà được thoải mái ngay cả khi chúng ta sai. Bạn đã bao giờ thử một con đường mới đi về nhà từ chỗ làm hay chưa? Chẳng mấy chốc bạn lại quay trở lại con đường cũ. Chúng ta thích những gì quen thuộc, chúng ta thích những gì đã quen, và chúng ta không thích thay đổi trừ khi chúng ta lựa chọn nó vì người trải nghiệm thích cái mới lạ (xem bên dưới).
Bản ngã muốn bám víu vào vọng tưởng về cân bằng hơn là thay đổi và cảm thấy tạm thời mất cân bằng. Do đó, mọi người sẽ tiếp tục đi theo những con đường, ở trong các mối quan hệ và công việc tiêu cực và thậm chí mang tính hủy hoại chỉ vì thay đổi đòi hỏi phải nỗ lực.
Người trải nghiệm thường bị thu hút vào những gì dễ dàng và có ác cảm với nỗ lực. Việc cứ tiếp tục theo lối mòn cũ dễ hơn là nỗ lực thay đổi. Vậy làm sao vượt qua ác cảm đối với việc bỏ công sức nhằm tạo ra thay đổi tích cực? Bằng cách nhận ra rằng thực ra không cần nhiều nỗ lực, bởi vì chỉ cần chú ý thôi cũng đủ để làm giảm thói quen một cách tự động.
Ví dụ, giả sử bạn muốn giảm số lượng bánh quy mình ăn mỗi ngày vì bạn đã ăn quá nhiều bánh quy trong suốt 20 năm qua. Bạn nói, “Một ngày nào đó tôi sẽ bỏ ăn bánh quy.” Bạn đang tự lừa mình. Bạn đã ăn hơn 50 cái bánh quy mỗi ngày trong suốt 20 năm qua, vậy làm sao bạn có thể đột nhiên ngừng ăn bánh quy? Cố gắng sử dụng ý chí chỉ mang lại mặc cảm tội lỗi và thất bại. Bí quyết không nằm ở nỗ lực mà nằm ở sự chú ý của bạn. Chỉ cần bắt đầu đếm số bánh quy bạn ăn mỗi ngày, nhưng đừng cố gắng làm bất cứ điều gì về chuyện đó. Hãy bày bánh quy ra và, vào cuối ngày, đếm xem bạn đã ăn bao nhiêu cái. “Thứ Hai, 68 cái. Thứ Ba, 64 cái. Thứ Năm, 72 cái.” Điều quan trọng không phải là cố gắng làm gì với số bánh quy đó. Chỉ cần chú ý. Tất cả những gì bạn cần làm là ghi nhớ và viết nó vào cuốn lịch: “Thứ Hai, 63 cái. Thứ Ba, 18 cái. Ồ, tuyệt vời. Thứ Tư, trở lại như thường lệ, 58 cái.”
Sự kiện sẽ xảy ra là, nhờ ý định, nguyên lý Heisenberg sẽ tự động được áp dụng, có nghĩa là quan sát một điều gì đó thì sẽ làm thay đổi nó. Như vậy, chính sự tỉnh thức của bạn bắt đầu làm giảm sự hấp dẫn đối với bánh quy. Đến cuối tháng, bạn sẽ chỉ còn ăn 14 cái bánh quy thôi. Đến cuối một hoặc hai tháng nữa, bạn sẽ chỉ còn ăn 6 cái. Và thế là bạn sẽ bất ngờ nói: “Thôi kệ, mình không cần bánh quy nữa.” Tất cả đều quá dễ dàng! Không cần phải đấu tranh, không cần tự hạ thấp mình hay tự thao túng mình bằng mặc cảm tội lỗi. Nếu bạn chỉ đơn giản là chú ý đến nó, một cách tự nhiên, nhờ ý định của bạn, nguyên lý Heisenberg sẽ được áp dụng, bạn sẽ khéo léo tận dụng sức mạnh của trường năng lượng thay vì dựa vào lực của bản ngã.
Dễ dàng thay đổi và buông bỏ những thứ quen thuộc, nhưng bạn lại tránh né nó vì dường như đối với bản ngã, phải cần nỗ lực. Nó chỉ dường như là nỗ lực, đấy là nếu bạn dùng biện pháp khó khăn, ép buộc mình, cố gắng tự mình vượt qua khó khăn. Bất cứ điều gì bạn không thích trong chính mình—cáu gắt với người khác, chửi thề, hay bất cứ điều gì tương tự—đều có thể được khắc phục bằng cách ghi lại số lần bạn làm việc đó mỗi ngày. Bạn chỉ cần bắt đầu chú ý và theo dõi nó. Ai cũng có thể nhận thấy; nó không đòi hỏi nỗ lực, chỉ cần chú ý.
Hấp dẫn | Ác cảm |
Kiêu hãnh | Khiêm tốn |
Tức giận/ “mạnh mẽ” | Thụ động/ “Yếu đuối” |
Thắng | Thua |
Sức hấp dẫn của sự kiêu hãnh nằm ở chỗ bạn nghĩ mình giỏi hơn những người khác, là người đứng đầu và bất khả chiến bại. Khiêm tốn bị coi là mất địa vị, vì vậy bạn không bao giờ được “nhượng bộ”, nếu không muốn mất chỗ đứng. Chúng ta kiêu hãnh trong tất cả các lập trường của mình, và chúng ta ghét thái độ khiêm nhường, nó thường bị nhầm với sỉ nhục. Người thực sự khiêm nhường không thể bị sỉ nhục. Người khiêm nhường và trung thực đã thừa nhận những khiếm khuyết của mình, vì vậy họ không thể bị tổn thương, bị xúc phạm hay coi thường. Họ không cảm thấy bị xâm phạm chỉ vì người khác không đồng ý với mình.
Nếu bạn dễ bị tổn thương, hãy ngồi xuống và lập danh sách tất cả những khiếm khuyết của mình mà bạn có thể nghĩ ra, rồi tưởng tượng những nghệ sĩ hài vĩ đại nhất mọi thời đại đang bàn luận về vấn đề của bạn. Các nghệ sĩ hài là những người trị liệu tuyệt vời của nhân loại, bởi vì họ giúp chúng ta cười chính mình. Tôi lớn lên ở Wisconsin, đàn ông chúng tôi gọi nhau bằng biệt danh. Họ gọi tôi là Shorty trong Hải quân, nhưng ngày nay một người nhạy cảm sẽ nói rằng biệt danh này vi phạm quyền của họ do phân biệt đối vì chiều cao! “Đừng quá coi trọng bản thân mình” là một trong những phương châm tuyệt vời trong các nhóm 12 bước, nó nói về việc sống thoải mái và dễ chịu.
Chúng ta thấy bản ngã nhầm lẫn giữa tức giận với sức mạnh và thụ động với yếu đuối. Tức giận mang lại cho bạn năng lượng giả tạo, như thể bạn mạnh mẽ hơn con người mà bạn đang là. Thực ra, người tức giận yếu hơn nhiều, như mọi người đã biết trong môn karate và nhiều môn võ thuật khác. Một khi đối thủ nổi giận, họ sẽ co rúm lại vì tức giận và bạn biết rằng chỉ cần dùng một đòn là có thể dễ dàng hạ gục được họ.
Con thú gồng mình lên vì tức giận nhằm đe dọa những con khác, bởi vì sợ hãi được coi là thụ động hoặc yếu đuối. Trong một số nền văn hóa, người ta sẽ giết bạn nếu bạn bị coi là người thụ động hoặc yếu đuối. Tại những khu vực đó, chấp nhận bị coi thường cũng đồng nghĩa với việc đặt dấu chấm hết cho cuộc đời mình.
Do đó, thực tại trên tầng 200 hoàn toàn khác với thực tại dưới tầng 200. Thật là ngây thơ khi cho rằng người khác cũng giống như bạn. Họ khác; trên thực tế, họ trái ngược hoàn toàn. Bạn nghĩ rằng việc trả tiền hóa đơn là một ý tưởng hay, trong khi họ lại nghĩ bạn là thằng ngốc. Bạn nghĩ rằng nói thật hoặc xin lỗi là chính trực, còn họ lại nghĩ đó là làm việc ngu ngốc. Ở tầng dưới 200, quan trọng là “ăn miếng trả miếng”, trả thù và giành chiến thắng. Trong thế giới nhị nguyên, có người thắng và có người thua (“và tốt hơn hết là không phải tôi”). Đó là tâm lý “thắng-thua”, không có ý thức về “cùng thắng”.
Ở trên tầng 200, sẽ xuất hiện quan điểm khác. Bạn thấy rằng bản ngã mất thì thường là tâm linh được, và ngược lại. Về mặt nghiệp báo, một mất mát có thể là lợi ích lớn nhất trong cuộc đời bạn, vì thế giới thực ra là nơi tuyệt vời nhất để hóa giải ác nghiệp và nhận thiện nghiệp. Do đó, muốn thay đổi thế giới không có nhiều ý nghĩa. Làm việc thiện có thể làm cho người ta tiếp tục gặp ác nghiệp. Điều tưởng chừng như là mất mát hay bi kịch thực chất lại là lợi ích to lớn vì nó mở ra cánh cửa dẫn đến ân phước và tự do tuyệt đối.
Hấp dẫn | Ác cảm |
Quan trọng | “Người vô danh” |
Được | Mất |
Tiền bạc | Nghèo nàn |
Kích động | Chán nản |
Bản ngã muốn là người quan trọng và sợ trở thành người vô danh. Bản ngã cần được người ta chú ý và thần thánh hóa việc xuất hiện dưới ánh hào quang của công luận. Ở tầng cao hơn, bạn cảm thấy nhẹ nhõm khi là người vô danh, biết ơn vì được là người bình thường và thoát khỏi mọi ồn ào, phô trương.
Bản ngã bám víu vì nó muốn kiểm soát. Ngay khi bản ngã nghĩ rằng một thứ gì đó là “của tôi”, nó phồng lên vì thấy mình là người đặc biệt. Đó chỉ là “một” cái đồng hồ, nhưng bây giờ nếu nó đã trở thành chiếc đồng hồ “của tôi”, nó sẽ trở thành đặc biệt và đầy tình cảm như “chiếc đồng hồ cũ của ông nội tôi”. Ngay khi bạn thêm từ “của tôi”, bản ngã liền phồng lên và bạn bị mắc kẹt. Sự thật là không có gì thuộc về bạn hết. Tất cả mọi thứ thuộc đều về Thiên Chúa. Bạn chỉ được quyền tạm thời quản lý những thứ đó, trong có có cả cơ thể bạn. Đó là “cơ thể” và đó là “tâm trí”, và khi bạn ngừng coi chúng là “của tôi”, chúng không còn là những khoản đầu tư đầy hấp dẫn của bản ngã nữa.
“Chắc chắn rồi,” bạn nói, “những suy nghĩ trong đầu tôi là của tôi!” Thực ra, chúng không phải là của bạn. Bị tâm trí thôi miên nghĩa là nghĩ rằng những suy nghĩ của nó là “suy nghĩ của tôi”. Trên thực tế, những suy nghĩ phát ra từ trường tâm thức theo lối phi cá nhân. Mỗi tầng tâm thức đều có trường suy nghĩ chủ đạo của mình. Ngay khi bạn kết nối với một tầng tâm thức nhất định, là bạn được kết nối với một trường hút. Trường hút đó đã có những suy nghĩ tương tự như thế trong suốt hàng ngàn năm qua. Nội dung của những suy nghĩ của bạn không có gì là mới mẻ hết. Tôi muốn là người đứng đầu— bạn nghĩ rằng mình là người đầu tiên phát minh ra suy nghĩ đó sao?
Với thái độ tự mãn, bản ngã được thiết kế để luôn luôn khao khát lợi lộc; lúc nào nó cũng có những toan tính về tiền bạc và niềm tin cho rằng cuối cùng, tiền bạc sẽ mang lại hạnh phúc. Thú vị là, nghiên cứu của chúng tôi đã phát hiện được rằng hạnh phúc tương quan với tầng tâm thức, chứ không tương quan với của cải hay sức khỏe. Một người có thể hạnh phúc mà không cần gì hết. Trên thực tế, ở một tầng nhất định, càng ít thì càng tốt! Bạn có thể sống với một chiếc giường cũ, một cái chăn mua ở cửa hàng đồ cũ, một cái hộp đựng nến, một quả táo, một miếng pho mát và một lốc 6 chai Pepsi. Và một con mèo nữa, thế là đủ để ngôi nhà của bạn trở thành thiên đường rồi. Bạn có cần gì để đọc không? Không. Bạn có cần xem truyền hình không? Không. Bạn có cần cập nhật tin tức không? Không.
Người trải nghiệm của bản ngã sợ nhàm chán, và nó sống nhờ năng lượng mà nó lấy được từ phấn khích. Làm sao siêu việt được cảm giác sợ nhàm chán? Đơn giản là hãy cho phép mình cảm thấy nhàm chán và tìm hiểu lý do tại sao bạn cảm thấy nhàm chán và cảm xúc đó là gì. Nếu bạn muốn khám phá những gì người trải nghiệm cảm thấy, hãy cho phép bản thân mình cảm thấy cái đó, chứ đừng chìm đắm trong việc trốn tránh thực tại, trở thành người nhàm chán và chỉ cần chiêm nghiệm: Nhàm chán là gì, và tôi đang trải nghiệm điều gì? Tại sao tôi lại ác cảm với nó? Đó là cách rất nhanh để tìm ra người trải nghiệm là gì, nó làm gì và nó phục vụ cho cái gì. Rồi bạn tự hỏi: “Cái gì đang nhàm chán? Khía cạnh nào trong bản thân mình đang chán nản và than vãn? Nó than phiền về chuyện gì? Chẳng có gì thú vị hết.” Vậy mình nhận được gì từ những điều thú vị? “Cảm giác sống động và hưng phấn.” Đó là sự sống động của linh hồn hay của bản ngã? Hóa ra đó là con thú nhỏ trong bạn lúc nào cũng muốn được giải trí. Nó sợ nhàm chán vì nhàm chán thì chẳng khác gì chết.
Hấp dẫn | Ác cảm |
Ham muốn | Không nhận được |
Địa vị | “Người vô danh” |
Được mọi người chú ý | Bị người ta lờ đi |
Ý kiến | Bình thường |
Khao khát | Chán nản |
Kiểm soát | Chấp nhận |
Cứu thế giới | Phó thác |
Bản ngã phát triển mạnh là do ham muốn. Nó sợ rằng mình sẽ không “nhận được”. Nó bị thúc ép và áp đặt để có được những thứ mình muốn. Ngược đời, như đã viết trong cuốn Buông bỏ: Trên đường buông bỏ, chính cái tâm mong cầu quá mức lại tạo ra phản lực đẩy ra xa những mục tiêu mà ta đang đeo đuổi. Ví dụ, khi chúng ta tạo áp lực lên người khác để đạt được điều mình muốn, họ tự động chống lại, vì chúng ta đang tìm cách gây áp lực lên họ bằng những yêu cầu hoặc kỳ vọng vô thức của mình. Tất cả chúng ta đều đã trải nghiệm hiện tượng này, đấy là khi một người nào đó gõ cửa và muốn bán cho mình thứ gì đó. Họ càng ép, chúng ta càng chống cự lại. Doanh nhân người Mỹ Robert Ringer gọi đó là “lý thuyết con trai/con gái”. (Chàng trai gặp cô gái. Ngay khi cô nhận ra anh ta muốn mình, cô trở thành khó gần. Lúc đó, nếu chàng trai quyết định rút lui, thì cô lại muốn anh ta, và ngược lại, anh ta tỏ ra lạnh lùng.)
Chìa khóa để buông bỏ ham muốn là hiểu rằng tất cả những hấp dẫn đều là phóng chiếu của trường năng lượng gọi là “quyến rũ”, như Alice Bailey đã mô tả trong cuốn Glamour - một trong những cuốn sách hữu ích nhất từng được chấp bút. Bản ngã phóng chiếu tính chất đặc biệt và quyến rũ lên đối tượng, phóng chiếu làm cho nó có sức hấp dẫn. Thông thường, mọi người nghĩ rằng sức hấp dẫn nằm bên trong đối tượng, chẳng hạn như bánh mì kẹp phô mai. Nhưng rõ ràng sức hấp dẫn không nằm ở chính cái bánh mì kẹp phô mai, vì nhiều người sẽ không ăn, ngay cả khi họ rất đói. Đối với họ, bánh mì kẹp phô mai thậm chí có thể là thứ đáng ghê tởm: “Nó là thịt. Thịt sẽ giết bạn. Thịt gây ra khí metan và hiện tượng nóng lên toàn cầu. Hãy cùng nhau trở thành người ăn chay để làm mát trái đất!” Vậy nên, cách thoát khỏi ham muốn là thôi phóng chiếu vẻ hào nhoáng lên bất cứ cái gì mà người trải nghiệm đang khao khát. Điều này phù hợp với giáo lý của Đức Phật rằng bước đầu tiên là không để cho chấp trước của bản ngã vào những khoái lạc của giác quan chi phối.
