các bài trước:
https://cothemchutnua.blogspot.com/2026/05/giai-ma-ban-do-tam-thuc-4.html
https://cothemchutnua.blogspot.com/2026/05/giai-ma-ban-do-tam-thuc-3.html
https://cothemchutnua.blogspot.com/2026/05/giai-ma-ban-do-tam-thuc-2.html
https://cothemchutnua.blogspot.com/2026/05/giai-ma-ban-do-tam-thuc-1.html
---
https://phamnguyentruong.blogspot.com/2026/03/ban-o-tam-thuc-giang-giai-11.html
https://phamnguyentruong.blogspot.com/2026/03/ban-o-tam-thuc-giang-giai-12.html
https://phamnguyentruong.blogspot.com/2026/03/ban-o-tam-thuc-giang-giai-13-ky-cuoi.html
Chương 9
HƯỚNG DẪN DÀNH CHO NGƯỜI TÌM KIẾM TÂM LINH
Tìm kiếm Chứng ngộ là tìm kiếm sự hòa hợp với những mô thức điểm hút mạnh mẽ nhất. Hòa hợp với một trường năng lượng nhất định trên Bản đồ đơn giản có nghĩa là người đó đang nằm dưới ảnh hưởng của nó, tương tự như lực hấp dẫn. Khi trường năng lượng dưới tầng 200, hòa hợp sẽ có tác dụng phá hoại. Người ta quan sát được hiện tượng này về mặt lâm sàng ở những người nghiện cocaine không thể hồi phục nếu họ tiếp tục nghe nhạc rap bạo lực hoặc nhạc heavy metal. Chỉ có thể thoát khỏi trường năng lượng tiêu cực bằng cách liên tục tiếp xúc với trường năng lượng cao hơn, như người ta nói: “Tiếp tục quay lại – bạn sẽ nhận ra thông qua thẩm thấu”. Những người nghiện đang hồi phục mà rời bỏ trường năng lượng mang tính hỗ trợ của các chương trình tự giúp nhau thường tái nghiện, vì lúc này không còn đối trọng với lực kéo xuống của những thói quen tiêu cực. Khẳng định rằng “tự mình vượt qua” là triệu chứng của thái độ kiêu ngạo và tự phụ của bản ngã, có điểm hiệu chỉnh 175, thấp hơn sức mạnh của trường năng lượng đòi hỏi cho quá trình chữa lành.
Mặt khác, những người tìm kiếm chứng ngộ tìm cách hòa hợp với những trường năng lượng đầy sức mạnh có thể nâng họ ra khỏi những thói quen đã ăn sâu bén rễ của bản ngã. Quan trọng là ý chí, tức là lựa chọn liên tục lặp đi lặp lại. Ở đây, nguyên tắc của lý thuyết hỗn độn về sự phụ thuộc nhạy cảm vào điều kiện ban đầu (cùng với thời gian, thay đổi nhỏ có thể tạo được ảnh hưởng to lớn) cung cấp cho chúng ta giải thích khoa học về con đường tiến bộ tâm linh truyền thống. Trong tất cả các lĩnh vực tâm linh, yếu tố mở đầu để nâng cao nhận thức được mô tả là “sẵn sàng”. Lịch sử cho thấy hiện tượng mà người ta đã được biết trong lĩnh vực lâm sàng: sẵn sàng liên tục là yếu tố kích hoạt trường hút mới và tạo điều kiện để người ta bắt đầu rời bỏ trường hút cũ. Chúng ta có thể hình dung trường hút yếu hơn đang tiến gần đến trường hút mạnh hơn, đúng lúc đó, xuất hiện của yếu tố thứ ba (chẳng hạn như ý chí tự do) đột nhiên tạo ra điểm giao thoa (“mô thức yên ngựa” - a saddle pattern[i]), và diễn ra thay đổi.
Khi một người nào đó đột nhiên chuyển từ ảnh hưởng của trường hút yếu hơn sang trường hút mạnh hơn hơn, người ta thường nói rằng đó là phép màu. Thật không may là, kinh nghiệm của nhân loại nói rằng rất ít người thoát ra khỏi được những trường năng lượng đang từng bước chi phối hành vi của mình. Một chương trình tâm linh phổ biến hiện nay được thiết kế nhằm tạo điều kiện cho việc thoát ra là cuốn Sách bài tập (điểm hiệu chỉnh 600) của Khóa học về những điều kì diệu (A Course in Miracles). Mục đích của khóa học tâm lý mang tính tâm linh này là xây dựng nền tảng cần thiết nhằm tạo ra bước nhảy đột ngột trong tâm thức bằng cách khuyến khích người ta thay đổi hoàn toàn về tri giác. Những con đường truyền thống hơn, cầu nguyện và thiền định cũng cung cấp những điểm khởi đầu để vươn lên từ ảnh hưởng của trường năng lượng thấp hơn lên trường năng lượng cao hơn.