Người trải nghiệm tìm kiếm địa vị và sợ trở thành người vô danh. Họ muốn được mọi người chú ý và sợ bị người ta lờ đi. Họ muốn thể hiện ý kiến của mình về mọi thứ và sợ khi chỉ là người bình thường. Hiện nay tự do ngôn luận là rạp xiếc của bản ngã. Một hôm, một người bạn tốt của tôi nói: “Tôi vừa khám phá ra một điều tuyệt vời nhất. Tôi không cần phải có ý kiến về tất cả mọi thứ. Tôi không cảm thấy bị thôi thúc phải bày tỏ quyền tự do ngôn luận của mình, không cần đứng lên bảo vệ quan điểm và đi ra ngoài với một biểu ngữ. Tôi chưa bao giờ trải nghiệm tự do đến như thế.”
Đây là nhận ra giá trị của việc chỉ là người bình thường và không cần có ý kiến về mọi thứ trên đời. Sống bình thường là cứu đời bạn. Khi một tay súng đang tìm kiếm mục tiêu để bắn, tan vào đám đông là có lợi. “Này! Anh chàng có ria mép màu hồng và tóc đỏ đứng đằng kia kìa!” Bùm! Bản ngã ghét sự tầm thường, nhưng bạn có biết ai là người bình thường bị ám sát trong thời gian gần đây hay không? Cách để sống sót là trở thành người bình thường và hòa bình. Nếu bạn hung hăng, bạn sẽ chiêu mời hung hăng. Khi bạn nhận ra sự an toàn của việc là người bình thường, bạn có thể buông bỏ khao khát của bản ngã là “trở thành một người nào đó”.
Bản ngã muốn được người ta chú ý, muốn có ý kiến, nó thèm khát mọi thứ và muốn kiểm soát. Nó muốn kiểm soát người khác và kiểm soát thế giới, chứ không chịu nhìn vào bên trong. Nó muốn thay đổi thế giới chứ không muốn thay đổi chính mình. Nếu không thích thế giới như nó đang là, thì xin làm một việc tốt cho thế giới bằng cách nhìn vào bên trong và thay đổi chính mình. Tất cả những người làm việc thiện tuyệt vời, những ông vua vĩ đại, đều đã chết. Triều đại của họ đã tìm cách thiết lập quốc gia vĩ đại nhất trên Trái đất này, và giờ đây tất cả bọn họ đều đã chết. Nếu từ “Chúa” xuất hiện ở trụ sở tòa án làm cho chúng ta cảm thấy khó chịu, thì chúng ta phải tự hỏi: Tại sao lại như thế?
Một trong những phó thác lớn nhất là buông bỏ mong muốn kiểm soát mọi thứ. Thế giới vốn dĩ không có vấn đề; vấn đề là do sự mù quáng và khiếm khuyết trong nhãn quan của chính chúng ta. Nếu chúng ta mở rộng tầm nhìn, chúng ta sẽ thấy rằng thế giới đang tiến hóa theo bản thiết kế không phải do chúng ta tạo ra. Chúng ta lãng mạn hóa việc mọi thứ có thể hoặc nên trở thành như thế nào, và chúng ta chỉ trích những người không đồng tình với mình. Cách thoát khỏi thái độ chỉ trích nằm trong câu nói rất đơn giản: “Chỉ vì bạn thích vani không có nghĩa là bạn phải ghét sô cô la. Và chỉ vì bạn yêu sô cô la không có nghĩa là bạn phải ghét vani.” Chúng ta có thể tận hưởng sở thích của riêng mình mà không cần phải bôi nhọ sở thích của người khác. Lúc đó, chúng ta chấp nhận rằng tâm thức đang tiến hóa theo con đường nhất định, và việc cố gắng kiểm soát mọi thứ giả định rằng mình biết rõ hơn Thiên Chúa. Trí huệ tốt là phó thác thế giới cho Thiên Chúa (điểm hiệu chỉnh 535).
Bản ngã tâm linh muốn cứu thế giới. Thế giới sẽ được cứu khỏi cái gì? Tất cả các đạo sư vĩ đại đều nói cùng một chuyện: vấn đề duy nhất trên thế gian này là vô minh. Vì vậy, nếu muốn làm điều gì đó cho thế gian, thì việc tốt nhất mà bạn có thể làm là cố gắng vượt lên trên vô minh bằng giáo dục, bắt đầu từ chính bản thân mình và thực tế là thế giới mà bạn nhìn thấy thậm chí không tồn tại. Sự vô minh của bản ngã nằm ở giả định vị kỷ rằng thế giới mà nó nhìn thấy chính là bản chất chân thực của thế giới. Bản ngã nhìn thấy sự bất công, nhưng đó là do nó nhìn từ quan điểm nhị nguyên. Từ một góc độ khác, chính sự việc đó lại là công bằng tuyệt đối.
Hấp dẫn | Ác cảm |
Mới lạ | Sự đơn điệu nhàm chán |
Cảm giác mạnh | Bỏ lỡ |
Hung hăng | Thụ động |
Ngồi lê đôi mách: “trong nhóm” | “Ngoài nhóm” |
Hợp thời trang | Cũ kĩ |
Bản ngã thích mới lạ; ghét nhàm chán và thói quen; sợ bỏ lỡ điều gì đó; nó nghiện cảm giác mạnh, rủi ro và nguy hiểm. Âm thanh của tiếng xe đua – rít lên – như thể nói: “Nào các bạn, hãy tham gia cuộc đua đầy phấn khích này, hãy lao vào rủi ro, lao vào vào nguy hiểm!” Người ta có thể lao vào những thái cực khó tin, như một người Pháp bị thôi thúc leo lên những tòa nhà cao nhất ở các thành phố lớn trên khắp thế giới. Anh ta giống như một con ruồi biết bay. Anh ta leo lên sườn những tòa nhà bằng đá cẩm thạch cao chót vót, và cảnh sát liên tục bắt giữ anh ta. Nhưng ngay khi được thả, anh ta lại tiếp tục leo lên các toà nhà. Đây là nghiện cảm giác mạnh.
Bản ngã thích hung hăng, và ác cảm với thụ động. Nó muốn được “ở trong nhóm” và buôn chuyện về “người khác” để không bị “ở bên ngoài”. Nó chấp nhận nguy hiểm chỉ để được ở cùng với nhóm. Bản ngã muốn được tham gia chứ không muốn cô đơn, và muốn trở thành thời thượng chứ không muốn là cũ kĩ. Nó muốn trở thành một phần của nhóm 'thượng lưu/hợp thời' bằng bất cứ giá trị nào.
Hấp dẫn | Ác cảm |
Là người đúng | Là người sai |
Thượng đẳng | Bình thường |
Lên tiếng | Im lặng |
Cố chấp | Nhượng bộ |
Nổi tiếng | Vô danh |
Và đương nhiên là, bản ngã cần phải luôn luôn là người đúng! Trên thực tế, là người đúng còn quan trọng hơn cả chính mạng sống. Hàng chục triệu người đã hi sinh mạng sống của mình—cả một thế hệ, cả một xã hội, cả một nền văn hóa và cả một quốc gia—chứ không thừa nhận là mình đã sai. Bản ngã muốn giết bạn! Nó nói: “Thà là người đúng mà chết còn hơn là người sai mà sống”. Giờ đây chúng ta thấy kẻ thủ ác thực sự là ai. Nó không phải “ở ngoài kia” mà “ở trong này”.
Bằng cách luôn luôn là người đúng, bản ngã trở thành thượng đẳng, vì nó sợ là người bình thường. Nếu bạn có thể buông bỏ sợ là người bình thường, bị ngươi khác bỏ qua, là người chẳng có gì đặc biệt, thì bạn buông bỏ rất nhiều lập trường cùng một lúc. Nếu bạn chấp nhận là người vô danh, là người bình thường và “không là ai hết”, thì bạn sẽ tránh được rất nhiều rắc rối.
Chủ thể trải nghiệm của bản ngã luôn muốn được lên tiếng, được nói to lên và được người ta lắng nghe, chứ không muốn im lặng. Chính lối tư duy coi mình là trung tâm này đã làm suy yếu quyền tự do ngôn luận ở Hoa Kỳ. Phần lớn các diễn ngôn hiện nay đều không chính trực, vì chúng chỉ còn là những ý kiến cá nhân đầy tính tự mãn mà thôi. Nếu đánh giá mức độ tự do ngôn luận như một khái niệm, thì nó có điểm hiệu chỉnh 340. Nếu hiệu chỉnh nó như cách nó được thực thi ở Hoa Kỳ hiện nay, thì nó chỉ được khoảng 187 điểm. Người ta nói về tự do ngôn luận như thể nó là phần thưởng cao nhất của nền văn minh, nhưng liệu nó có thực sự là phần thưởng cao nhất của nền văn minh khi bất kỳ người nào cũng có thể lên truyền hình hoặc lên mạng xã hội và nói lung tung? Chúng ta có nên chết vì điều đó hay không? Im lặng là điều cấm kỵ đối với bản ngã, vốn cứng đầu, cố chấp và khao khát được là người nổi tiếng.
Chúng ta đang chứng kiến quá trình lộn trái các giá trị tâm linh, trong đó tự do ngôn luận được tôn thờ như là đỉnh cao lý tưởng của nhân loại, nhưng trên thực tế, nó lại là chủ nghĩa vị kỷ trá hình. Vì sao? Vì nó tạo cơ hội bình đẳng cho những quan điểm sai trái. Như đã nói bên trên, giới truyền thông nói “Công bằng và khách quan”, có nghĩa là bạn cần phải có một thành viên của hội những người tin Trái Đất phẳng và đưa ra “quan điểm khác” với tuyên bố rằng Trái Đất hình tròn. Sự phi lý sẽ bị phơi bày ngay lập tức nếu chúng ta áp dụng nguyên tắc tương tự vào các lĩnh vực khác. Khi cần mổ não, liệu bác sĩ phẫu thuật thần kinh có thăm dò ý kiến của những người xung quanh hay không? “Bạn nghĩ tôi có nên kẹp động mạch não trái không? Tất cả đều đồng ý?”
Mặt trái của xã hội hiện nay nằm ở vọng tưởng cho rằng sự thật có thể được quyết định ở hòm phiếu. Nếu luận điểm sai lầm này không được sửa chữa, nó sẽ hủy diệt nền văn minh của chúng ta, như Socrates đã dự đoán vào khoảng năm 350 trước Công nguyên. Ông nói rằng nếu bạn cho mỗi người quyền bỏ phiếu như nhau để xác định sự thật, những người không chính trực sẽ phá hủy xã hội. Ví dụ, Wikipedia có điểm hiệu chỉnh 280, khác biệt đáng kể so với Encyclopædia Britannica có điểm hiệu chỉnh 460, chứng tỏ nó có tiêu chuẩn về sự thật cao hơn hẳn.
Để làm bằng chứng cho lịch sử, chúng ta đang khẳng định ở đây rằng: sự suy tàn của nền văn minh này bắt đầu khi một hành động được định nghĩa về mặt pháp lý là “ngôn luận mang tính biểu tượng”. Nếu hành động là ngôn luận mang tính biểu tượng trong một quốc gia tự do, bạn có thể nói bất cứ điều gì mình muốn mà không có bất kỳ ràng buộc nào. Bất cứ điều gì cũng có thể được coi là ngôn luận mang tính biểu tượng—công khai đốt cờ, nghi lễ của Ku Klux Klan, ấu dâm. Hành động mang tính biểu tượng giờ đây không còn bị ràng buộc bởi bất kỳ điều gì. Không có trách nhiệm, không có giải trình, và kết quả là hỗn loạn: “Tôi có quyền làm những gì tôi muốn vì đó là tự do ngôn luận mang tính biểu tượng.” Khi đó, sự thật không còn ý nghĩa gì nữa, bởi vì sai trái cũng có giá trị như thế.
Làm sao chúng ta có thể thanh thản với viễn cảnh như thế? Chúng ta chấp nhận rằng đây là tiềm năng mang tính nghiệp báo của nhân loại. Chúng ta không đặt câu hỏi về mục đích của Thiên Chúa khi tạo ra đời sống của con người trên thế gian này. Những khó khăn của thế gian dường như là hậu quả của việc tất cả các tầng khác nhau của quá trình phát triển mang tính tiến hóa đồng thời cộng sinh với nhau, dẫn đến những hỗn loạn xã hội. Tuy nhiên, đồng thời, sự đa dạng về lựa chọn như thế lại tạo ra cơ hội phát triển lớn nhất. Thay vì oán giận, chúng ta có thể biết ơn, thế giới này là nơi chốn với cơ hội tâm linh cao nhất cho quá trình tiến hóa tâm thức.
Hấp dẫn | Ác cảm |
Kháng cự | Chấp nhận, phó thác |
Phòng thủ | Nhượng bộ |
Thành công | Thất bại |
Đặc biệt | Bình thường |
Thêm nữa | Ít đi |
“Sở hữu” | Tạm quyền |
Hào nhoáng | Giản dị |
Độc đáo | Bình thường |
Thay đổi thế giới | Thay đổi chính mình |
Sức hấp dẫn của bản ngã là bảo vệ quan điểm của mình hơn là nhượng bộ, bởi vì nhượng bộ có nghĩa là từ bỏ việc mình là người đúng; và bản ngã đánh đồng thành công với việc mình là người đúng và thỏa mãn được những ham muốn của nó. Bản ngã quyết định muốn bất cứ thứ gì—nhiều tiền hơn, nhiều tình dục hơn, được nhiều người chú ý hơn—thì đối với nó đều là “thành công”. Nó muốn nhiều hơn và sợ có ít hơn. Cách thoát ra là nhận ra là sẽ tuyệt vời đến mức nào nếu có ít hơn. Thật nhẹ nhõm khi có ít tài sản hơn và do đó, phải trả ít tiền bảo hiểm hơn và không cần hệ thống báo động để bảo vệ “đồ vật quý giá”. Thực ra chúng ta không bao giờ sở hữu bất cứ thứ gì; tất cả những gì chúng ta có chỉ là quyền quản lý tạm thời mà thôi.
Cũng áp dụng cho sự khác biệt giữa sự say mê (điểm hiệu chỉnh 145) và Tình yêu (điểm hiệu chỉnh 500). Khi say mê, bạn “phải” có và sở hữu người đó vì sức hấp dẫn mãnh liệt, tính chất đặc biệt và độc đáo mà bạn đã gán cho họ trong sự phấn khích của quá trình “chinh phục” mà bạn nghĩ là sẽ xảy ra. Cuộc sống của bạn tạm thời bị xáo trộn bởi thôi thúc và thèm muốn, dẫn đến mất ngủ và ám ảnh. Bạn trở thành người ghen tuông điên loạn, thậm chí muốn giết người, nếu người nào đó tán tỉnh người mà bạn thích. Có thể tuyệt vọng, thậm chí tự tử, nếu người kia không quan tâm đến bạn.
Cảm xúc của say mê giải phóng adrenaline và hormone sinh dục, cho thấy nguồn gốc của nó chủ yếu là bản năng giao phối của bản chất động vật. Sự điên cuồng phản ánh cách thức duy trì nòi giống của tự nhiên, và thường xuyên là, sau khi giao phối, cặp đôi chia tay, mặc dù một số loài, ví dụ thiên nga, kết đôi suốt đời. Xã hội coi say mê là một sự điên rồ trong ngắn hạn (“điên vì tình”), mất khả năng kiểm chứng thực tại.
Ngược lại, tầng tâm thức của Tình yêu đi kèm với giải phóng endorphin. Nó không chiếm hữu, bền bỉ đi qua những đổi thay và nghịch cảnh, đồng thời thăng hoa cuộc sống của bạn thay vì làm đảo lộn nó. Lòng biết ơn, sự kiên định, nâng đỡ, niềm vui, hạnh phúc, tương trợ và viên mãn là những đặc điểm của sự gắn kết và hợp tác trong trường năng lượng của Tình yêu. Có sự hòa hợp tự nguyện của Đại ngã, khi những người yêu nhau cùng chia sẻ một ý định chung là phục vụ quan hệ hơn là những mong muốn hay thèm khát của bản ngã cá nhân của mình.
Hấp dẫn | Ác cảm |
Sự kiện bị bóp méo | Sự thật |
Chỉ trích | Tha thứ |
Mặc cảm tội lỗi/Đổ lỗi | Nhận trách nhiệm |
Bám chấp | Buông bỏ |
Áp đặt | Nhường nhịn |
Nội dung | Trường/Bối cảnh |
Thái quá | Đạm bạc |
Kẻ tử đạo | Chấp nhận |
Nạn nhân | Nhận trách nhiệm |
Báo thù | Tha thứ |
Căm thù | Từ bi |
Đổ lỗi | Chấp nhận/tha thứ |
Như chúng ta thấy mỗi đêm trên truyền hình, bản ngã thích bóp méo sự kiện và căm ghét sự thật. Người phỏng vấn hỏi, còn người được phỏng vấn không bao giờ trả lời, mà chỉ lảng tránh để đưa ra ý kiến về một chủ đề khác. Khi kiểm tra bằng cách hiệu chỉnh tâm thức, chúng ta nhận ra rằng hầu hết mọi người, hầu như mọi lúc, đều nói dối một cách trắng trợn.
Bản ngã thích lên án người khác hơn là tha thứ. Dân chúng sợ hãi, gần như là hoảng loạn về mặt cảm xúc, vì cho rằng một số người có tội sẽ “thoát”. Nhưng sự kiện như thế chỉ tồn tại trong thế giới tri giác mà thôi, vì không người nào thoát khỏi nghiệp quả của những gì họ nói hoặc làm; do đó, chúng ta có thể tha thứ và để họ tự chịu trách nhiệm về nghiệp quả của mình.
Làm sao có thể tha thứ cho những hành động vi phạm sự thật một cách trắng trợn? Bằng cách nhận ra rằng bản ngã, khi không được tiết chế, sẽ nghiện cảm giác mình là người đúng, nghiện chiến thắng, và nó không có lựa chọn nào khác ngoài việc bóp méo sự thật. Như Socrates đã nói, mỗi người chỉ lựa chọn những gì họ tin là tốt trong thời điểm đó, và tốt trong bối cảnh đó là chiến thắng. Vì vậy, chúng ta tha thứ cho các chính trị gia vì đã nói dối trắng trợn, ngay cả khi tay họ đặt trên Kinh Thánh. Bóp méo sự kiện là bản chất của chính trị, và khôn ngoan là nên có thái độ thực tế chứ đừng tin vào mọi thứ bạn nghe chỉ vì nó xuất hiện trên bản tin hoặc trên chương trình truyền hình. Hiệu chỉnh tâm thức cho thấy 50% thông tin trên Internet là giả.
Bản ngã khao khát thái quá và ghét đạm bạc. Nếu không thể thắng, nó vẫn có thể rút ra được “nhựa sống” bằng cách đóng vai kẻ tử đạo hoặc người thua. Tuyệt vời nhất, và đứng đầu danh sách người được dân chúng yêu thích nhất, chính là trở thành nạn nhân. Bạn là nạn nhân chứ không chịu trách nhiệm. “Ai là người đáng trách?” Đây là câu hỏi đầu tiên mà người dẫn chương trình nói về sự kiện thảm khốc nào đó. Cầu Brooklyn sụp đổ, và họ hỏi, “Ai là người đáng trách?” Sự thù hận của bản ngã ngay lập tức tìm kiếm kẻ thủ ác, chỉ tay vào mặt nó, trả thù, trừng phạt và căm ghét nó. Đổ lỗi là trò chơi yêu thích của bản ngã. Nó thích đổ lỗi cho ai đó vì lúc này nó có thể vô tư căm ghét họ, tìm cách trả thù và trừng phạt họ bằng roi điện mặc dù chưa bao giờ có bằng chứng nào chứng tỏ tử hình ngăn ngừa được tội phạm.
Hấp dẫn | Ác cảm |
Xung đột | Hoà bình |
Quá khứ | Hiện tại |
Sợ | Chấp nhận hiện tượng hữu sinh hữu tử |
Biện minh | Chịu trách nhiệm giải trình |
Phủ nhận | Thừa nhận |
Không kiên nhẫn | Chờ đợi |
Bản ngã thích xung đột, không thích hòa bình. Người trải nghiệm phát triển mạnh nhờ xung đột. Nếu có khoảnh khắc hòa bình, người ta sẽ nói hoặc làm điều gì đó để vở kịch quay trở lại. Toàn bộ các khu vực đều nghiện xung đột. Ở Trung Đông, nếu có hòa bình trong một giai đoạn nào đó, thì những kẻ gây rối nhanh chóng tìm cách gây ra các cuộc bạo loạn để không có hòa bình nữa. Vì sao? Vì hòa bình thì họ không còn lý do tồn tại nữa. Mặt khác, chúng ta có những nhóm người như Bác sĩ Không Biên giới (điểm hiệu chỉnh 500) không đứng về phe nào. Nếu người bị thương tới, họ sẽ chữa cho người đó, và không hỏi người đó đứng về phe nào.
Bản ngã thích bám vào quá khứ và né tránh hiện tại. Nó thực sự bám vào sợ hãi, vì nó coi sợ hãi là nền tảng của sống còn. Nó không thấy rằng chỉ cần lập kế hoạch cho tương lai là đủ rồi, hoặc thận trọng là tất cả những việc cần làm trong khi xử lý hầu hết các tình huống, chẳng hạn như băng qua đường một cách an toàn. Tại sao phải run rẩy đứng trên vỉa hè vì sợ hãi?
Bản ngã luôn luôn tìm cách trốn tránh trách nhiệm và ghét phải có trách nhiệm giải trình. Vì vậy, nó thích phủ nhận chứ không thừa nhận sai lầm. Nó thiếu kiên nhẫn và ghét phải chờ đợi. Nó muốn có thứ mình muốn ngay lập tức. Với thái trung thực với chính mình, chúng ta nhận thức được từng hấp dẫn và ác cảm này đang hoạt động trong đời sống hàng ngày. Siêu việt các rào cản sẽ diễn ra một cách tự động nếu chúng ta sẵn sàng buông bỏ những phần thưởng mà mình nhận được từ nơi mình đang đứng hiện nay.
TỪ NHỤC NHÃ TỚI KIÊU HÃNH
Bên cạnh những sự hấp dẫn và ác cảm chung chung giữ cho bản ngã tiếp tục sống, còn có những sự hấp dẫn và ác cảm đặc thù ở từng tầng tâm thức giúp giữ nó ở vị trí cũ. Siêu việt tầng tâm thức sẽ tự động diễn ra khi từ bỏ hấp dẫn và chấp nhận ác cảm.
◆ Nhục nhã là hậu quả của việc phủ nhận thực tại của cả tự ngã lẫn Đại Ngã. Hấp dẫn là trừng phạt chính mình, phán xét chính mình, làm nhục chính mình, trở thành người tiêu cực, chán nản, nghiêm khắc và cứng nhắc, trốn tránh và cúi đầu. Ác cảm là tha thứ cho chính mình, sống đúng với con người mà mình đang là, khẳng định món quà cuộc đời, xác lập giá trị nội tại, tôn trọng chính mình, chăm sóc cơ thể và đón nhận khả năng đáng yêu bẩm sinh của mình.
◆ Mặc cảm tội lỗi và Thù hận bắt nguồn từ niềm vui thầm kín mà bản ngã nhận được từ thái độ tiêu cực. Buông bỏ mặc cảm tội lỗi và thù hận mang lại lợi ích cho tất cả các tầng của đời sống, vì những quan điểm này của bản ngã làm hại chính mình và người khác. Sự hấp dẫn nằm ở việc đổ lỗi cho kẻ gây ra tội lỗi (mình, người khác hoặc xã hội), nuông chiều kịch tính của việc sám hối (“áo vải thô và tro rắc lên đầu”), và thái độ kiêu hãnh kỳ lạ của quan điểm: “Hãy xem tôi tội lỗi đến mức nào!”—tất cả những việc này sẽ làm cho bạn bị mắc kẹt trong mặc cảm tội lỗi và căm ghét chính mình. Sám hối thường có tính nhất thời; phát triển tâm linh là trường kỳ. Ác cảm (của bản ngã) là khoan dung và từ bi đối với chính mình hay người khác; nó khước từ lòng thuơng xót của Thiên Chúa, khước từ buông bỏ là người “đúng”, và không sẵn sàng nhận trách nhiệm và thay đổi
◆ Thờ ơ thường đối trọng bởi “đức tin, hy vọng và từ thiện”. Lợi ích của việc giúp đỡ người khác được thể hiện rõ ràng trong toàn xã hội, dù đó là do lựa chọn, cảm hứng, hay thậm chí là sự cưỡng bách (phục vụ cộng đồng theo lệnh của tòa án). Hấp dẫn là than thân trách phận, tuyệt vọng và bất lực. “Lười biếng” là một “tội nặng” trong Kitô giáo vì nó phủ nhận món quà thiêng liêng của cuộc đời. Phần thưởng của bản ngã là tự coi mình là người không đáng để nỗ lực, là người thụ động chứ không chủ động, từ chối giúp đỡ và nói: “Tôi không thể. Tôi không có khả năng.” Đó là ác cảm đối với việc hành động, đối với việc cầu xin giúp đỡ, đối với việc thể hiện sự quan tâm đến đời sống, và đối với việc hòa nhập thay vì cô lập chính mình.
Thường thì chỉ cần chăm sóc mấy con vật nuôi cũng có thể là khởi đầu rất tốt. Chúng tôi thấy sự kiện này trong các chương trình huấn luyện chó dẫn đường rất thành công trong các nhóm tù nhân tái phạm nhiều lần, một số người thậm chí còn quyết định ở lại sau ngày mãn hạn tù để hoàn thành khóa huấn luyện với những chú chó mà người ta giao cho họ. Những bệnh nhân lớn tuổi rơi vào tình trạng thờ ơ trở nên phấn chấn hơn nếu viện dưỡng lão cung cấp chó cưng cho họ. Các công trình nghiên cứu trong giai đoạn hiện nay chỉ ra rằng chỉ cần có một con thú cưng cũng làm giảm mức độ trầm cảm và huyết áp cao, đồng thời có tác động tích cực đến sức khỏe tổng thể. Do đó, chăm sóc các thực thể sống khác có tác dụng trị liệu, được thể hiện trong việc những người nghiện rượu tuyệt vọng giúp đỡ những người mới, và những vận động viên chán nản vượt qua được thái độ bi quan bằng cách khích lệ các thành viên khác trong đội.
◆ U sầu bám vào quá khứ và từ chối tận hưởng cuộc sống trong hiện tại. Hấp dẫn nằm ở việc sống mãi trong quá khứ, được người khác thông cảm, thu được “nhựa sống” từ mất mát, tức giận mãi trước mất mát, cảm thấy trống rỗng và buồn bã. Ác cảm là nhìn thấy rằng hạnh phúc xuất phát từ bên trong chứ không phải ở bên ngoài; ác cảm với việc vượt qua mất mát và chấp nhận bằng cách xử lý cảm xúc; và ác cảm trước việc nhìn nhận sự hoàn hảo tổng thể của cuộc đời, trong đó có vô thường, thay đổi và cái chết thể xác như là sự kiện không thể nào tránh khỏi.
◆ Sợ hãi chính là sự nuông chiều hoảng loạn; kịch tính hóa và để cho cảm xúc chi phối quá mức trước những hiểm nguy có thật; và lo âu thái quá về những sự kiện thường nhật — như hẹn gặp nha sĩ định kỳ, gặp gỡ người mới, v.v. — những việc có thể làm tâm trí tê liệt và kết tinh thành đủ loại chứng ám ảnh sợ hãi. Sức hấp dẫn nằm ở phấn khích trước hiểm nguy, ở việc bị cảm xúc chi phối thái quá, bi kịch hóa, tự biến mình thành nạn nhân, rồi co rút lại và lẩn trốn trong niềm tin rằng nhỏ bé sẽ giúp bảo toàn mạng sống. Ác cảm trước việc có thái độ bình tĩnh, cầu nguyện, buông bỏ sợ hãi cũng như nhu cầu kiểm soát, đối mặt với phản đối, và thừa nhận rằng chẳng có gì “ở ngoài kia” có quyền năng tác động tới mình. Thận trọng khác với sợ hãi. Thận trọng là suy nghĩ thấu đáo về sự việc và lường trước các tình huống mà không để cảm xúc chi phối.
Vì Sợ hãi coi đời sống chỉ là vật chất, với sợ hãi tột cùng là cái chết của thân xác, chúng ta sử dụng kỹ thuật “Vậy thì sao?”. Nó hiệu quả với bất kỳ nỗi sợ hãi nào. Xin lấy ví dụ sợ rằng tôi sẽ mất xe. Vậy thì sao? Tôi sẽ không có phương tiện đi lại. Vậy thì sao? Tôi sẽ mất việc. Vậy thì sao? Không có công việc nào khác như thế nữa. Vậy thì sao? Tôi sẽ không có tiền. Vậy thì sao? Tôi sẽ nghèo. Được rồi, vậy bạn nghèo, rồi sau đó thì sao? Tôi sẽ chết đói. Ở dưới cùng của một loạt sợ hãi là chết. Do đó, quá trình này là “chết trước khi chết”, như đã được nói trong nhiều truyền thống tôn giáo. Nghĩa là, một khi bạn đối mặt với cái chết mà không thể nào tránh được, sợ hãi bị kìm nén về chết chóc sẽ không còn chi phối được bạn nữa. Không gì có thể làm cho bạn sợ hãi nữa. Sợ hãi là những sợ hãi chồng chất lên nhau thành đống lớn, và dưới đáy của nó là sợ cái chết thể xác. Một khi bạn đã chấp nhận chết chính cái thân xác này, thì hầu hết sợ hãi sẽ không còn.
◆ Ham muốn là trường năng lượng thực sự làm phiền hầu hết mọi người trong hầu hết các giai đoạn trong cuộc đời vì sức hấp dẫn của chiến thắng, của tiền bạc, giành quyền kiểm soát, được chấp thuận, có thành công, có danh tiếng, của cải, chinh phục, và tất nhiên, là người đúng. Người ta sẵn sàng chết vì điều đó. Người ta sẵn sàng chết hàng loạt chỉ để giữ cái danh “mình là người đúng”. Họ thà chết và là người đúng, còn hơn là người khiêm nhường và thừa nhận sai lầm. Đây là động lực của nghiện ngập sẽ đẩy bạn tới cái chết, không cho phép bạn từ bỏ chất mà bản ngã tin là nguồn gốc của trải nghiệm của nó. Trong lịch sử gần đây, hàng triệu người đã chết khi theo đuổi vọng tưởng nào đó, chứ không chịu thừa nhận đó là sai lầm. Kế hoạch kinh tế nông nghiệp của Chủ tịch Mao làm cho hàng triệu người chết đói. Việc đặt trọn niềm tin vào Chủ tịch Mao (điểm hiệu chỉnh 185) đã dẫn đến một trong những nạn đói lớn nhất trong lịch sử nhân loại. Sau đó, dường như chủ nghĩa Mác (điểm hiệu chỉnh 130) sẽ bị coi là một hệ tư tưởng có vấn đề. Thay vào đó, nó được chấp nhận và lan rộng hơn nữa trên khắp thế giới, và vì vậy, chúng ta thấy, do thái độ kiêu hãnh của bản ngã, người ta không thể học được gì từ lịch sử. Đây là ham muốn của bản ngã được là người đúng, được kiểm soát, được chấp thuận—tất cả đều quen thuộc và là một phần của cuộc sống thường nhật. Chúng ta sợ thất bại và sợ tỏ ra là người thụ động, là người yếu đuối, là người bình thường và nhàm chán. Sức hấp dẫn là thỏa mãn tức thì, được trở thành người đặc biệt và được mọi người chú ý. Chúng ta thấy những hành động cực đoan mà người ta làm để được chú ý; họ sẽ nói bất cứ điều gì, dù vô lý đến mức nào, miễn là họ được lên truyền hình. Ác cảm với chờ đợi, với việc trở thành “không là ai”.
◆ Tức giận hiển nhiên là phòng thủ, như đã thấy trong thế giới động vật. Sức hấp dẫn nằm ở cảm giác bành trướng và mạnh mẽ hơn con người mà bạn đang là. Con vật trong bạn sợ tỏ ra là yếu đuối, vì vậy nó gầm gừ, nhe răng và tìm cách giành chiến thắng bằng hăm dọa. Ác cảm là trở thành người bình tĩnh, an bình, nhượng bộ và buông bỏ. Nó không muốn thấy “kẻ xấu” được tự do. Nó muốn trả thù và chế giễu lời dạy của Đức Phật, nói rằng không phải lo lắng về việc trả thù kẻ làm hại mình, vì họ sẽ tự hủy hoại chính mình. Với hiệu chỉnh tâm thức, chúng tôi đã nhiều lần khẳng định chân lý của giáo lý này.