Trong các trường phái tâm linh phương Đông, người ta chấp nhận rằng người tu tập đơn độc, không được đạo sư giúp đỡ, khó có thể tạo được nhiều tiến bộ. Cần có hướng dẫn. Kinh nghiệm của tổ chức A.A. cho thấy, nếu không có người đỡ đầu giúp đỡ, người nghiện ma túy hay nghiện rượu sẽ không thể nào hồi phục được. Trong thể thao, những huấn luyện viên giỏi được săn đón vì họ truyền cảm hứng cho các vận động viên để họ thực hiện những nỗ lực cao nhất. Người tu tập có thể thúc đẩy tiến bộ của chính mình chỉ đơn giản bằng cách tập trung vào sư phụ cao cấp, nhờ đó hoà hợp với trường năng lượng của sư phụ; trong những lần kiểm tra của chúng tôi, đã nhiều lần chứng minh rằng việc giữ trong tâm trí hình ảnh của sư phụ cao cấp giúp mọi đối tượng kiểm tra đều trở nên mạnh mẽ, không phục thuộc niềm tin của cá nhân người đó.
HƯỚNG DẪN TÂM LINH
Cần nhớ là cả Sự thật lẫn Chứng ngộ đều không phải là cái cần tìm kiếm, săn lùng, đạt được, giành được hay sở hữu. Cái vốn là Hiện diện Vô biên thì luôn luôn hiện hữu; chứng ngộ về Nó sẽ tự diễn ra ngay khi những chướng ngại ngăn trở sự chứng ngộ ấy được tháo gỡ. Do đó, việc sử dụng công nghiên cứu sự thật là không cần thiết; điều cần làm chỉ là buông bỏ những gì là vọng tưởng sai lầm.
Mây tan, mặt trời sẽ chiếu sáng. Xua mây đi không làm cho mặt trời chiếu sáng mà chỉ đơn giản hé lộ những gì đã bị che giấu từ lâu. Do đó, công việc tâm linh chủ yếu là buông bỏ những điều được cho là đã biết để hướng tới những điều chưa biết, với lời hứa của những người đã làm được điều đó, rằng cuối cùng nỗ lực sẽ được đền đáp một cách xứng đáng. Ở xã hội người thường, vàng không được tạo ra mà chỉ lộ ra bằng cách đục bỏ những thứ che khuất nó.
Một trong những công cụ tâm linh quan trọng nhất là ý định, nó đặt ra các ưu tiên và hệ thống giá trị giúp tiếp thêm năng lượng cho nỗ lực của người đó. Công việc tâm linh là cam kết và cũng là quá trình khám phá. Những người đi trước đã mở đường, họ đã thiết lập khả năng đó trong tâm thức để những người khác có thể đi theo. Nhà sinh vật học Rupert Sheldrake đã chứng minh ảnh hưởng của trường tạo hình (trường M); nghĩa là, khi một người nào đó có thành tích trong một lĩnh vực cụ thể, thì thành công của người đó làm gia tăng khả năng là những người khác có thể làm được như thế. Cũng như Roger Bannister đã phá vỡ “trường M”: kỷ lục chạy một dặm trong bốn phút, những người vươn tới những tầng tâm thức cao hơn cũng đã để lại dấu ấn để những người khác đi theo.
Mỗi bước tiến trong nhận thức của chúng ta đều mang lại lợi ích, dù không nhìn thấy được, cho rất nhiều người và củng cố bước tiếp theo để cho những người khác đi theo. Mỗi hành động tử tế đều được vũ trụ ghi nhận và lưu lại mãi mãi. Khi được nhìn nhận đúng bản chất, lòng biết ơn sẽ thay thế tham vọng tâm linh. Trong Phật giáo truyền thống, người ta tìm kiếm Chứng ngộ vì lợi ích của toàn thể nhân loại; mọi món quà đều quay trở về cội nguồn của chúng.
Đến lúc thích hợp, ý định tâm linh và nhất tâm của người đó sẽ thay thế những tham vọng và ham muốn trần tục. Dường như, từng bước một, người đó bị lôi cuốn vào Đại ngã, như thể có một lực hấp dẫn tâm linh lôi kéo. Một trạng thái của Cái Biết thay thế cho lý trí và logic; khi đó, nhận thức trực giác tập trung vào bản chất của sự sống và các biểu hiện của nó, chứ không còn bận tâm tới các mục tiêu hay chi tiết của hình tướng. Tri giác bắt đầu thay đổi, và vẻ đẹp của tạo hóa thực sự tỏa rạng từ mọi người và mọi vật. Một khung cảnh đơn giản cũng có thể bất ngờ trở nên đẹp đẽ đến choáng ngợp, như thể đang tự phô diễn chính mình trong không gian ba chiều rực rỡ sắc màu.
CÂU HỎI VÀ TRẢ LỜI
Hỏi: Ông khuyên, “Hãy sống cuộc đời như một lời cầu nguyện.” Dường như khác với tập trung vào một số hoạt động tâm linh nhất định—đúng thế không?
Trả lời: Bằng ý định, toàn bộ đời sống của bạn trở thành dâng hiến. Chính bạn trở thành lời cầu nguyện. Nhờ đó, Thần tính được cầu khẩn, và sau đó thông qua trái tim, thông qua dâng hiến như thế, thông qua sự hòa hợp với Thần tính, toàn thể nhân loại được trao quyền. Tự đánh giá: Tôi đã tiến bộ đến đâu? Người khác nghĩ tôi đã tiến bộ đến đâu? Đều chẳng có giá trị gì. Người duy nhất bạn phải chịu trách nhiệm là chính mình. Khi bạn làm mọi thứ có thể nhằm phát huy hết tiềm năng của mình, biết rằng bạn phải chịu trách nhiệm về người mà bạn đang là và những việc bạn đã làm, thì ngay cả những sai lầm của bạn cũng được thánh hóa. An tâm khi biết rằng động lực để tìm kiếm Thiên Chúa là Thiên Chúa. Chính nhờ Ân phước của Thiên Chúa mà bạn thậm chí còn quan tâm đến sự thật tâm linh. Nếu không có ảnh hưởng của Thần tính, thì sẽ không có người nào tìm kiếm Thiên Chúa, bởi nếu cứ để mặc cho những toan tính của mình, con người sẽ chẳng bao giờ mảy may nghĩ đến việc đó.