◆ Kiêu hãnh như là ngạo mạn tâm linh rất khác với tự trọng – do nỗ lực mà ra, và do đó, nó không phải là bản ngã bị phồng lên. Kiêu hãnh là phóng chiếu, giúp bạn có địa vị, được chú ý và tạo điều kiện để bạn trở thành người vượt trội. Đó là sự phù phiếm của suy nghĩ, tư duy, khái niệm, niềm tin, hệ tư tưởng và quan điểm. Sức hấp dẫn nằm ở chỗ “Tôi biết,” cảm giác là người vượt trội, người đặc biệt, người được lựa chọn và là người trong giới tinh hoa. Vị thế cao hơn về đạo đức là vượt trội về đạo đức, có điểm hiệu chỉnh 190, dù xuất phát từ hệ thống niềm tin “tả” hay “hữu”. Nếu bạn “phải đạo về mặt chính trị,” thì bạn đứng cao hơn những người bình thường “không phải đạo.” Thái độ kiêu hãnh kiểu này là sự đảo ngược đầy nghịch lý của chủ nghĩa bình đẳng (quan điểm cho rằng mọi người đều có giá trị như nhau) vì nó tuyên bố rằng: “Chúng tôi tốt hơn những người khác vì chúng tôi là những người bình đẳng hơn những người khác”. Ác cảm đối với “Tôi không biết”, ác cảm với khiêm nhường và là người bình thường. Nhưng ác cảm lớn nhất của nó chính là thừa nhận rằng mình là người “sai”.
Thay vì kiêu hãnh từ chối thừa nhận sai lầm, chúng ta có thể chấp nhận rằng đời sống con người là quá trình khám phá. Nếu những gì chúng ta đang chứng kiến là quá trình tiến hóa của tâm thức, trong đó sáng tạo đang diễn ra theo lối tự phát, thì những gì chúng ta coi là sai lầm thực chất lại là thành công, vì nó thể hiện kết quả của sai lầm mà sau đó có thể được sửa chữa. Nếu hàng triệu người chết đói vì hệ thống niềm tin Marsixt, thì đấy chính là minh chứng hiển nhiên rằng nó là sai, giúp người ta phân biệt và nắm được sự thật.
Đó là lý do vì sao chúng ta không thể dự đoán được tương lai. Tương lai chưa được tạo ra, vì tất cả chúng ta đều có đóng góp - thông qua quá trình tiến hóa của tâm thức – trong từng khoảnh khắc, khi chúng ta nói “có” với một số lựa chọn và nói “không” với những lựa chọn khác. Chúng ta không thể dự đoán tương lai, vì nó chưa có thực tại. Nó chỉ là tiềm năng đang chờ được hiện thực hóa bằng ý định và lựa chọn. Nếu chúng ta có thể dự đoán được tương lai, thì sẽ khẳng định rằng mọi thứ đã được an bài. Nếu định mệnh là quy luật của vũ trụ, thì đời sống của chúng ta sẽ không có giá trị; chúng ta sẽ chỉ là những cái máy tự động.
TỪ CAN ĐẢM TỚI MÊ LY
Tầng | Cám dỗ |
Can đảm | Bốc đồng, phô trương nam tính, liều lĩnh |
Trung dung | Thờ ơ, xa lánh |
Sẵn sàng | Cam kết quá mức, can thiệp quá sâu |
Chấp nhận | Thiếu hành động phù hợp |
Lý trí | Trí thức hóa, kẹt trong nguyên nhân - kết quả |
Tình yêu | Quyến rũ, bóc lột, nhầm lẫn với sở hữu cá nhân |
Vui vẻ/mê ly | Phán đoán kém |
◆ Can đảm có động lực, có sức mạnh đích thực và nghị lực để vượt qua trở ngại, đối mặt với thử thách và giải quyết chúng với thái độ kiên cường và quyết tâm. Trên thực tế, thử thách phổ biến nhất đối với can đảm là lo lắng, nghi ngờ chính mình và sợ thất bại. Sợ thất bại giảm bớt khi nhận ra rằng bạn chỉ chịu trách nhiệm về ý định và nỗ lực chứ không chịu trách nhiệm về kết quả, kết quả phụ thuộc vào nhiều điều kiện và yếu tố khác, không mang tính cá nhân. Cám dỗ liều lĩnh khi đối mặt với sợ hãi, và hành động mạo hiểm theo lối nam tính, xuất phát từ tự tin và được trao quyền.
◆ Trung dung tạo điều kiện cho thái độ mềm dẻo và đánh giá vấn đề một cách thực tế, mà không phán xét. Trung dung có nghĩa là tương đối không chấp trước vào kết quả. Cám dỗ là trở thành người thờ ơ và chống lại việc trở thành người đóng góp tích cực và thân thiện cho đời sống; thân thiện là ấm áp và kết nối, mở ra cánh cửa cho tình yêu.
◆ Sẵn sàng là một thái độ vui vẻ, có ích và tự nguyện trong việc nhiệt tình đáp ứng nhu cầu của người khác một cách nhân ái, cùng có lợi và tử tế, phù hợp với Quy tắc Vàng: “Hãy đối xử với người khác như cách bạn muốn họ đối xử với mình”. Hạn chế của tầng này là cho rằng chính nỗ lực và cá tính của mình là nguyên nhân, trong khi trên thực tế, quá trình phát triển và thành công của bạn là do sự tỏa sáng của Đại Ngã. Do đó, cám dỗ là lao vào quá nhiều việc nhằm giúp đỡ người khác vì bạn tin rằng chính mình là nguồn gốc của cải tiến.
◆ Chấp nhận sống hài hòa với các quy luật của cuộc đời và cho phép tham gia vào đời sống theo đúng bản chất của nó, mà không cố gắng ép buộc nó phù hợp với bất kỳ chương trình nghị sự nào. Năng lượng này là vô hại, vì nó không phán xét, kiểm soát, thay đổi hay thống trị người khác, và nó không có mục đích “cứu thế giới” hay lên án vô số biểu hiện của nó. Cám dỗ là không hành động thích hợp khi tình huống đòi hỏi hành động—ví dụ, thiếu chính trực ở nơi làm việc hoặc các lĩnh vực khác trong đời sống đòi hỏi sáng suốt và đứng lên bảo vệ sự thật.
◆ Lý trí là tầng của khoa học; y học; thần học; và nói chung là năng lực tăng lên về lý tính, khái niệm hóa và hiểu biết. Do đó, kiến thức và giáo dục được đánh giá cao. Ở tầng này, rất dễ thấy cây mà không thấy rừng; dễ bị mê hoặc bởi các khái niệm, ý tưởng, kiếnthức và lý thuyết; và cuối cùng bỏ lỡ điểm mấu chốt. Cám dỗ là đồng nhất mình với tâm trí, và trí thức hóa trở thành mục đích tự thân. Biết “về” một cái gì đó không phải “là” cái đó.
◆ Tình yêu không xuất phát từ tâm trí; nó tỏa ra từ trái tim. Là coi tha thứ, nuôi dưỡng và hỗ trợ như là cách sống trên thế gian này. Tình yêu mở rộng cảm thức về chính mình và lan tỏa hiệu ứng nâng cao tinh thần đến người khác. Cám dỗ ở đây là coi năng lượng của Tình yêu xuất phát chính bản thân mình chứ không phải từ Thần tính, và thông qua quá trình cá nhân hóa như thế, ta tự nhận công lao của những tác động mà trường năng lượng đó tạo ra. Nguy hiểm nằm ở chỗ ta vô tình bị mê hoặc bởi những lời tán dương và phóng chiếu từ người khác.
◆ Niềm vui/Mê ly là những trạng thái ở tầng từ 550 trở lên, trong đó sự hoàn hảo bẩm sinh và vẻ đẹp tuyệt vời của tất cả những gì tồn tại đều tỏa sáng như một luồng sáng rực rỡ. Về mặt chủ quan, dòng chảy của năng lượng tâm linh được cảm nhận như là sự ngọt ngào thanh khiết lan tỏa khắp cơ thể; và nguồn năng lượng này có khả năng hỗ trợ chữa lành màu nhiệm cho người khác, nếu nó phù hợp với nghiệp quả của họ. Vì mọi người đều được nhìn thấy trong sự hoàn hảo và đáng yêu bẩm sinh sâu thẳm nhất của họ, mặt trái là phán đoán kém khi chỉ nhìn thấy những điều tốt đẹp nhất ở mọi người và những đề xuất của họ; do đó, việc có một người bạn đồng hành đáng tin cậy để làm người canh gác là rất hữu ích.
CON ĐƯỜNG BUÔNG BỎ
Cuối cùng, siêu việt các tầng tâm thức xảy ra bằng cách buông bỏ. Thay vì cố gắng ép buộc thay đổi trong chính mình, việc duy nhất cần làm là cho phép Thần Tính làm điều đó bằng cách buông bỏ sâu sắc mọi kiểm soát, kháng cự và vọng tưởng về được hay mất. Không cần phải phá hủy hay tấn công vọng tưởng mà chỉ cần để cho chúng tan rã khi các “phần thưởng” được buông bỏ. Không cần hoặc sử dụng bạo lực bằng các cơ chế như mặc cảm tội lỗi là không hiệu quả, cũng không cần phải cố gắng theo đuổi hay thúc đẩy quá trình tiến hóa tâm linh, vì nó tự động tiến hóa theo cách riêng của mình khi những trở ngại và kháng cự của vọng tưởng được buông bỏ.
Sức mạnh đích thực của Sự Thật là phẩm chất của Tình Yêu Thần Thánh – trong sự thương xót vô biên của nó - làm tan rã các lập trường, đưa chúng trở về với Thực Tại của Đại Ngã. Việc cần làm là chấp nhận rằng thời điểm là do Đại Ngã, chứ không phải tự ngã, vì chỉ có Đại Ngã mới có khả năng kết hợp các phẩm chất nghiệp chướng mà ta chưa biết. Do đó, chúng ta buông bỏ quan điểm của mình về cách thế giới “nên” như thế nào. Chúa Jesus, Đức Phật, và tất cả bậc thầy vĩ đại đều nói rằng thế giới hoàn hảo như nó đang là—vì sự đa dạng phong phú của các lựa chọn - từ tàn bạo đến thánh thiện - mang lại cơ hội tối đa cho quá trình tiến hóa tâm linh của tất cả mọi người.
Trường tâm thức vô biên và phi tuyến tính không chỉ hiện diện khắp nơi, và toàn tri mà còn toàn năng. Linh hồn được nâng lên là hệ quả của bản chất mà nó đã trở thành bằng sự chấp thuận của chính ý chí tự do của nó. Tâm từ bi dành cho tự ngã là thuộc tính của Đại Ngã. Vì vậy, kháng cự lớn cuối cùng cần được buông bỏ chính là kháng cự lại Tình Yêu luôn hiện hữu của Thiên Chúa.
[i] Holy Spirit – thường được dịch là Chúa Thánh Thần hoặc Thánh Linh – là một khái niệm trung tâm trong thần học Kitô giáo, nhưng đồng thời cũng mang chiều sâu huyền nhiệm vượt khỏi khuôn khổ tín lý thuần túy. Holy Spirit (Chúa Thánh Thần): Không phải một hình tướng để tin, mà là sự Hiện diện để trực nhận. Là tiếng nói rất khẽ trong tâm, luôn nghiêng về phía yêu thương thay vì sợ hãi. Khi ta lắng lại khỏi cái tôi, điều còn lại chính là Thánh Thần —ánh sáng dịu dàng nhắc ta nhớ mình chưa từng tách khỏi Thiên Chúa..
[ii] Grace - Ân phước: Không phải phần thưởng cho người xứng đáng, mà là dòng yêu thương vốn luôn tuôn chảy. Ân phước không đến khi ta làm đủ điều, mà hiển lộ khi ta thôi kháng cự và mở lòng đón nhận. Đó là sự ban tặng vô điều kiện của Thiên Chúa —dịu dàng, lặng lẽ, và luôn có sẵn.
[iii] Divine Justice - Công lý Thiêng liêng - Sự vận hành hoàn hảo của Chân lý và Tình yêu, qua đó mọi điều sai lạc tự tan biến và mọi sự được đưa trở về trật tự nguyên thủy của Thượng Đế.
[iv] The Divine: Thực Tại Thiêng liêng tối hậu — Nguồn cội vô hình của mọi hiện hữu; vượt ngoài tư duy và hình tướng, được trực nhận trong tĩnh lặng và hợp nhất. 1. Divine (tính từ – thiêng liêng / thuộc về Thần tính): Chỉ phẩm tính xuất phát từ Thiên Chúa — trong sáng, toàn hảo, vô điều kiện. Khi một điều gì được gọi là “divine”, điều ấy phản chiếu bản chất vượt khỏi cái tôi và sợ hãi. 2. The Divine (danh xưng – Thực Tại Thiêng liêng / Thần tính Tối hậu): Không phải một hữu thể giữa các hữu thể, mà là Nguồn cội vô hình của mọi hiện hữu. Không hình tướng nhưng hiện diện trong mọi hình tướng. Không thể nắm bắt bằng tư duy, chỉ có thể được trực nhận trong tĩnh lặng và hợp nhất.
GIẢI MÃ BẢN ĐỒ TÂM THỨC
David R. Hawkins, M. D., Ph. D.
Phạm Nguyên Trường dịch
Chương 8
SỰ THẬT TÂM LINH, ĐẠO SƯ VÀ GIÁO LÝ
Phó thác sẽ dễ dàng hơn khi tính chính trực của giáo lý hoặc của đạo sư được xác minh. Quá trình hiệu chỉnh tâm thức chắt lọc và xác minh sự thật tâm linh ở bản chất cốt lõi của nó và xác định các đặc điểm của các đạo sư và giáo lý chính trực. Phải được xác minh là đáng tin trước khi bạn giao phó linh hồn mình. Danh sách bên dưới có vai trò là tiêu chuẩn về tính chính trực tâm linh.
40 ĐẶC ĐIỂM CỦA CÁC ĐẠO SƯ VÀ GIÁO LÝ
1. Tính phổ quát: Sự thật là sự thật mọi lúc mọi nơi, không phụ thuộc vào văn hóa, cá tính hay hoàn cảnh.
2. Bao gồm tất cả: Sự thật bao gồm tất cả, không có bí mật và không thuộc về giáo phái nào.
3. Có sẵn: Dành cho tất cả mọi người, không độc quyền. Không có bí mật nào cần phải tiết lộ, che giấu hoặc bán, và không có công thức ma thuật hay “bí ẩn” nào.
4. Mục đích chính trực: Không có gì để được hay mất.
5. Không giáo phái: Sự thật không phải là sự trình bày giới hạn.
6. Độc lập về quan điểm: Sự thật là phi tuyến tính và không bị giới hạn bởi trí năng hay hình tướng.
7. Không lập trường: Sự thật không “chống” bất cứ điều gì. Giả dối và ngu dốt không phải là kẻ thù của sự thật, mà chỉ là thể hiện trạng thái không có sự thật.
8. Không yêu cầu hoặc đòi hỏi: Không có yêu cầu về tư cách thành viên, phí, quy định, lời thề, quy tắc hoặc điều kiện.
9. Không kiểm soát: Sự trong sạch tâm linh không quan tâm đến đời sống cá nhân hay quần áo, trang phục, phong cách, đời sống tình dục, kinh tế, gia đình, lối sống hoặc thói quen ăn uống của những người tầm đạo.
10. Không dùng vũ lực hoặc đe dọa: Không tẩy não, không nịnh bợ các nhà lãnh đạo, không có nghi lễ đào tạo, không nhồi sọ hay xâm phạm đời tư.
11. Không ràng buộc: Không có quy định, luật lệ, sắc lệnh, hợp đồng hoặc cam kết.
12. Tự do: Người tham gia được tự do đến và đi, không ai thuyết phục, ép buộc, đe dọa hoặc gây hậu quả gì cho họ. Không có thứ bậc; thay vào đó, có sự tự nguyện hoàn thành các nhu cầu và nhiệm vụ thiết thực.
13. Điểm chung: Được công nhận là vì con người mà một người nào đó đã trở thành chứ không phải vì các danh hiệu, tước vị mà người đó được gán cho.
14. Truyền cảm hứng: Sự thật thường tránh xa vẻ hào nhoáng, quyến rũ và mầu mè.
15. Phi vật chất: Sự thật không cần của cải, danh vọng, phô trương hay nhà to cửa rộng của thế gian.
16. Viên mãn: Sự thật đã là toàn bộ và trọn vẹn, không cần phải cải đạo hoặc thu hút tín đồ, đệ tử hay “đăng ký thành viên”.
17. Không dính chấp: Không can dự vào các vấn đề của thế gian.
18. Nhân từ: Sự thật là quá trình tăng dần từng bước một. Sự thật không có “đối lập” và do đó không có “kẻ thù” để kết tội hay chống đối.
19. Không cố ý: Sự thật không can thiệp, cũng không có chương trình nghị sự để đề xuất, áp đặt hoặc ban hành.
20. Bất nhị: Tất cả diễn ra là do thiên hướng bên trong (nghiệp), diễn ra bên trong trường mà nhờ đó tiềm năng hiển lộ thành hiện thực, chứ không phải do “nhân” và “quả”.
21. Tĩnh lặng và An bình: Không có “vấn đề” hoặc thiên kiến. Không có mong muốn thay đổi người khác hoặc áp đặt lên xã hội. Ảnh hưởng của năng lượng cao hơn là bẩm sinh và không phụ thuộc vào sự truyền bá hay nỗ lực. Chúa không cần giúp đỡ, cũng như lực hấp dẫn không cần sự “giúp đỡ” của quả táo rơi khỏi cành cây.
22. Bình đẳng: Bình đẳng được thể hiện trong sự tôn trọng tất cả sự sống trong tất cả các biểu hiện của nó và chỉ tránh những gì có hại chứ không đối đầu với nó.
23. Phi thời gian: Cuộc sống được nhận thức là vĩnh cửu và cơ thể là giả tạm. Sự sống không bao giờ chết.
24. Không thể chứng minh: Cái “có thể chứng minh” là tuyến tính, có giới hạn và là sản phẩm của tri thức hóa và tư duy. Thực tại không cần người ta đồng ý. Thực tại không phải là cái giành được, mà thay vào đó, là nhận thức chủ quan, hoàn toàn tự phát khi người ta hoàn toàn buông bỏ những lập trường của bản ngã nhị nguyên.
25. Thần bí: Nguồn gốc của sự thật là sự tỏa sáng và soi sáng tự phát, đó là Mặc khải thay thế cho vọng tưởng về một cá nhân, bản ngã và tâm trí riêng biệt của nó.
26. Bất khả thuyết: Sự thật là không thể định nghĩa. Tính chủ quan triệt để thuộc về trải nghiệm. Đó là hoàn cảnh mới thay thế cho hoàn cảnh cũ. Với sự kiện này, bối cảnh thay thế cho nội dung, không phải tạm thời mà vượt thời gian. Thực tại không tồn tại trong thời gian, cũng không là một phần của nó, hoặc ở bên trên hay bên ngoài nó, và nó không có mối quan hệ nào với những điều mà tâm trí bịa tạc ra. Do đó, nó vượt lên tất cả các danh từ, tính từ hoặc động từ.
27. Đơn giản: Người đó nhìn thấy vẻ đẹp nội tại và sự hoàn hảo của tất cả những gì tồn tại, vượt trên biểu hiện bên ngoài và hình tướng.
28. Khẳng định: Sự thật vượt trên mọi quan điểm hay khả năng chứng minh. Sự xác nhận hoàn toàn là do nhận thức chủ quan của nó; tuy nhiên, nó có thể được xác định bằng các kỹ thuật hiệu chỉnh tâm thức.
29. Không làm: Sự thật không “làm” gì hay “là nguyên nhân” của bất cứ thứ gì; nó là tất cả.
30. Mời gọi: Trái ngược với quảng cáo hay thuyết phục.
31. Không dự đoán: Bởi vì Thực tại là phi tuyến tính, nó không thể bị địa phương hóa hoặc mã hóa trong những giới hạn của hình tướng, chẳng hạn như những thông điệp bí mật, mã, số và chữ khắc, hoặc ẩn trong những dấu tích bí hiểm, đá, kích thước của kim tự tháp, ADN hoặc lông mũi của lạc đà. Sự thật không có bí mật. Thực Tại của Thiên Chúa có mặt khắp mọi nơi và vượt ra ngoài sự hệ thống hóa hoặc tính độc quyền. Mật mã thể hiện trí tưởng tượng của con người chứ không phải sự thất thường của Thần Tính.
32. Không đa cảm: Đa cảm dựa trên tri giác. Từ bi là kết quả của việc phân biệt được sự thật.
33. Không độc đoán: Không có luật lệ hay mệnh lệnh nào phải tuân theo.
34. Vô vị kỷ: Đạo sư được tôn trọng nhưng từ chối những lời nịnh bợ hoặc ưu đãi dành cho cá nhân mình.
35. Có tính giáo dục: Cung cấp thông tin dưới nhiều dạng thức khác nhau và đảm bảo tính khả thi.
36. Tự lập: Không hám lợi, không ham vật chất.
37. Độc lập: Trọn vẹn mà không phụ thuộc vào uy quyền bên ngoài hay trong lịch sử.
38. Tự nhiên: Không có những trạng thái tâm thức bị biến đổi, bị nhồi nhét hoặc thao túng bằng các phương tiện nhân tạo (nghĩa là không phụ thuộc vào hình tướng).
39. Trọn vẹn: Không bóc lột hay thu lợi.
40. Phi bạo lực: Không ép buộc, nhân từ, không đe doạ.
Sự thật tâm linh là phổ quát. Các nhà huyền môn đã chứng ngộ, các vị thánh, các giác giả và các Thánh Thần Giáng Thế xuất hiện trong suốt chiều dài của lịch sử, trong tất cả các tôn giáo và nền văn hóa khác nhau, nằm ở những phía khác nhau của quả địa cầu và qua nhiều thế kỷ đều giảng dạy cùng một sự thật cốt lõi. Không một người, một tôn giáo hay nhóm người nào là chủ sở hữu duy nhất hoặc là người duy nhất truyền bá sự thật. Sự thật luôn luôn đúng ở mọi thời điểm và mọi nơi, không phụ thuộc vào văn hóa, phong tục, quan điểm, tính cách hay hoàn cảnh.
Đạo sư chân chính không tự nhận mình là người đặc biệt mà chỉ hướng dẫn người tìm kiếm nhận ra cùng một sự thật từ bên trong. Người ta nói rằng Đại Ngã của đệ tử cũng là Đại Ngã của sư phụ, trạng thái tự chứng ngộ của đạo sư giúp kích hoạt sự thức tỉnh bên trong của đệ tử. Các đạo sư chân chính khiêm tốn thừa nhận rằng trạng thái thiêng liêng là món quà của Ân Phước và do đó không cung cấp các giáo lý tâm linh với giá cao hơn chi phí cần thiết cho quá trình truyền bá.
Các đạo sư và tổ chức tâm linh chính trực không quan tâm tới việc kiểm soát đời sống cá nhân của đệ tử, không quan tâm tới quảng bá, hay thu hút đệ tử hoặc làm cho mọi người cảm thấy vui vẻ bằng những buổi trình diễn mang tính sân khấu. Tính chính trực của họ buộc họ phải chia sẻ món quà Chứng ngộ, cùng với những khả năng độc đáo mà họ được ban tặng và trao cho, nhưng họ không chấp trước vào phản hồi của người nghe; nghe hay không, thực hành hay không là tuỳ tâm. Người ta tự do đến và đi tuỳ theo ý mình.
Đáng chú ý là tâm linh thuần khiết không có yêu cầu, nghĩa vụ, sự phụ thuộc, ràng buộc, hoặc bằng chứng nào khác về sự đặc biệt, cũng như không có kiểm soát, chẳng hạn như lời thề, cam kết về mặt tài chính, hoặc đăng ký thành viên của các lớp học hoặc “khóa huấn luyện”. Cam kết là cam kết với cốt lõi của chính chân lý, chứ không phải cam kết với cá nhân ông thầy, và tâm linh thuần khiết không bị cám dỗ bởi cố gắng thuyết phục hay bí mật. Tất cả những gì cần thiết chỉ là sự tò mò và một sức hút hướng về sự thật —sự thật vốn đã trọn vẹn, toàn diện và tự đầy đủ.
Các đạo sư, giáo lý, hoặc nhóm được coi là hấp dẫn hoặc có ý nghĩa phụ thuộc vào khuynh hướng nghiệp lực và sự tiến hóa của người tìm kiếm tâm linh tại thời điểm đó. Các đạo sư và giáo lý khác nhau sẽ thu hút những người tìm kiếm khác nhau và phù hợp với những nhiệm vụ khác nhau trong cuộc đời. Điều tốt nhất cho người này hoặc tình huống này có thể không phải là tốt nhất cho người khác hoặc tình huống khác. Chỉ vì giáo lý có điểm 600 hoặc cao hơn không có nghĩa là nó phù hợp nhất hoặc hữu ích nhất; quan trọng là giáo lý hoặc ông thày có điểm hiệu chỉnh trên 200, tức là bên trên tầng chính trực.
GIÁO DỤC TÂM LINH
Phúc cho người tầm đạo nào đã không để những lôi cuốn của số đông và các thú tiêu khiển làm cho mình rẽ khỏi con đường thẳng và hẹp của chân lý tâm linh. Nhiều người dành cả đời để tìm kiếm những giáo lý đích thực và bị lạc lối bởi sức cám dỗ của những điều lệch lạc đầy hấp dẫn, được tô vẽ hào nhoáng, xa rời sự thật. Những lệch lạc này hóa ra chỉ là những ảo tưởng hư cấu hoặc lãng mạn hóa, thu hút đứa trẻ bên trong của những người ngây thơ. Rất nhiểu những câu chuyện cổ tích tâm linh và gây ấn tượng với những người cả tin, đối với họ bất cứ điều gì được dán nhãn “tâm linh” đều thấm đẫm sức quyến rũ kỳ diệu. Việc trải qua giai đoạn đó là điều bình thường trong quá trình khám phá và nhiệt tình ban đầu, khi ta còn chưa đủ tỉnh thức.
Vấn đề chính ban đầu là chưa có đủ nhận thức về sự khác biệt giữa thực tại tâm linh đích thực và các lĩnh vực huyền bí, siêu nhiên hoặc thần bí. Đối với người ngây thơ, siêu nhiên hoặc thần bí dường như là tuyệt vời và rất ấn tượng. Một buổi xem bói hay ngoại cảm “trúng phóc” thực sự gây ấn tượng mạnh với một người mới bắt đầu. Đa số các cuốn sách bán chạy nhất được cho là sách tâm linh thực chất đều là hư cấu, và mức độ chân thực trung bình của chúng chỉ ở tầng 190, cũng như các tạp chí “tâm linh” bóng bẩy tô vẽ những vọng tưởng sai lầm về “các chiều không gian khác”, v.v. Ngược đời là chúng thu hút những người tìm kiếm ngây thơ chưa làm chủ được chiều không gian này, chứ đừng nói đến những chiều không gian kỳ ảo khác.
Những “quyền năng” huyền bí đích thực không được đem ra trưng bày, càng không được quảng bá hay bán với giá cao. Những thứ bắt chước cái thật là đánh lạc hướng, làm người ta lạc lối và lừa được nhiều đệ tử tâm linh ngây thơ và thậm chí cả các nhánh của các tôn giáo lớn (Tantric sex[i] và những thứ tương tự). Các phương tiện nhân tạo làm cho bản ngã phồng lên, nó được thể hiện qua việc người ta bị thu hút bởi sự đặc biệt và vẻ hào nhoáng của những thứ độc đáo và khác thường. Ngay cả khi được trau dồi thông qua huấn luyện, những hiện tượng như vậy chỉ đơn thuần là những kỹ năng mà người ta thủ đặc được, được tìm kiếm vì chính chúng và là sự phù phiếm về mặt tâm linh, bằng chứng là sự phô trương và quảng bá.
Trong khi những món quả của Thiên Chúa có thể bị bắt chước, thì sự giả mạo không phải là chân chính. Có thể xác định bằng cách hiệu chỉnh tâm thức. Các công năng đặc dị chân chính (ví dụ, thấu thị, thiên nhĩ thông, túc mệmh thông, thần giao cách cảm, và những khả năng tương tự) bắt đầu xuất hiện ở tầng có điểm hiệu chỉnh 540 và trở thành chiếm ưu thế trong phạm vi tầng 570. Những vụ bắt chước được quảng bá có điểm hiệu chỉnh từ 155 đến thấp hơn những tầng 400. Đáng chú ý là không có thánh thần giáng thế hay đạo sư vĩ đại nào từng khuyên tìm kiếm những hiện tượng siêu nhiên, vì chúng tự xuất hiện, là do Ý Chí Thiêng Liêng.
Những phép chữa lành kỳ diệu và các hiện tượng khác xuất hiện một cách tự phát và không có chủ ý trong các trướng có điểm hiệu chỉnh từ 540 trở lên. Quan trọng cần lưu ý là không có “người chữa lành” hay “người làm” những phép lạ như vậy; chúng xuất hiện một cách tự phát từ trường phi cá nhân như là hệ quả của khuynh hướng nghiệp báo và điều kiện khu vực. Rất dễ nhận ra những vụ bắt chước phép lạ, vì chúng nhấn mạnh vào nhân cách của người được gọi là vị thầy chữa lành.
Đứa trẻ ngây thơ bên trong người tìm kiếm dễ bị mê hoặc bởi những vụ bắt chước cái thật. Tốt nhất là nên cảnh giác với các phương pháp tuyến tính hứa hẹn tiếp cận các trạng thái phi tuyến tính, chẳng hạn như các trạng thái tâm thức bị thay đổi bằng những biện pháp nhân tạo, trang phục đặc biệt, chế độ ăn kiêng kỳ quặc và những thực hành nghiêm ngặt khác; kỹ thuật thao túng năng lượng; các chương trình và hội thảo để chứng ngộ ngay lập tức hoặc có quyền năng tâm linh (thường phải trả phí); giữ các tư thế kỳ lạ trong thời gian dài; máu và các chất làm sạch cơ thể khác, các phương pháp thanh lọc kỳ quặc, hoặc các bài tập thở; .v.v.. Các trạng thái bị thay đổi chẳng khác gì các trạng thái thần thánh. Ví dụ, luyện tập sóng Alpha có tác dụng trị liệu nhưng không phải là trạng thái tâm linh.
Có vô số cõi và vũ trụ trung giới, mỗi cõi đều có các đạo sư, các ông thầy, hệ thống cấp bậc tâm linh và hệ thống tín ngưỡng riêng. Nhiều điều khá thú vị. Người thiếu cảnh giác có thể dễ dàng bị mắc bẫy bởi những học thuyết hấp dẫn và bí truyền này; tuy nhiên, người tìm kiếm Chứng ngộ nhớ rằng không thể vươn tới trạng thái tối thượng bằng các tầng của hình tướng. Tất cả sự thật đều nằm bên trong và có thể tiếp cận bằng những phương tiện thông thường, không cần thầy lang, người trung gian, nhà ngoại cảm, thuật số học hay một thực thể làm kênh dẫn.
KIẾN CHÂN TÍNH VÀ TRẠNG THÁI CHỨNG NGỘ CỦA CÁC NHÀ HUYỀN MÔN
Các đạo sư và giáo lý vĩ đại thực sự tỏa sáng từ những trạng thái tâm thức ở tầng 600 trở lên. Trong lịch sử tôn giáo, nhà huyền môn vừa được tôn kính vừa bị bức hại. Quyền năng của nhà huyền môn bắt nguồn từ Sự Hiện Diện, từ “Tôi” Thiêng Liêng của Đại Ngã. Bị coi là phạm thượng bởi các tôn giáo độc đoán, những tôn giáo mà niềm tin chỉ hạn cuộc vào một Thiên Chúa siêu việt; vì vậy, các nhà huyền môn đã bị các nhà chức trách tôn giáo xét xử như những kẻ dị giáo, bị bỏ tù, bị rút phép thông công, bị thiêu sống, bị chặt đầu, hoặc thậm chí bị đóng đinh trên thập giá. Hầu hết các nhà huyền môn đều rút khỏi xã hội. Một số người, nhờ nỗ lực lớn lao, trở lại thế gian nhưng giữ im lặng về trạng thái bên trong của mình. Một vài nhà huyền môn được ban cho khả năng viết và giảng dạy về trạng thái hiếm hoi nằm ngoài nhị nguyên của bản ngã và sự đồng nhất của nó với hình tướng.
Trạng thái của nhà huyền môn không phải là một “thành tích”. Nó thậm chí không phải là một con người, mặc dù chúng ta thường gọi nhà huyền môn là một con người. Đó là trạng thái tâm thức vượt ra ngoài nhân cách, vì trong trạng thái đó, không còn tồn tại “tôi” nữa. Nhà huyền môn hiếm khi sử dụng đại từ nhân xưng ở ngôi thứ nhất, và chỉ sử dụng để giúp đỡ những người không thể hiểu được ngôn ngữ mà không có đại từ nhân xưng. Người bình thường nói: “Hôm qua tôi bị mắc mưa.” Nhà huyền môn nói: “Hôm qua trời mưa.”