Hỏi: “Tiến bộ” tâm linh là gì?
Trả lời: Tiếp cận tiến bộ tâm linh không phải là “đến nơi nào đó”, vì không có “nơi nào” để đến. Thay vào đó, những giáo lý tâm linh đích thực hướng dẫn bạn siêu việt bản ngã và rũ bỏ mọi vọng tưởng để Sự thật được mặc khải. Tu tâm là vượt qua và siêu việt những khuyết điểm thường gặp của con người, vốn nằm sẵn trong cấu trúc của bản ngã con người. Bất kỳ khuyết điểm nào của bạn cũng đều không phải là vấn đề cá nhân; chúng không chỉ là của riêng bạn mà thực chất là vấn đề của chính bản ngã của con người. Bản ngã, tự nó, không mang tính cá nhân. Bạn có thể muốn nghĩ, Ồ, tôi và sự tiến bộ của tôi, hoặc Tôi và tội lỗi của tôi, hoặc Tôi và những khó khăn của tôi, nhưng cái mà bạn đang nói tới không phải là tự ngã cá nhân của bạn. Vấn đề nằm ở chính bản ngã, là cái mà bạn thừa hưởng khi trở thành một con người. Bản ngã là sản phẩm của não bộ và là chức năng của não bộ; ở mỗi cá nhân, các chi tiết về cách nó biểu hiện sẽ khác nhau, phụ thuộc vào nghiệp lực từ quá khứ.
Hỏi: Ông nói rằng bản ngã không phải là “xấu”—rằng tốt nhất nên đối xử với nó như một “con thú cưng” nho nhỏ, điều này mang lại sự hài hước cho quá trình tu tập. Ông có thể giải thích rõ hơn không?
Trả lời: Hài hước là một trong những công cụ tinh thần quý giá nhất, trong quá khứ, người ta ít nói tới. Cười nhạo sự kịch tính của bản ngã giúp chúng ta vượt lên trước nó. Hài kịch nảy sinh từ so sánh giữa tri giác và bản chất. Ví dụ, diễn viên hài nói, “Người theo trào lưu New Age là gì?” Dừng một chút. “Là người đi đến cửa hàng và mua tất cả cây bắt ruồi tên là Venus, rồi muốn chúng trở thành người ăn chay!” Chúng ta hiểu được sự phi lý khi cố gắng thuyết phục cây bắt ruồi Venus ăn thịt trở thành người ăn chay: “Em thích dưa chuột, phải không, cưng? Đây—thử một miếng cà chua xem!” Câu chuyện cười giúp chúng ta cười nhạo sự ngây thơ và non nớt của bản ngã, khi nó muốn người khác phục tùng những lý tưởng và đạo đức được “tâm linh hóa” của mình.
Hài hước khác hẳn với chế giễu hay ác ý, vì nó là từ bi khi chấp nhận những hạn chế và khuyết điểm của con người như là bản chất vốn có. Do đó, nó giúp “mặc thế gian như một chiếc áo mỏng” và minh họa cho tình huống là, khi trở thành giống như cây sậy, uốn theo chiều gió, là bạn tồn tại bằng cách sống vui vẻ, chứ không bị bẻ gẫy vì cứng nhắc. Khả năng tự cười nhạo chính mình là cần thiết để có tự trọng theo lối tích cực. Phản ứng với mọi thứ như thể đấy là những việc vô cùng quan trọng là kết quả của thói phù phiếm của cốt lõi ái kỷ của bản ngã (ví dụ, là người “nhạy cảm” hoặc “dễ bị xúc phạm”). “Đừng quá coi trọng chính mình”, là lời khuyên đầy trí huệ.
Hài hước là biểu hiện của tự do và niềm vui, và tiếng cười có tác dụng chữa lành. Trong khi mặc cảm tội lỗi và sám hối “mặc áo vải thô và rắc tro lên đầu” được nhấn mạnh trong các thế kỷ trước, có thể thấy rằng trên Bản đồ Tâm thức, chúng có điểm hiệu chính khá thấp. Thiên Chúa nằm trên đỉnh của Bản đồ, chứ không phải ở đáy. Đức tin, Tình yêu và Niềm vui là đường cao tốc; bi quan và u ám chỉ dẫn đến nỗi buồn và tuyệt vọng. Tự căm ghét chính mình làm lu mờ nhận thức về Đại ngã như là phản chiếu của Sáng Tạo Thiêng Liêng.
Hỏi: Còn ăn, nghi lễ, bài tập, kỹ thuật thở, thần chú và biểu tượng thì sao?
Trả lời: Không cần thiết. Cần nhận ra rằng các tôn giáo có mục đích và giới hạn riêng của mình. Con đường tâm linh dẫn đến Chứng ngộ là độc nhất vô nhị. Nó không giống như “thực hành tôn giáo”. Các tôn giáo có xu hướng nhấn mạnh các sự kiện lịch sử, vị trí địa lý và các nền văn hóa trong quá khứ cùng với các liên minh chính trị. Chứng ngộ xảy ra trong khoảnh khắc hiện tại và nằm ngoài thời gian, lịch sử hoặc địa lý, do đó không liên quan. Thần học liên quan đến tầng tâm thức từ 400 tới 499; Chứng ngộ liên quan đến tầng từ 600 trở lên.