Có một sự tách biệt, vì người đó mô tả các hiện tượng từ quan điểm của người chứng kiến. Người chứng kiến quan sát và sau đó báo cáo lại những quan sát mà không đưa ra phán xét hay đánh giá về cái mà ngươi đó đã quan sát được. Tương tự, không gian trong một căn phòng không có ý kiến gì về việc đồ đạc đặt ở đâu hay điều gì xảy ra bên trong nó. Người chứng kiến lặng lẽ quan sát mọi thứ trong trạng thái tĩnh lặng và bình yên.
Trong trạng thái đó, khi đi bộ trong rừng, người đó nhận thức được rằng cây cối cũng có nhận thức. Tất cả sự sống đang tỏa sáng, tôn thờ sự hiện diện của Thần tính và rất ý thức và nhận biết về điều đó. Vũ trụ có ý thức. Cây cối nhận thức một cách sống động rằng nó đang hiện diện trong sự hiện diện của Thần tính. Vì bản chất của nó, vì cội nguồn sự sáng tạo ra nó, cũng chính là cội nguồn của sự sáng tạo ra chính người đó, cây biết chính mình, vì đời sống tôn kính đời sống.
Về mặt kỹ thuật, trạng thái này bắt đầu ở tầng 600, trạng thái An Bình vô biên. Trong tiếng Phạn, nó được gọi là Satchitananda. Các trạng thái trước đó là Tình Yêu, Niềm Vui và Mê Ly. Khi một người buông bỏ mọi sự ràng buộc với những trạng thái này, vốn đã rất tuyệt vời, sẽ xuất hiện trạng thái an bình vô biên, phi thời gian, toả sáng, tĩnh lặng và trọn vẹn. An Bình (tầng 600) là trạng thái mặc khải, bao trùm tất cả và hoàn toàn nội tại, vì nó bắt nguồn từ bên trong. Nó bất động, như bản thể của Thần tính đang tự khai mở thành hiển lộ và tuôn chảy bao trùm tất cả. Nó cũng lặng yên, vượt ngoài ngôn từ. Trong sự biến hóa ấy, nhà huyền môn trực nhận rằng tĩnh lặng của An bình này chính là bản lai diện mục đích thực (true identity[ii]) một bản thể phi tuyến tính, hài hòa với toàn bộ sự sống. Nó không có vị trí, bởi nó là toàn thể. Trong sự hợp nhất vượt ngoài mô tả, không còn “tôi” tách biệt với “bạn”; mọi phân ly tan biến trong Mặc khải của Quang minh Nhất thể.
Nó bất động như bản chất của Thần tính đang mở ra một sự xuất hiện và lan tỏa toàn diện. Nó cũng im lặng và không lời. Sau khi biến đổi, nhà huyền môn nhận ra rằng tĩnh lặng của An bình chính là bản sắc đích thực của mình, nó phi tuyến tính và hài hòa với mọi sự sống. Nó không có định xứ, vì nó là toàn thể. Hợp nhất vượt ngoài mô tả, không có “tôi” nào tách biệt với “bạn”, và sự tách biệt biến mất trong Mặc khải của Ánh Sáng Nhất Thể (Revelation of the Radiance of Oneness).
Do đó, cái mà thế giới gọi là “Chứng ngộ” là trạng thái trong đó bản sắc cá nhân trước đây và tất cả những gì đã được người ta tin rằng nó đã từng là bị xóa sạch, bị loại bỏ, bị siêu việt và tan biến. Cái cụ thể được thay thế bằng cái phổ quát, phẩm chất được thay thế bằng bản chất, tuyến tính được thay thế bằng phi tuyến tính, và cái rời rạc được thay thế bằng cái vô hạn. Thời gian đã trở thành Toàn Thể và Vĩnh Hằng. Ý định được thay thế bằng tự phát, và tri giác hạn chế của nhị nguyên được loại bỏ khi Ánh Sáng Nhất Thể soi sáng Thực tại và Sự thật của phi nhị nguyên. Bản chất của Thần tính hiện hữu trong mặc khải của Đại ngã. Tư duy chấm dứt, và trong Im lặng, Hiểu biết của Toàn tri tỏa sáng một cách tự nhiên. Cảm xúc đã được thay thế bằng An bình.
Tâm trí thông thường là tâm trí tư duy, và nó suy nghĩ bằng tri giác, phán xét và định nghĩa. Nó có các đại từ, có của tôi, đấy là một phần không thể thiếu của quan điểm nhị nguyên về sự tách biệt. Giáo dục tôn giáo liên quan đến tâm trí tư duy với quá trình học tập và làm chủ thông tin. Thông tin sau đó được tích hợp, và người ta có thể dành cả đời để nghiên cứu lịch sử tôn giáo và thần học. Trong trạng thái thần bí, hiểu biết đến theo một cách hoàn toàn khác, phi tuyến tính. Nó không đến từ lý trí. Thay vào đó, hiểu biết là rạng rỡ, là mặc khải không đòi hỏi bất kỳ tư duy nào và thậm chí không cần bất kỳ kiến thức tôn giáo nào.
Trải nghiệm trực ngộ
Những cuốn sách xuất bản trước đây, I: Reality and Subjectivity và The Eye of the I: From Which Nothing Is Hidden, mô tả những trạng thái tâm thức bất thường được trải nghiệm trong kiếp sống này. Một số sự kiện được ghi nhận ở đây vì chúng thể hiện những đặc điểm của nhà huyền môn. Một sự kiện quan trọng đối với tôi là một trải nghiệm trong đống tuyết khi còn là một thiếu niên. Khi còn nhỏ, tôi khá sùng đạo, nhưng tôn giáo không liên quan gì đến những hiện tượng huyền bí mà tôi đã trải nghiệm. Người ta có thể ghi nhớ tất cả các tài liệu tâm linh trên thế giới, và khi trải nghiệm huyền bí xảy ra, nó hoàn toàn không liên quan đến bất cứ điều gì đã học được trong suốt cuộc đời nghiên cứu.
Nó xảy ra trong một trận bão tuyết ở phía bắc Wisconsin, tôi bị mắc kẹt khi ở rất xa nhà trong chuyến đi đạp xe dài 17 dặm để giao báo. Gió mạnh và lạnh khủng khiếp, và những đống tuyết khổng lồ chất cao khoảng 3 mét ở bên đường cao tốc. Để tránh gió, tôi đã chui vào đống tuyết và nhanh chóng đào được một cái hốc nhỏ. Tôi có thừa năng lượng thể chất và không hề cận kề cái chết, nhưng tôi muốn tìm một chút thư giãn để tránh cái lạnh buốt của gió. Tôi trèo lên bên cạnh cạnh sườn cái hốc này và cố gắng thư giãn.
Rồi từ hư không xuất hiện một Ánh Sáng của Tình Yêu Vô Biên, sâu sắc, vượt xa mọi tưởng tượng, vượt xa tình yêu của con người, phi thời gian và vĩnh cửu, không có khởi đầu và không có kết thúc. Nó gần gũi với tôi hơn cả chính bản thân mình – gần gũi hơn với những gì tôi từng nghĩ về bản thân mình hay danh tính cá nhân của tôi. Tình Yêu Vô Biên đó là cốt lõi của con người mà tôi đang là và luôn luôn là như thế. Nó là một Vĩnh Hằng bất diệt.
Trong trạng thái đó, bạn nhận ra rằng bản chất của bạn chính là Tình Yêu Vĩnh Hằng, Vô Biên. Thực tại của con người mà bạn đang là không khác gì Tình Yêu Vô Biên, Hoàn Hảo tuyệt đối, không có khởi đầu và không có kết thúc. Đó là Mặc Khải về Sự Thật của sự tồn tại của chính bạn. Đó là sự thật về sự tồn tại của mọi người. Con người mà bạn đang là chính là Tình Yêu Vô Biên, đã tồn tại mãi mãi và không có khởi đầu và không có kết thúc. Tất cả những việc cần làm ngay lúc này là bạn phải nhận ra điều đó!
Trạng thái ấy xảy ra một cách tự phát, không cần suy nghĩ, không cần đại từ, không hề báo trước. Trong thế giới ngày nay, người ta đọc điều này rồi bắt đầu tìm kiếm một đống tuyết để trải nghiệm nó, như thể địa điềm đó “gây ra” nó. Hoặc họ tạo ra một đống tuyết “thiêng liêng” ở nơi nó đã xảy ra. (Quả nhiên, đống tuyết cuối cùng cũng tan chảy, nên không ai có thể đặt một tấm biển thiêng liêng trước đống tuyết này!) Đó là nhận thức sâu sắc, vượt xa mọi kiến thức, không liên quan gì đến tôn giáo hay thần học. Không có mối liên hệ nào giữa lĩnh vực tuyến tính của tôn giáo và lĩnh vực phi tuyến tính của huyền bí. Một lĩnh vực liên quan đến tư duy, còn lĩnh vực kia thì vượt ra ngoài tư duy.
Trạng thái huyền bí là phó thác cho Đại Ngã, phó thác cho khả năng của Thần tính bên trong để Nó tự bộc lộ. Và Nó tự bộc lộ khi có điều kiện thuận lợi về mặt nghiệp báo, không nhất thiết là khi bạn muốn nó xảy ra. Nó có thể xảy ra vào những thời điểm rất bất tiện. Bạn có thể thấy mình hoàn toàn bất động, ngồi đó trong trạng thái phúc lạc tột độ trên một tảng đá, không thể đứng dậy, không thể di chuyển hay rời đi. Cảnh sát có thể đến và đưa bạn đến bệnh viện, nhưng trong trạng thái đó, bạn không có gì để nói.
Nhà huyền môn đã nhận ra Đại Ngã, sau đó ở lại thế gian để giảng dạy được gọi là Giác giả. Kiến chân tính, trên Bản đồ Tâm thức, là các tầng từ 700 trở lên, với Ramana Maharshi và Nisagardatta Maharaj là những ví dụ về Giác giả. Trong trạng thái đó, người ta nhìn thấy bản chất của thế giới.
Giác Giả nói với bạn: “Thế giới mà bạn nhìn thấy không tồn tại.” Câu nói này làm rối trí người bình thường, vốn cho rằng nhận thức của mình về thế giới chính xác là thế giới như nó đang là. Nhưng Giác Giả nhìn vượt trên tri giác - dựa trên vọng tưởng về tách biệt - và thay vào đó, chứng kiến sự thống nhất của mọi hiện tượng. Biểu hiện của mưa có thể trông giống như những giọt mưa riêng lẻ; tuy nhiên, mưa là một.
Ở tầng nhận thức nhị nguyên bình thường, cần phải có “cái này” gây ra “cái kia”. Lúc nào cũng có nạn nhân và thủ phạm. Chính trị sẽ ra sao nếu không có nạn nhân và thủ phạm? Câu chuyện cuộc đời của hầu hết mọi người xoay quanh bi kịch “họ đã làm điều này với tôi”. Lúc nào cũng có kẻ áp bức làm hại người vô tội. Ngược lại, nhà huyền môn nhìn thấy sự thống nhất và sự thật vượt ra ngoài nhân quả, vượt ra ngoài tri giác, đó chính là xuất hiện. Xuất hiện có nghĩa là không có xung đột giữa tiến hóa và sáng tạo, vì sáng tạo tự thể hiện mình như là tiến hóa. Trường Vô Biên, từ đó mọi tồn tại mang tính hiện tượng đều phát sinh, chính là trường tâm thức, vốn đầy từ bi và công bằng, vì “Tình yêu là Quy luật Tối cao của Vũ trụ” (tuyên bố này có điểm hiệu chỉnh 750). Trường này và các hiện tượng là một thể thống nhất năng động, đồng thời là sáng tạo và tiến hóa. Trường tâm thức, trong hệ thống thuật ngữ khác, được gọi là Phật tính.
Trường này — Phật tính, Tình yêu Vô biên — luôn luôn có đó; chỉ đang chờ sự thể ngộ của bạn. Nó luôn luôn trọn vẹn. Nó không đi từ chưa trọn vẹn đến trọn vẹn. Nó trọn vẹn ngay từ đầu. Khi tôi nằm trong đống tuyết, trạng thái đó đã trọn vẹn, ngay lập tức và mãi mãi. Nó không có bắt đầu, không ngày càng lớn lên, và không bò lên chân tôi. Đột nhiên, từ hư không, tôi ở trong một cõi hoàn toàn khác và thật hạnh phúc. Lý do duy nhất tôi rời khỏi trạng thái đó là để làm dịu đau khổ của cha tôi. Ông đến tìm tôi trên chiếc xe Ford Model A cũ của chúng tôi, ông đi theo đường giao báo của tôi. Tôi đang ở trong trạng thái phúc lạc, và điều tiếp theo tôi biết là cha tôi đang lay mắt cá chân tôi: “Dave, Dave!” Tôi có thể thấy bố sẽ rất đau khổ nếu tôi không thở lại một lần nữa. Bố có thể tự trách mình vì để cho tôi chết. Vì vậy, vì tình yêu thương dành cho bố, tôi đã thở và giành lại quyền kiểm soát cơ thể. Lựa chọn duy nhất thay thế cho Tình Yêu Vô biên đó là tình yêu khác, tình yêu cá nhân, và đưa nó lên trước Tình Yêu Thiêng Liêng.
Cuối cùng, trạng thái bên trong của nhà huyển môn là không thể mô tả được. Nó biến đổi toàn bộ cuộc đời như Ánh Sáng bừng lên soi sáng toàn bộ tồn tại, và Ánh Sáng ấy làm cho hoạt động trở thành khó khăn. Người đó học cách sống chung với nó theo lối không hoàn toàn bình thường. Bằng cách chú tâm, người đó có thể đánh lừa hầu hết mọi người, hầu hết thời gian—nhìn họ với thái độ tôn trọng và nói, “Ồ vâng. Ừ. Đúng vậy. Vâng. Ừm.” Hầu hết mọi người chưa bao giờ biết mình đang ở trong hiện diện của cái gì, cũng như họ không hay biết về chính Đại Ngã bên trong của mình.
Trái ngược với phương pháp mang tính trí năng trong giáo dục tôn giáo, điều chúng ta đang mô tả ở đây là con đường bên trong. Nó phát sinh từ bên trong. Giáo dục tôn giáo có thể tạo tiền đề cho nó, nhưng đấy không phải là nguyên nhân gây ra nó. Người ta có thể học thần học suốt ngày này qua ngày khác, và việc học đó không nhất thiết sẽ dẫn đến chứng ngộ tâm linh ở bên trong. Tuy nhiên, có quan tâm đến tôn giáo, cộng với một động lực nhất định, con đường bên trong sẽ được kích hoạt. Các vị Thánh Vĩ đại của Kitô giáo đã chứng minh rằng việc nghiên cứu kinh sách, thờ phượng và sự tận hiến cho tôn giáo có thể dẫn đến nhận thức mang tính huyền bí ở bên trong. Bỗng nhiên, ngôn từ tan biến trong sự Thể ngộ Chân lý nội tại. Người ta gọi đó là Unio mystica — sự hợp nhất huyền bí giữa tự ngã và Thần tính, một trạng thái của Tình yêu Thiêng liêng.
CÁC TRẠNG THÁI THIÊNG LIÊNG
Tính chủ quan triệt để này có thể tự mặc khải như là Agape — tức yêu thương bao trùm toàn thể hiện hữu. Tuy nhiên, trước khi vươn tới Agape, còn có trạng thái Yêu thương Vô điều kiện ở tầng 540. Trạng thái này biểu hiện như tình thương dành cho thiên nhiên, cho toàn thể nhân loại, sự nhạy cảm trước vẻ đẹp của vạn vật đang tồn tại, và tình thương đối với mọi sinh linh trong vương quốc động vật. Ta yêu con vật này cũng dễ dàng như yêu con vật khác. Đó là tình thương dành cho toàn bộ sự sống và mọi biểu hiện của nó. Thiên Chúa là cội nguồn của tất cả những cái đang là, không một ngoại lệ nào (được hiệu chỉnh là “đúng”). Vạn vật và mọi người đều là sáng tạo của Thiên Chúa. Không có gì tồn tại mà không phải là tạo tác của Thiên Chúa. Khi tâm thức tiến hóa, các Trạng thái Thiêng liêng được hiệu chỉnh như sau:
Thiên Chúa | Vô biên |
Đấng Tạo Hoá | Vô biên |
Thần tính | Vô biên |
Tổng Thiên thần | 50,000+ |
“Tôi” như là Bản chất của Sáng tạo | 1.250 |
“Tôi” là Thực tại Tối thượng | 1.000+ |
Christ, Buddhahood, Krishna, Brahman | 1.000+ |
Thánh Thần Giáng Thế | 985 |
Toàn thể | 855 |
Thiên Chúa (Đại Ngã) chính là Ngôi Lời (Logos) | 850 |
Tính không (Void) | 850 |
Hư vô (Nothingness) | 850 |
Nhất thể | 850 |
Toàn tri | 850 |
Có mặt khắp nơi | 850 |
Toàn năng | 850 |
Thực tại như là Tâm thức | 850 |
Thực tại như là Tỉnh thức | 850 |
Đại ngã vượt ra ngoài tồn tại hoặc không tồn tại | 840 |
Đạo sư đã Chứng ngộ | 800 |
La Hán | 800 |
“Ta”/Chân Tính như là Toàn Thể (thị kiến phúc lạc) | 750 |
Giác giả—Đại ngã như là Thiên Chúa Hiển lộ | 700 |
Đại ngã như là Tồn tại | 680 |
“Ta là” | 650 |
Chứng ngộ | 600 |
Thực tại như là người Người chứng kiến/Người quan sát | 600 |
Tước vị Thánh | 575 |
Đọc về những trạng thái như thế đương nhiên sẽ khơi gợi sự quan tâm đến việc trải nghiệm những trạng thái đó. Bản đồ Tâm thức có thể được coi như bản đồ của hành trình tiến tới số phận cao nhất của con người, mà cuối cùng là con đường hướng nội. Các khái niệm và giáo lý có điểm hiệu chỉnh dưới 600 đều tương đối dễ hiểu đối với đa số người, và các giáo lý có điểm hiệu chỉnh 500 (Tình yêu) tạo được ảnh hưởng rất lớn. Mặc dù chỉ 0,4% người dân trên thế giới hiện nay vươn tới sự hoàn hảo của Yêu thương, tức là Yêu thương Vô điều kiện có điểm hiệu chỉnh 540, nhưng nó vẫn được coi là khả năng thực tế, có thể trải nghiệm được, và những người xuất chúng tiếp tục thăng tiến tâm thức đến những tầng trên 550 được gọi là “thánh nhân”, do đó, họ là hình mẫu cho nhân loại, được coi là mục tiêu thực tiễn. Trạng thái mê ly, ở những tầng gần 600, cũng đã được ghi chép (ví dụ, những trải nghiệm được ghi chép lại của Ramakrishna, Baal Shem Tov, Thánh Francis of Assisi và những người khác) và nhờ đó được mọi người tin tưởng và chấp nhận như là thực tại khả thi đối với những người được ban cho động lực hoặc được ban cho năng khiếu đặc biệt.
Ở tầng tâm thức 500, có một sự thay đổi lớn về hệ hình. Tư duy nhường chỗ cho trực giác, nhân quả tuyến tính nhường chỗ cho đồng hiện phi tuyến tính, và nỗ lực bên ngoài nhường chỗ cho nhận thức chủ quan. Từ tầng tâm thức 600 trở lên, thực tại tâm linh được mô tả là không thể diễn tả hoặc huyền bí. Phẩm chất phi nhị nguyên của nó (tức là “không có tâm trí” hoặc “Tâm trí”) làm cho trạng thái này khó diễn đạt được bằng ngôn từ hoặc khái niệm hóa và do đó, khiến cho trạng thái này dường như khó có thể chạm tới như là trải nghiệm thực thụ. Các hành giả lâu năm đã quen thuộc với trước tác của những Đại Giác Giả, tác phẩm của họ được đặc trưng bởi các thuật ngữ bằng tiếng Phạn là Advaita (Bất nhị) và Vedanta (Triết học Vệ-đà). Có rất nhiều thông tin về các chủ đề này thông qua bài viết của những đạo sư nổi tiếng trong thời gian gần đây như Ramana Maharshi hay Nisargadatta Maharaj. Ở tầng tương tự là những giáo lý của các nhà huyền môn vĩ đại, nổi tiếng của tất cả các tôn giáo, chẳng hạn như các Sufi, các Kabbalist, hoặc Zohar. Quan trọng không kém, và cũng rất nổi tiếng, là những giáo lý của Đức Phật, các giác giả của đạo Hindu và các Thiền sư. Niềm tin về tính hiện thực và thực tế của Chứng ngộ được hỗ trợ bởi nhiều trước tác nói về những trạng thái như thế của các học giả nổi tiếng, ví dụ như William James, và các học giả của Thiền tông, chẳng hạn như D. T. Suzuki và Alan Watts.
Khó khăn trong việc mô tả hoặc giải thích những trạng thái đó đơn giản là vì tầng tâm thức của trí năng là 400 và có giả định về quan hệ nhân quả. Mặc dù các mô tả là tuyến tính, nhưng chính các trạng thái này lại là phi tuyến tính và do đó, có thể nói bóng gió, nhưng không thể mô tả chính xác bằng ngôn từ mà mọi người đã quen. Mặc dù có những hạn chế như thế về mô tả, thực tại của những trạng thái này được nhiều người công nhận, và gần đây nhất, chúng ta đã xác nhận Thực tại này của các trạng thái chứng ngộ bằng nghiên cứu hiệu chỉnh tâm thức. Mặc dù hiếm gặp về mặt thống kê, những trạng thái cao cấp như vậy có khả năng truyền cảm hứng khá mạnh và cung cấp cho chúng ta tiềm năng tiến hóa của tâm thức của nhân loại.
Sự kiện là trạng thái chứng ngộ là không thể hiểu được, không thể giải thích được, hoặc không thể “thủ đắc” bằng tâm trí/trí năng làm cho những người tìm kiếm tâm linh nản lòng; do đó, những trạng thái như vậy dường như không thể vươn tới được và do đó, không được coi là mục tiêu thực tế. Ngược lại, các trạng thái cao cấp có sức mạnh trải nghiệm mãnh liệt, vì Thực tại mà chúng phản chiếu đã là sự thật sẵn có, xuất phát từ chính điều hiển nhiên: bạn đang hiện hữu. Do đó, mỗi đệ tử tâm linh đều đã đáp ứng được yêu cầu đầu tiên, và chỉ cần thêm động lực và cam kết. Do đó, những yêu cầu duy nhất là, trước hết, phải tồn tại, sau đó phải từng nghe nói về Chứng ngộ, và cuối cùng là phải tìm kiếm nó, coi đó là mục tiêu có thể vươn tới được. Điều làm cho nó dường như là khó khăn là không có thông tin đơn giản và giải thích rõ ràng, bởi vì về mặt trải nghiệm, con đường vốn dĩ rất đơn giản, mặc dù đôi khi có vẻ gian khổ. Cuốn sách này chứa đựng thông tin làm rõ các các bước quan trọng nhất.
Một lý do khác khiến việc cho việc vươn tới Chứng ngộ dường như không thực tế là vì tâm trí tạo ra khái niệm bằng các thuật ngữ nhân quả, và đệ tử tự coi mình là bị thúc đẩy (nghĩa là ngụ ý ý chí bên trong, v.v.) thay vì thực tế là họ thực sự đang bị thu hút bởi số phận tương lai của mình, tương tự như mạt sắt bị nam châm hút.
Thoải mái và tự tin có thể bắt nguồn từ thực tại có thể kiểm chứng được rằng những cá nhân hiếm hoi thực sự bị thu hút bởi Chứng ngộ như một mục tiêu của đời sống vì đấy là số phận của họ (được xác nhận là đúng). Vì lý do tương tự, chỉ những người chơi golf trong tương lai mới tham gia các lớp học chơi golf.
CÂU HỎI VÀ TRẢ LỜI
Hỏi: Bắt đầu tìm kiếm sự thật tâm linh, kiến chân tính và Chứng ngộ từ đâu?
Trả lời: Rất đơn giản. Hãy bắt đầu từ bạn là ai và con người mà bạn đang là. Tất cả sự thật đều nằm bên trong bạn. Hãy sử dụng những giáo lý đã được kiểm chứng làm kim chỉ nam.
Hỏi: Con đường hướng nội khác với việc tuân thủ tôn giáo truyền thống như thế nào?
Trả lời: Trọng tâm là nhận thức chủ quan dựa trên trải nghiệm nội tâm, và sự xác nhận nội tại của sự thật tâm linh. Ngược lại, các tôn giáo thường yêu cầu ghi nhớ các giáo lý của giáo hội, tìm hiểu về nguồn gốc lịch sử hoặc thần thoại của chúng, cùng với việc trích dẫn thẩm quyền, tiền lệ và các nhân vật lỗi lạc cũng như những người đóng góp. Có nhiều quy định khác nhau, chẳng hạn như về lối sống, trang phục và kiểu tóc, cũng như các quy tắc ứng xử liên quan đến hôn nhân, sinh sản và các hoạt động xã hội và tình dục, dựa trên giáo lý của giáo hội, tương quan với các nền văn hóa dân tộc hoặc bộ lạc cụ thể, bị giới hạn về thời gian và khu vực địa lý. Ngoài ra, còn có các yêu cầu rõ ràng hoặc ngầm định, chẳng hạn như tham dự, tư cách thành viên và cam kết nhóm. Những quy định này thường dẫn đến bao gồm và loại trừ trong xã hội/nhóm (ví dụ: người có đức tin và người không có đức tin). Trong lĩnh vực tôn giáo, chính những nhà huyền môn mới là những người vươn tới đỉnh cao nhất, đấy là do nhận thức trực tiếp, nội tâm về Sự thật của họ.
Hỏi: Những đặc điểm tính cách nào được coi là thuận lợi?
Trả lời: Nhìn chung, những người sùng đạo thường hướng nội, chu đáo, suy ngẫm, tò mò, có trách nhiệm và chú ý. Họ thường có ác cảm với bạo lực, tàn ác, thiếu chính trực, và phô trương, kịch tính của hào nhoáng hoặc thô tục. Họ bị thu hút bởi việc học hỏi vì chính nó và niềm vui khám phá những tiền đề cơ bản, và khả năng trung thực với chính mình một cách nghiêm khắc.
Hỏi: Còn cuộc sống hàng ngày thì sao?
Trả lời: Sự tận hiến tâm linh là một lối sống nội tâm liên tục, kết hợp với tỉnh thức quan sát thường trực. Quá trình này là tự tưởng thưởng và, ngược đời là, nó dẫn đến những lợi ích và vui thích hơn là tham gia hay thực hành tôn giáo chính thức. Sự thật phản chiếu khắp nơi, hiển lộ để được thấy và được nhận ra trong vô số hình tướng khác nhau. Nhờ hướng nội quan sát, trí tuệ nội tại được hình thành, giúp nuôi dưỡng tâm từ bi và thấu hiểu tâm linh, thay cho thứ kỷ luật mang tính “phải làm”. Với sự tỉnh giác nội tâm, mặc cảm tội lỗi mang tính tôn giáo và ám ảnh về tội lỗi sẽ giảm dần, thay vào đó, bạn lựa chọn những điều tích cực, thay vì bị kiểm soát bởi những chương trình tiêu cực dẫn đến nhục nhã, sợ hãi và mặc cảm tội lỗi. (Cần lưu ý rằng tầng Mặc cảm tội lỗi nằm ở dưới cùng của Bản đồ, trong khi Niềm vui nằm ở trên đỉnh.) Viên mãn tiềm năng mang đến phần thưởng và thỏa mãn, từ đó, từng bước một củng cố động lực. Trung thực với chính mình mang lại tự do nội tâm lớn hơn cũng như khả năng thích ứng và linh hoạt. Không cần thiết phải rút lui khỏi thế gian, mà thay vào đó là tái định hình nó. Quá trình tiến hóa tâm linh dẫn đến khả năng lớn hơn, đấy là nhờ quá trình thăng tiến của tâm thức. Đó là vấn đề động cơ. Không cần thiết phải ẩn tu, mặc dù có thể có những giai đoạn làm thế là có lợi.
Hỏi: Công việc tâm linh bên trong dường như đòi hỏi kỷ luật và nỗ lực.
Trả lời: Những đòi hỏi này được kích hoạt bởi ý định. Công việc nội tâm được thúc đẩy bởi động lực bất ngờ khi mỗi bước đi tích cực lại làm gia tăng khả năng và làm cho nhiều bước tiếp theo dễ dàng hơn, giống như lăn một quả cầu tuyết xuống dốc. Tha thứ cho một người sẽ giúp bạn dễ dàng và có nhiều khả năng tha thứ cho người khác và người khác nữa.
Hỏi: Làm sao siêu việt được bản ngã?
Trả lời: Bắt đầu bằng cách buông bỏ mong muốn kiểm soát những ác cảm và hấp dẫn. Buông bỏ mọi ham muốn. Bằng cách này, cuối cùng bạn sẽ siêu việt người trải nghiệm, vốn là cốt lõi của bản ngã. Mọi thứ đang xảy ra một cách tự phát nhờ vào trường sức mạnh vô biên, đó là Thần tính, nhưng bạn sẽ thấy rằng trong vòng một phần mười nghìn giây, bản ngã nhảy vào và tự nhận mình là tác giả của trải nghiệm. Siêu việt một phần mười nghìn giây đó là cái xảy ra, khi cuối cùng, bạn siêu việt những hạn chế và sự đồng nhất với bản ngã cá nhân. Sau đó, sẽ thấy rằng không có bất cứ cái gì xảy ra theo trình tự tuyến tính, nhân quả. Không có cái gì gây ra bất cứ cái gì; mọi thứ đều phát sinh một cách tự phát khi tiềm năng trở thành hiện thực, đấy là do sức mạnh của trường năng lượng này. Không có “cái này” gây ra “cái kia”. Đó chỉ đơn thuần là sự phóng chiếu của bản ngã, phóng chiếu của người tri giác.
Bạn trở thành người chứng kiến sự xuất hiện của đời sống trong từng khoảnh khắc. Bạn không phải là nguyên nhân. Bạn không phải là người làm. Bạn không phải là thủ phạm. Bạn không phải là nạn nhân. Bạn buông bỏ tất cả các khái niệm. Bạn không phải là bất kỳ cái gì trong số đó. Thật dễ để nhận ra rằng bạn là người chứng kiến các hiện tượng — là Nhân chứng. Từ trạng thái ấy, việc bước vào các cõi của Ánh Sáng, của Tình Yêu và của Hào quang của Đại ngã trở nên tự nhiên, nơi mọi sự đều đang diễn ra một cách tự phát. Đó là những trạng thái của soi sáng. Mọi điều đang hiện hữu đều tỏa chiếu như Hào quang của Thần Tính. Và tại điểm đó, tâm trí lặng im trong sự kính ngạc..
Hỏi: Ông nói rằng rất ít người siêu việt được tầng Lý trí, và rằng tâm trí là rào cản lớn nhất đối với Chứng ngộ. Xin ông cho lời khuyên để vượt qua nó?
Trả lời: Tin tốt là tâm trí đã im lặng tới 99%. Nếu 99% tâm trí không im lặng, bạn thậm chí sẽ không biết mình đang nghĩ gì. Chính nhờ sự tĩnh lặng của khu rừng mà bạn có thể nghe thấy tiếng chim hót. Khu rừng im lặng đến 99% và chỉ có 1% tiếng chim hót! Chỉ vì bạn lắng nghe 1% đó mà khu rừng mới có vẻ ồn ào. Bạn bị 1% đó thôi miên. Đó là trạng thái bị nội dung của tâm trí thôi miên, vì vậy việc bạn cần làm là chuyển sang bối cảnh im lặng, nội dung xuất hiện từ đó. Bản ngã đồng nhất với nội dung. Tâm linh là bối cảnh, mà bối cảnh là im lặng.
Tâm trí giống như một sân vận động bóng đá khổng lồ, mọi người đã về nhà và bạn là người duy nhất còn lại trong toàn bộ sân vận động. Ở góc sân, có một chiếc radio nhỏ đang phát nhạc, và bạn tập trung vào chiếc radio đó, rồi bạn nói: “Cái sân vận động này quá ồn ào.” Bạn nghĩ tâm trí mình ồn ào, vì bạn đang tập trung vào 1%, mà bạn coi đó là “tôi.” Không phải tâm trí là trở ngại cho Chứng ngộ; mà là sự đồng nhất của bạn với hoạt động của tâm trí như là “tôi.” Bạn nghĩ, đó là người mà tôi đang là. 1% đó có nhiều thủ đoạn để thôi miên bạn. Nó thích chính trị hóa, đạo đức hóa, thích phân tích, thích lãng mạn hóa, thích chỉ trích, thích lý tưởng hóa, thích cảm xúc hóa, thích kịch tính hóa, thích đưa ra giả thuyết, thích thần học hóa, thích tưởng tượng, thích thảm họa hóa, vân vân. Đó là tất cả nội dung của tâm trí. Im lặng là bối cảnh. Quan hệ giữa nội dung và bối cảnh chính là bản chất của công việc tâm linh. Trong thiền định hoặc chiêm nghiệm, bạn liên tục buông bỏ tất cả nội dung khi chúng vừa sinh khởi. Chúng ta phó thác cho Thiên Chúa; chúng ta làm vậy để trở về với toàn cảnh.