Hỏi: Còn âm nhạc, hương trầm và vẻ đẹp kiến trúc thì sao?
Trả lời: Truyền cảm hứng và hỗ trợ cho một tâm trạng và thái độ tâm linh và tôn kính, giúp chuyển sự tập trung chú ý khỏi nội dung của suy nghĩ. Cái đẹp nâng con người lên và có điểm hiệu chỉnh trên 550, tương tự như cái hoàn hảo.
Hỏi: Rủi ro của kiến thức tâm linh là gì?
Trả lời: Mặt trái của giáo dục tâm linh là tích tụ thói kiêu ngạo rằng “Tôi biết” và thái độ coi thường những người “không có tâm linh”. Bản ngã tự gán cho mình công lao về hiểu biết tâm linh thay vì nhận ra rằng khả năng hiểu biết tự nó là một món quà tâm linh do Chúa ban cho. Biết ơn là liều thuốc chữa bệnh kiêu ngạo. Nếu một người tiếp thu thông tin và cảm thấy biết ơn về điều đó, thì kiêu ngạo tâm linh sẽ không còn nền tảng vững chắc nữa.
Kiêu ngạo tâm linh có thể hoạt động theo hai hướng, hoặc là bằng cách làm tăng tính kiêu ngạo, hoặc, ngược đời là, bằng cách cho rằng mình tệ hơn những người khác. Quan điểm: “Tôi chỉ là một con sâu vô giá trị” chỉ là kiêu ngạo trong bộ quần áo rách rưới thay vì mặc áo choàng đỏ mà thôi.
Hỏi: Có động lực cho công việc tâm linh không?
Trả lời: Một khi bạn vượt qua ranh giới quan trọng: Can Đảm (200), phần còn lại sẽ trở nên dễ tiếp cận hơn. Càng tiến bộ, càng có nhiều khả năng tiến bộ hơn nữa; và khi sự tiến bộ của bạn càng thoát ly khỏi “muốn” tiến bộ, bạn càng tiến bộ hơn! Ngay khi bạn bắt đầu quan tâm đến những vấn đề tâm linh, là bạn đã đi đúng hướng rồi, không cần phải lo lắng nữa. Không có người nào quan tâm đến cuốn sách như thế này trừ khi bạn có số vươn tới sự thật của nó, cũng giống như bạn sẽ không quan tâm đến các bài học lặn trừ khi bạn có kế hoạch lặn biển sâu. Đức Phật nói rằng một khi bạn đã nghe nói về Chứng ngộ, bạn sẽ không bao giờ hài lòng với bất cứ điều gì kém hơn. Chỉ cần nghe nói về nó thôi cũng đã in dấu vào tâm thức của bạn rồi.
NHỮNG PHẨM CHẤT VÀ THÁI ĐỘ QUÝ GIÁ NHẤT
CỦA NGƯỜI TÌM KIẾM TÂM LINH
Người ta thường hỏi: “Muốn có tiến bộ trong tâm thức thì cần phải có những phẩm chất và thái độ nào?”
Hãy bắt đầu với sự chắc chắn và cảm giác an toàn chứ đừng nghi ngờ chính mình hay nhút nhát. Chấp nhận không chút do dự rằng bạn xứng đáng với cuộc tìm kiếm này, và quyết tâm hoàn toàn phó thác cho sự thật về Thiên Chúa. Những sự kiện cần được chấp nhận không chút do dự rất đơn giản và vô cùng mạnh mẽ. Phó thác cho chúng sẽ mang lại tiến bộ tâm linh to lớn.
12 sự kiện tâm linh
1. Bằng chứng sống động về tình yêu và ý chí của Thiên Chúa dành cho bạn chính là món quà là sự tồn tại của bạn.
2. Không cần phải so sánh mình với người khác về “sự thánh thiện”, công đức, lòng tốt, sự xứng đáng, sự vô tội, v.v. Tất cả đều là những quan niệm của con người, Thiên Chúa không hạn cuộc trong những quan niệm đó.
3. Khái niệm “sợ Chúa” là vô minh. Chúa là an bình và tình yêu và không gì khác.
4. Mô tả Thiên Chúa như một “quan toà” là vọng tưởng của bản ngã, nảy sinh như là phóng chiếu của mặc cảm tội lỗi từ những hình phạt thời thơ ấu. Hãy nhận ra rằng Chúa không phải là cha mẹ.
5. Giáo lý của Chúa Kitô chỉ đơn giản là tránh tiêu cực (những tầng có điểm hiệu chỉnh dưới 200), và mục tiêu của những lời dạy của Ngài là để những đệ tử của Ngài vươn tới Yêu thương vô điều kiện (điểm hiệu chỉnh 540). Ngài biết rằng một khi đạt đến tầng Yêu thương vô điều kiện, số phận của linh hồn sau khi chết là chắc chắn và linh hồn được an toàn. Về cơ bản, đây là cùng một kết luận được các tôn giáo lớn trên thế giới rao giảng, chẳng hạn Tịnh Độ tông của Phật giáo.