Hỏi: Ngoài các trạng thái Chứng ngộ và Kiến chân tính, ông còn mô tả trạng thái Hư vô (Nothingness), theo truyền thống được gọi là Tính không (Void). Có cần chuẩn bị?
Trả lời: Những hiểu sai về giáo lý của Đức Phật đã xác định sai ý nghĩa của Tính không và coi Hư vô/Tính không là trạng thái tối thượng, quan niệm đó chắc chắn không đúng, như đã được xác định bởi cả nghiên cứu về hiệu chỉnh tâm thức và trải nghiệm chủ quan.
Trong ngôn ngữ tâm linh truyền thống, mỗi tầng cao cấp này đều được “bảo vệ” bởi “những con rồng” của sự đối lập. Điều này đặc biệt đúng ở tầng 850, nơi giới hạn cần siêu việt là nghịch lý của những mặt đối lập/lựa chọn dường như trái ngược nhau về việc Thực tại tối thượng là Toàn thể hay Hư vô, hoặc là Tồn tại hay Không tồn tại.
Tính Không của Hư vô có tầng hiệu chỉnh 850 và là điểm cuối của con đường phủ định — con đường phủ nhận thực tại của mọi sự, hay bất cứ điều gì (tức là các hình tướng tuyến tính, hay ‘tính-vật-thể’, khi bị chấp là thực). Sai lầm tiếp theo là giả định rằng việc siêu việt khỏi mọi hình tướng là điều kiện duy nhất của Phật quả. Đây là sai lầm rất dễ mắc phải, vì về mặt trải nghiệm, trạng thái của Tính Không vô cùng choáng ngợp và ấn tượng. Khi mở ra, nó không thể diễn tả, vô biên, phi thời gian, là Một, bao trùm tất cả, tĩnh lặng, im lặng, bất động, và kỳ lạ là bao gồm cả “nhận thức về sự không nhận thức” loại trừ ngay cả tồn tại hay hiện hữu. Trạng thái này là chắc chắn và trải nghiệm được, không còn nghi ngờ gì nữa, vượt ra ngoài nhị nguyên. Không có chủ thể cũng không có đối tượng; không còn gì để buông bỏ và không còn ai để buông bỏ; do đó, nó thực sự dường như là trạng thái tối thượng. Một khó khăn khác ở tầng đó là không có đạo sư nào để tham khảo, chia sẻ hoặc suy ngẫm để xác nhận, chứ chưa nói đến hướng dẫn, vì trạng thái đó thực sự kỳ diệu, và nhu cầu về sự hướng dẫn như vậy dường như là không cần thiết hoặc không tự xuất hiện để xác nhận.
Nếu Tính Không (Hư vô) là thực tại tối thượng, thì đó sẽ là trạng thái vĩnh viễn, và sẽ không có thực thể nào để báo cáo về nó. Tuy nhiên, nó không phải là như thế, và do đó, sớm hay muộn, người ta sẽ rời khỏi Không và trở lại tồn tại với tâm thức. Tiếp theo là hiện tượng trải nghiệm chủ quan về việc đột nhiên xuất hiện trong Sự tồn tại từ sự lãng quên của Tính Không. (Trong kiếp này, sự kiện xảy ra với tôi lúc lên ba, như đã mô tả trong phần “Về tác giả”. Đột nhiên, từ Hư vô và không nhận thức, có một cú sốc không chỉ về Tồn tại mà còn là khám phá ra được vật chất và có một cơ thể đi kèm với sự trở lại từ Hư vô tới Hiện hữu. Vì vậy, trong kiếp này, thế tiến thoái lưỡng nan có điểm hiệu chỉnh 850 ban đầu xuất hiện mạnh mẽ trong những năm đầu đời, và nó tái diễn sau đó, lúc đó nó đã bị bác bỏ và vượt qua. Phải mất 38 năm mới giải quyết xong.)
Cần Hiểu biết để siêu việt tầng này là Tình yêu Thiêng liêng, Nó cũng là phi tuyến tính và không có chủ thể, đối tượng, hình tướng, điều kiện hay định xứ. Sự hạn chế (không trọn vẹn) của Tính Không là hậu quả của dâng hiến mãnh liệt với con đường của phủ định; tuy nhiên, cái bị bỏ lỡ là nhận thức rằng Tình yêu là phẩm chất chính của Thần tính và nó cũng là phi tuyến tính, và tình yêu tâm linh không phải là chấp trước. Sai lầm của con đường phủ định là nhận diện sai và từ chối Tình yêu, vì, trong trải nghiệm chung, trải nghiệm bình thường của con người, là hạn chế và chấp trước (giữa “tôi” và “bạn” hoặc “nó”).
Ngược lại, Tình Yêu Thiêng Liêng là chủ đạo, mạnh mẽ và áp đảo, và là phẩm chất hoặc bản chất chính của Hiện Diện. Đây là Tình yêu sâu sắc và vô điều kiện, không có chủ thể hay đối tượng. Nó không phải là cảm xúc mà là trạng thái mang tính giải phóng chứ không phải hạn chế. Tình Không (điểm hiệu chỉnh 850) có thể so sánh với không gian vô biên, trống rỗng, và có ý thức. Ngược lại, Hiện Diện của Thần tính giống như trái tim của mặt trời. Không thể nhầm lẫn được, vì Tình yêu được nhận ra như là chính cốt lõi và Cội nguồn của Đại ngã ban sơ của mỗi người.
Hỏi: Bước cuối cùng là gì?
Trả lời: Cuối cùng, bằng cách phó thác mọi trạng thái cho Thiên Chúa, bạn sẽ bước vào không gian vượt xa mọi không gian trước đó. Khi mỗi trạng thái đến, hãy sẵn sàng trải nghiệm chiều kích lớn hơn nữa. Có trạng thái vượt xa tất cả các trạng thái trước đó. Trạng thái khổ hạnh thuần khiết. Tôi đã từng nói về trạng thái này như Cửa ải Cao, và trình bày chi tiết ở đây vì độc giả của cuốn sách này rồi cũng sẽ đối diện với những trạng thái ấy. Khi bạn đã phó thác mọi sự cho Thiên Chúa qua thiền định và chiêm nghiệm, khi bạn đã buông bỏ tất cả mọi chấp trước và ác cảm, bạn sẽ chạm tới một Cửa ải rất Cao, nơi không còn ai ở đó nữa. Tại Cửa ải Cao ấy, bạn đã buông bỏ sự bám víu vào những chi tiết của đời sống — tiền bạc và quyền lực, danh vọng, những kích thích và khoái cảm. Không còn gì sót lại ngoài chính sự sống của bạn. Bạn đã buông bỏ mọi thứ mà thế gian trân quý, và phó thác tất cả cho Thiên Chúa. Giờ đây, còn điều gì nữa để bạn phó thác cho Thiên Chúa? Chính mạng sống của bạn. Trong khoảnh khắc ấy, bạn chợt nhận ra: Tôi không còn gì nữa. Và bạn thưa lên: “Con xin phó thác mạng sống này cho Ngài, lạy Chúa tôi.”
Cùng với nó là sợ chết, quá khủng khiếp. Khi bạn trải nghiệm những cơn đau của quá trình hấp hối, bạn biết mình đang ở đúng chỗ. Đây là cơn đau mà bạn đã đồng ý đi qua. Con người mà bạn tin rằng mình là, qua tất cả những kiếp sống này, từ thuở vĩnh hằng, gần như đến tận tầng vi khuẩn, cần phải được phó thác. Xuyên suốt quá trình tiến hóa của tâm thức, cái mà bạn tin là cốt lõi của sự tồn tại của mình, giờ đây bạn được yêu cầu phải phó thác.
Nỗi sợ về sự không-tồn-tại lại trỗi dậy. Và rồi Cái Biết xuất hiện —biết rằng việc phó thác chính sự sống của bạn cho Thiên Chúa là an toàn, bởi trong bạn khởi sinh cái biết nội tâm: “Mọi sợ hãi đều là vọng tưởng. Hãy bước thẳng về phía trước, bất kể điều gì xảy ra.” Đó là Cái Biết đến từ rất nhiều kiếp sống trước. Cái Biết ấy phải hiển lộ với sự chắc chắn tuyệt đối, bởi nó đã được nghe — và được xác chứng — từ điều đã từng bước qua Cửa ải ấy. Đó là lý do vì sao tôi nói với bạn điều này, ngay lúc này: “Mọi sợ hãi đều là vọng tưởng.” Bạn buông bỏ sự sống của mình, và phó thác nó cho Thiên Chúa. Khi ấy, Vinh quang của Thần tính tỏa chiếu như là Tất Cả Những Gì Hiện Hữu, bây giờ và mãi mãi về sau. Đó là cánh cửa cuối cùng dẫn vào Vô Tri và Toàn Thể của Thần tính. Nhờ đó, bạn đã nhận lại — và làm chủ — chính Thần tính của mình.
Từ thời điểm đó trở đi, bạn không còn kiểm soát được cuộc đời mình nữa. Bạn phụng sự Thiên Chúa bằng cách phục vụ đồng loại và mọi sự sống. Bằng cách yêu thương và phụng sự người khác, bạn phụng sự Thiên Chúa, và họ không khác gì Thiên Chúa, vì Chúa hiện diện trong vạn vật.
Hỏi: Học những giáo lý thoạt nhìn dường như là khó hiểu thì có lợi ích gì?
Trả lời: Chỉ khó hiểu đối với trí năng. Chúng gieo mầm, và hào quang tâm linh của đệ tử sẽ tiếp nhận trường năng lượng được truyền từ hào quang của sư phụ. Một số thông tin tự nó đã mang tính chuyển hóa. Tiếp xúc với sự thật cao siêu khơi dậy khát vọng trong tâm hồn. Đức Phật đã nhận xét điều đó khi Ngài nói rằng khi người ta đã nghe về sự thật chứng ngộ, họ sẽ không bao giờ hài lòng với bất cứ điều gì thấp kém hơn, dù có phải mất vô lượng kiếp sống để vươn tới nó.
Cực kỳ quan trọng là phải hiểu rằng bất kỳ đệ tử tâm linh tận tâm nào cũng có thể đột nhiên vươn tới tầng cực kỳ cao mà không có bất kỳ cảnh báo trước nào. Do đó, tất cả đệ tử nên được hướng dẫn trước về cách xử lý các trạng thái tâm thức rất cao. Đó không chỉ là một câu nói cửa miệng rằng thiên đường và địa ngục chỉ cách nhau một phần mười inch. Trên thực tế, bạn có thể đi từ tận cùng địa ngục đến những trạng thái cao nhất.
Một trong những lý do cho sự trì hoãn dường như vô tận trên con đường đến Chứng ngộ là nghi ngờ, chúng ta nên phó thác nó như là kháng cự. Quan trọng cần biết là trên thực tế, rất hiếm người cam kết với sự thật tâm linh đến mức nghiêm túc tìm kiếm Chứng ngộ, và những người thực hiện cam kết đó là vì họ thực sự có số Chứng ngộ.
Hiện nay, tiến hóa tâm linh đang diễn ra với tốc độ đáng kinh ngạc, và giờ đây dễ dàng tiếp cận những thông tin tâm linh mà trước đây không hề có. Hiện nay, tiến bộ của đệ tử tâm linh đã được đẩy nhanh và có lợi thế, đấy là nhờ tiếp cận với thông tin tâm linh mà trong quá khứ chỉ giới hạn ở một số ít người được chọn.
Tiến bộ tâm linh không diễn ra theo những bước thuận tiện, có thể xác định được, từng bước một, như Bản đồ Tâm thức dường như ngụ ý với các tầng đi lên của nó. Con đường không phải là tuyến tính. Bất ngờ là, những bước nhảy vọt lớn có thể xảy ra bất cứ lúc nào, và tất cả đệ tử sẽ có lợi thế khi biết được thông tin cần thiết tại những thời điểm nhất định trên con đường đó. Kiến thức cần thiết ở “điểm cuối” lại chính là điều thiết yếu ngay từ “khởi đầu”.
Biết được những gì cần phải biết để đạt tới các Trạng thái Thần thánh sẽ gia tốc tiến trình; nếu không, sẽ xuất hiện như là kháng cự vô thức của sợ hãi do thiếu hiểu biết. Nỗi sợ ấy được vượt qua nhờ việc đạt được hiểu biết cần thiết; vì thế, không còn gì để sợ, và mọi sợ hãi đều là vọng tưởng —Cái Biết cũng là điều bắt buộc ở những trạng thái rất cao. Bất kỳ đệ tử nào nghiêm túc về sự hòa hợp tâm linh và dâng hiến cho Thiên Chúa, cho Tình yêu, cho Sự thật, cho đồng loại, hoặc cho việc làm vơi bớt khổ đau của con người và của mọi sinh vật hữu tình, thì đã ở một mức tiến triển rất xa.
Việc áp dụng nhất quán bất kỳ nguyên lý tâm linh nào cũng có thể bất ngờ dẫn tới một bước nhảy vọt lớn và đột ngột lên những tầng không hề được dự liệu trước. Ở thời điểm ấy, trí nhớ thậm chí có thể không còn hiện diện, và thay vào đó, Cái Biết về Sự thật Tâm linh lặng lẽ tự hiển lộ. Các đệ tử nên chấp nhận thực tại rằng mình vốn đã được ban tặng Ân điển. Một độc giả nghiêm túc của một cuốn sách như thế này khó có thể là trường hợp khác. Thần tính tự nhận biết chính mình; vì thế, chấp nhận sự thật ấy tự thân nó đã mang lại hoan hỷ. Không trải nghiệm niềm vui khi hiểu điều này có nghĩa là sự thật ấy đang bị kháng cự. Nhận thức này được củng cố bởi hiểu biết rằng, trái với mô hình nhị nguyên Newton về thực tại, chúng ta không chỉ là hệ quả của quá khứ. Ngược lại, vị trí hiện tại của chúng ta phát sinh từ sức hút của tiềm năng, bởi vì cả quá khứ lẫn tương lai đều là vọng tưởng. Do đó, dấn thân vào Chứng ngộ, ngay trong giây phút này, trở thành như một nam châm kéo chúng ta về phía nó; và tốc độ tiến hóa tùy thuộc vào mức độ sẵn sàng buông bỏ kháng cự của mỗi cá nhân.
Chứng ngộ không phải là một điều kiện cần đạt được; nó chỉ đơn thuần là sự chắc chắn cần phải quy phục, vì Đại ngã đã là Thực tại của mỗi người. Chính Đại ngã đang thu hút người ta đến với thông tin tâm linh.
[i] Tantric sex (Tình dục Tantric). Là cách tiếp cận tình dục bắt nguồn từ truyền thống Tantra của Ấn Độ giáo và Phật giáo Kim Cang thừa, trong đó sự kết hợp nam – nữ không chỉ là hành vi sinh lý, mà được xem như một con đường chuyển hóa năng lượng và mở rộng tâm thức. Trong bối cảnh nguyên thủy của Tantra, sự hợp nhất này tượng trưng cho sự hợp nhất giữa hai nguyên lý vũ trụ: năng lượng chủ động và năng lượng tiếp nhận, hình tướng và tánh không, cá thể và Toàn thể. Vì vậy, “tantric sex” không nhấn mạnh vào khoái cảm đơn thuần, mà vào sự tỉnh thức, hiện diện trọn vẹn, và sự thăng hoa của năng lượng sống. Trong các diễn giải hiện đại, khái niệm này thường được hiểu là: Tình dục chậm rãi, có ý thức, Kéo dài sự kết nối thay vì hướng tới cực điểm nhanh chóng, Chú trọng vào hơi thở, ánh nhìn, và sự hợp nhất nội tâm. Tuy nhiên, cần phân biệt giữa truyền thống tâm linh nguyên bản và các biến thể phổ thông ngày nay, vì nhiều cách hiểu hiện đại đã đơn giản hóa hoặc tách rời khỏi nền tảng triết học sâu xa của Tantra.
[ii] True Identity - Bản lai diện mục: Chân tánh nguyên sơ của mỗi người, hiện hữu trước mọi hình tướng và vượt ngoài mọi khái niệm về bản ngã.

%20(4).png)
.png)



0 Comments