6. Cứu rỗi và Chứng ngộ là hai mục tiêu hơi khác nhau. Cứu rỗi đòi hỏi sự thanh lọc bản ngã; Chứng ngộ đòi hỏi bản ngã phải tan rã hoàn toàn. Mục tiêu của Chứng ngộ đòi hỏi khắt khe và triệt để hơn.
7. Không phải “con người” cá nhân đang tìm kiếm Chứng ngộ mà là một phẩm chất phi cá nhân của tâm thức là động lực. Cảm hứng tâm linh và tận tâm thúc đẩy công việc.
8. Thoải mái thay thế sự bất an khi bạn nhận ra rằng mục tiêu quan trọng nhất đã được hoàn thành. Mục tiêu đó là bước trên con đường tận hiến tâm linh. Phát triển tâm linh không phải là một thành tựu mà là một lối sống. Đó là định hướng mang lại những phần thưởng riêng, và quan trọng là hướng đi của động cơ của bạn.
9. Mỗi bước tiến đều mang lại lợi ích cho mọi người. Thái độ tận hiến và công việc tâm linh của bạn là một món quà dành cho đời sống và tình yêu của toàn thể nhân loại.
10. Không có thời gian biểu hay lộ trình cụ thể nào để đến với Thiên Chúa. Mặc dù mỗi người có con đường riêng, nhưng địa hình cần vượt qua lại tương đối phổ biến đối với tất cả mọi người. Chi tiết khác nhau tùy thuộc vào nghiệp quả trong quá khứ.
11. Cầu nguyện tha thiết làm tăng thêm tận tâm và cảm hứng, đồng thời thúc đẩy tiến bộ.
12. Ân phước của Thiên Chúa là dành cho tất cả mọi người. Sức mạnh của bản ngã có thể rất đáng gờm, và nếu không có sự trợ giúp của sức mạnh từ các giác giả tâm linh cao hơn, thì tự nó không thể siêu việt được nó. May mắn là, sức mạnh của tâm thức của mỗi vị đạo sư vĩ đại hay các thánh thần giáng thế đã từng sống vẫn còn tồn tại. Trong quá khứ, “Ân phước của Giác giả” luôn có đó cho người tìm kiếm tâm linh tận tâm. Tập trung vào một đạo sư hoặc những giáo lý của họ bằng thiền định giúp ta có thể cầu khẩn sức mạnh và năng lượng của đạo sư đó. Ý muốn của mỗi giác giả đã thực sự chứng ngộ là mọi đệ tử đều thành công, chứ không chỉ các thành viên của một nhóm cụ thể. Cũng như người tìm kiếm tâm linh đơn độc mang lại lợi ích cho toàn thể nhân loại, thì Chứng ngộ của các đạo sư cũng mang lại lợi ích cho người tìm kiếm. Không có yêu cầu hay nghĩa vụ nào.
14 nguyên lý tâm linh
Tiến hóa trên Bản đồ Tâm thức được đẩy nhanh nếu tuân theo một số nguyên lý tâm linh nhất định, và cùng với thời gian, sẽ làm sáng tỏ tri giác của bản ngã: Tôi nhìn nhận thế giới đúng như nó đang là. “Con đường” tiến bộ tâm linh thông qua tâm thức thực ra không phức tạp mà lại đơn giản.
1. Nhìn đời sống không phải là giành giật lợi ích mà là cơ hội học hỏi, ngay cả trong những chi tiết nhỏ nhất của cuộc đời cũng có nhiều cơ hội như thế. Phẩm chất tâm linh quan trọng nhất thực sự là thái độ bao trùm. Thái độ tâm linh đưa người ta trở thành thân thiện, tử tế và có thiện chí với tất cả sự sống. Chúng ta thấy mình bước đi cẩn thận khi tránh một con kiến, chứ không giẫm lên nó, không phải vì “bắt buộc” hay quy tắc tôn giáo mà xuất phát từ nhận thức sâu sắc hơn về giá trị của tất cả sự sống. Chúng ta sẽ thấy rằng tất cả các loài động vật đều thực sự là những cá thể phản ứng lại thái độ tôn trọng và quan tâm. Ngay cả thực vật cũng nhận thức được khi bạn tỏ ra yêu thương và ngưỡng mộ chúng.
2. Phát triển thái độ khiêm nhường, với nhận thức rằng tâm trí và biểu hiện bên ngoài của mình vốn có khá nhiều hạn chế. Bạn ngày càng nhận thức rõ hơn rằng cuộc đời được lọc qua tri giác và những gì bạn thấy trên thế gian chủ yếu là thái độ và tri giác chứ không phải là những thực tại tồn tại độc lập, bên ngoài. Mỗi “sự việc” đơn lẻ đều là hệ quả của vô số điều kiện, không nhìn thấy được và không thể nào biết được, vì “nguyên nhân” của bất cứ cái gì cũng là toàn bộ vũ trụ cho đến thời điểm đó. Chỉ người toàn tri mới có thể xác định được ý nghĩa của nó, và do đó, với thái độ khiêm nhường, bạn thừa nhận mình chưa phải là toàn tri! “Tôi biết” nhường chỗ cho “Tôi không biết”.
3. Sẵn sàng bỏ qua và tha thứ. Thái độ sẵn sàng này cho phép đệ tử tâm linh nghiêm túc từ bỏ những nhiệm vụ tự phong cho mình là người phán xét, sửa chữa, kiểm soát, chỉ đạo và thay đổi thế giới, và thể hiện ý kiến về mọi thứ trên đời. Là đệ tử tâm linh nghiêm túc, người đó không còn bắt buộc phải tiếp tục làm những công việc này; thay vào đó, chúng được chuyển cho công lý thiêng liêng. Vì tâm trí không biết Thực tại là gì, việc từ bỏ những bổn phận cũ sẽ là giải thoát và cũng chấm dứt nhiều mặc cảm tội lỗi. Do đó, việc từ bỏ “sự nghiệp” và các cuộc biểu tình vì những người bị áp bức, bị chà đạp, các nạn nhân khác và tình cảm sướt mướt là rất hữu ích. Mỗi người chỉ đơn thuần là đang hoàn thành số phận của chính mình; hãy để họ làm điều đó. Với thái độ không dính chấp, người ta sẽ nhận thấy rằng hầu hết mọi người đều vui thích với những bi kịch trong cuộc đời của mình.
4. Quan sát mọi người với tâm từ bi. Quan sát sẽ phát hiện được rằng vẻ ngoài là một kẻ lừa dối vĩ đại. Hầu hết mọi người đều trông như người đã trưởng thành nhưng thực chất lại hoàn toàn không phải là người đã trường thành. Về mặt cảm xúc, hầu hết vẫn còn là trẻ con. Những cảm xúc và thái độ thịnh hành ở trường mẫu giáo và trên sân chơi tiếp tục thể hiện trong cuộc đời của người đã trưởng thành nhưng được che giấu dưới những thuật ngữ nghe có vẻ trang trọng hơn. Bên trong hầu hết mọi người đều có một đứa trẻ chỉ đang bắt chước người lớn mà thôi. Cái “đứa trẻ bên trong” mà chúng ta nghe nói đến nhiều thực ra không hề ở bên trong; nó thực chất khá “bên ngoài”.
Khi lớn lên, người ta tiếp nhận nhiều bản sắc khác nhau và bắt chước những gì họ cho là hành vi và phong cách của người trường thành; tuy nhiên, không phải người trưởng thành đang làm việc này mà đứa trẻ đang làm. Do đó, những gì chúng ta thấy trong cuộc sống hàng ngày là mọi người đang diễn lại những chương trình và kịch bản mà họ đồng nhất với như là một đứa trẻ. Trẻ em, cũng như hầu hết các loài động vật, thể hiện sự tò mò, than thân trách phận, ghen tị, đố kỵ, nổi nóng, bộc phát cảm xúc, oán giận, thù hận, ganh đua, cạnh tranh, bướng bỉnh và dễ nổi cáu. Tìm kiếm chú ý và ngưỡng mộ, đổ lỗi cho người khác, từ chối trách nhiệm, cho rằng người khác sai, tìm kiếm ưu ái, sưu tầm “đồ vật”, khoe khoang, và nhiều hơn thứ khác đều là những đặc điểm của trẻ con.
Khi quan sát các hoạt động hàng ngày của hầu hết người trưởng thành, chúng ta nhận ra rằng thực ra chẳng có gì thay đổi hết. Nhận thức này giúp ta hiểu bằng tâm từ bi chứ không còn lên án nữa. Bướng bỉnh và chống đối, đặc trưng của đứa trẻ hai tuổi, tiếp tục chi phối tính cách khi người ta đã già. Thỉnh thoảng, về tính cách, người ta cũng chuyển từ tuổi thơ sang tuổi thanh thiếu niên và trở thành những người không ngừng tìm kiếm cảm giác mạnh và thách thức số phận; họ bị ám ảnh bởi cơ thể, cơ bắp, tán tỉnh, nổi tiếng, và những cuộc chinh phục tình ái và tình dục. Có xu hướng trở thành dễ thương, e thẹn, quyến rũ, hào nhoáng, anh hùng, bi kịch, kịch tính, và khoa trương. Một lần nữa, đây là ấn tượng của đứa trẻ về tuổi thanh thiếu niên được thể hiện ra. Đứa trẻ bên trong ngây thơ và dễ bị ảnh hưởng, dễ bị lập trình, dễ bị quyến rũ và thao túng.
5. Nuôi dưỡng thái độ tò mò về và làm quen với bản chất của tâm thức. Làm như vậy sẽ giúp bạn dễ dàng thôi phản ứng, cả bên trong lẫn bên ngoài, với người khác. Đời người, ngay cả trong những hoàn cảnh thuân lợi nhất, là rất khó khăn. Người nào cũng có đủ những thất vọng, chậm trễ, quên lãng, xung động và những căng thẳng đủ mọi hình thức. Nhu cầu thường cao hơn khả năng, và thời gian tạo ra áp lực. Bạn sẽ nhận thấy rằng bản ngã của mọi người đều gần như giống nhau.
Tâm trí được di truyền lại và có não bộ được điều khiển bởi các gen và một “bộ” tính cách được xác định về mặt di truyền. Nghiên cứu cho thấy nhiều đặc điểm của tính cách đã có sẵn từ khi mới ra đời. Rất ít người thực sự có thể trở thành khác với con người mà họ đang là. Chỉ có một ít người tìm cách tự hoàn thiện hoặc phát triển tâm linh. Đấy là do dù có tự phê phán mình như thế nào, thì hầu hết mọi người đều bí mật tin rằng cách sống của họ có lẽ là cách sống đúng đắn duy nhất. Họ tin rằng hiện nay mình khá ổn, và tất cả các vấn đề đều do tính ích kỷ, bất công của người khác và thế giới bên ngoài gây ra.
6. Tìm cách ban phát tình yêu hơn là nhận lại. Hầu hết mọi người tin rằng tình yêu là cái bạn nhận được, đó là một loại cảm xúc, phải xứng đáng mới có được nó, và càng cho đi nhiều thì càng mất. Sự thật lại hoàn toàn ngược lại. Yêu thương là thái độ làm chuyển hoá trải nghiệm của chúng ta về thế giới. Chúng ta biết ơn những gì mình có thay vì kiêu ngạo. Chúng ta thể hiện tình yêu thương khi thừa nhận người khác và những đóng góp của họ cho cuộc đời và cho sự thuận tiện của chúng ta. Tình yêu không phải là một cảm xúc mà là một cách sống và cách ứng xử với thế gian.
7. Tránh tạo ra “kẻ thù”. Mọi người thường rơi vào cái bẫy trả thù hoặc liên tục đưa ra những lời nhận xét “chọc giận” người khác. Họ tạo ra kẻ thù và thái độ thù địch. Làm như thế là ngăn cản đời sống an bình. Không ngươi nào cần kẻ thù. Họ có thể trả đũa theo những cách bất ngờ nhất và dẫn đến những hậu quả đáng tiếc. Không có cái gọi là “người giành chiến thắng” trong một cuộc xung đột; nó chỉ làm cho “bên thua” thù hận mà thôi. Luôn luôn nhận trách nhiệm về mọi việc xảy ra với mình và tránh rơi vào bẫy nạn nhân sẽ có ích cho quá trình tiến bộ tâm linh. Từ một nhãn quan cao hơn, không hề có nạn nhân. Chẳng có gì trong thế giới hình tướng này có đủ quyền năng để gây ra bất cứ điều gì.
8. Chọn một vai trò và quan điểm sống nhân từ. Quan điểm khắc nghiệt không có lợi cho quá trình phát triển tâm linh. Ngay cả khi quan điểm đó là “đúng” hay “có lý”, người tìm kiếm tâm linh cũng không thể chấp nhận. Phải từ bỏ sự xa xỉ của việc trả thù hoặc tận hưởng cảm giác “công lý đã được thực thi” khi kẻ được cho là đã giết người bị đem ra hành quyết. Không thể vi phạm các nguyên tắc tâm linh cơ bản mà không phải trả giá. Người tìm kiếm tâm linh nhìn thấu vọng tưởng và do đó từ bỏ vai trò thẩm phán và bồi thẩm đoàn. Không người nào thoát tội, như người phẫn nộ thường phản đối. Bằng kiểm tra cơ thể động học, có thể nhanh chóng khẳng định rằng vũ trụ không bỏ sót một chút nào; theo nghĩa đen, từng sợi tóc trên đầu đều được đếm, từng con chim sẻ rơi xuống đều được ghi nhận.
9. Từ bỏ mặc cảm tội lỗi. Mặc cảm tội lỗi là nỗ lực nhằm mua chuộc cứu rỗi, thao túng Thiên Chúa, và mua chuộc tha thứ bằng cách chịu đau khổ. Những thái độ này bắt nguồn từ cách hiểu sai về Thiên Chúa, coi Ngài như là Người trừng phạt tàn khốc. Chúng ta nghĩ rằng sẽ xoa dịu được cơn thịnh nộ chính đáng của Thiên Chúa bằng những đau đớn và sự sám hối của mình. Thực tế chỉ có một hình thức “sám hối” thích hợp cho những hành vi sai trái, đó là thay đổi. Thay vì lên án cái tiêu cực, hãy chọn cái tích cực.
Tiến bộ và thay đổi chính mình cần nhiều nỗ lực hơn là cảm thấy có tội, nhưng đó là một phản ứng phù hợp hơn. Từ Bản đồ Tâm thức, chúng ta thấy rằng Mặc cảm tội lỗi nằm ở dưới đáy, trong khi Thiên Chúa ở tận đỉnh. Do đó, đắm chìm trong mặc cảm tội lỗi ở đáy của trường tâm thức sẽ không đưa người nào lên tới đỉnh!
Khiêm nhường có nghĩa là nhìn nhận cuộc đời mình như là quá trình tiến hóa của tâm thức tâm linh. Chúng ta học hỏi từ những sai lầm. “Lúc đó dường như đó là ý tưởng hay” có lẽ là câu nói hữu ích nhất để xem xét lại bất kỳ hành vi nào trong quá khứ. Tất nhiên, sau này, khi nhìn lại, nó được đặt vào bối cảnh mới, và nếu nhận ra sai lầm, thì khôn ngoan có thể sẽ tới. Về bản chất, tất cả chúng ta đều vô tội, vì đó là bản chất của tâm thức.
Cùng với việc từ bỏ mặc cảm tội lỗi, việc từ bỏ “tội lỗi” như một thực tại cũng rất hữu ích. Sai lầm có thể được sửa chữa; tội lỗi (tức là vô minh) là lỗi lầm và có thể được tha thứ. Hầu hết những gì mọi người gọi là tội lỗi là chấp trước, cảm xúc bắt nguồn từ đứa trẻ bên trong. Thực chất chính đứa trẻ đó nói dối, ăn cắp, lừa đảo, gọi người khác bằng những lời lẽ xúc phạm và đánh người khác; do đó, tội lỗi thực sự là chưa trưởng thành và vô minh về bản chất thực sự của Thực tại và bản chất của tâm thức. Khi các giá trị tâm linh thay thế các giá trị thế tục, cám dỗ giảm đi và sai lầm ít có khả năng xảy ra hơn.
10. Hãy buông bỏ kháng cự và tìm thấy niềm vui khi cống hiến 101%. Sẵn sàng là nền tảng của mọi tiến bộ tâm linh cũng như thành công trên thế gian. Cảm giác khó chịu xuất phát từ kháng cự, khi buông bỏ kháng cự, nó sẽ được thay thế bằng cảm giác mạnh mẽ, tự tin và vui vẻ.
Trong bất kỳ nỗ lực nào, đều có một điểm kháng cự, và điểm đó trở thành rào cản. Khi vượt qua được rào cản này, nỗ lực sẽ trở thành dễ dàng. Các vận động viên cũng như những người lao động chân tay thường khám phá được hiện tượng này. Đột nhiên nguồn năng lượng khổng lồ được giải phóng, xuất hiện trong trạng thái gần như chứng ngộ, trong đó mọi thứ diễn ra một cách tự nhiên. Có một sự bình yên, thanh thản và tĩnh lặng. Người vũ công ba lê hay người lao động kiệt sức gần với khám phá được Thiên Chúa hơn là họ nghĩ. Nhận thức về sự hiện diện của Thiên Chúa được bắt đầu bằng phó thác. Thường thì chính trong vực sâu của tuyệt vọng, bản ngã mới buông bỏ, để tất cả các cuộc khủng hoảng đều có thể biến thành cơ hội khám phá tâm linh.
11. Nhận ra rằng “Sự thật” phụ thuộc vào bối cảnh. Tất cả sự thật chỉ đúng trong tầng tâm thức nhất định. Ví dụ, tha thứ là đáng khen, nhưng sau đó, người ta nhận ra rằng thực ra chẳng có gì để tha thứ hết. Không có “người khác” nào để được tha thứ. Bản ngã của mọi người, kể cả của chính mình, đều không có thật. Tri giác không phải là thực tại.
12. Thực hành không chấp trước, đó là rút lui khỏi ràng buộc về mặt cảm xúc vào các vấn đề của thế gian. Nó dẫn đến thanh thản và an bình trong tâm trí. Từ chối sự cám dỗ về mặt cảm xúc từ những nỗi buồn và vấn đề của người khác có tác dụng hỗ trợ. Nó cũng bao gồm sẵn sàng để cho thế giới tự giải quyết các vấn đề và vận mệnh của chính mình. Can thiệp và tham gia theo lối phản ứng trước những vấn đề của thế gian có thể được dành cho những người có sứ mệnh khác.
Một “người tốt” là một chuyện; Chứng ngộ lại là chuyện khác. Bạn chịu trách nhiệm về nỗ lực chứ không phải về kết quả, điều đó tùy thuộc vào Thiên Chúa và vũ trụ.
Không chấp trước không phải là thờ ơ hay vô cảm. Hiểu sai nó như là điều kiện cần thường dẫn đến thái độ nhạt nhẽo hoặc Thờ ơ. Ngược lại, không chấp trước cho phép tham gia trọn vẹn vào đời sống mà không cố gắng kiểm soát kết quả.
13. Chấp nhận rằng mọi thứ đều phục vụ một mục đích nào đó. Chấp nhận là phương thuốc tuyệt vời để chữa lành xung đột, mâu thuẫn và buồn phiền. Nó cũng điều chỉnh những mất cân bằng lớn của tri giác và ngăn chặn, không cho những cảm xúc tiêu cực nắm quyền thống trị. Khiêm nhường có nghĩa là chúng ta sẽ không hiểu hết mọi sự kiện hay diễn biến. Chấp nhận không phải là thụ động mà là không có lập trường cụ thể nào. Có thể tránh được sự phồng lên của bản ngã tâm linh bằng cách nhận ra rằng tiến bộ tâm linh là kết quả của Ân phước của Thiên Chúa chứ không phải nỗ lực cá nhân của chúng ta.
14. Tránh xa những Guru giả mạo. Nhấn mạnh đi nhấn mạnh lại cũng không thừa. Người mới bắt đầu tìm kiếm tâm linh ngây thơ dễ bị lung lay bởi hình thức bên ngoài và danh tiếng của các nhân vật tâm linh và sức hút của những người có nhiều đệ tử. Nếu không có nhận thức tâm linh về các trạng thái tâm thức cao, người tìm kiếm tâm linh không có phương tiện hướng dẫn nào, và sự nổi tiếng làm lu mờ khả năng phán đoán.
Ở giai đoạn này trong lịch sử loài người, không thể tin cậy bất kì một cột mốc nào ngoài bài kiểm tra cơ thể động học về hiệu chỉnh thực tế tầng tâm thức của đạo sư, tổ chức hoặc giáo lý. Người ngây thơ bị ấn tượng bởi vẻ bề ngoài mộ đạo và những lời tuyên bố về sức mạnh siêu nhiên, những kỳ tích huyền bí, những danh hiệu hão huyền và những trang phục “tâm linh” đặc biệt. Những đệ tử tâm linh nghiêm túc được khuyến khích xác minh từng đạo sư hoặc giáo lý theo danh sách “Đặc điểm của những đạo sư và giáo lý chính trực” trong Chương 8.
CÂU HỎI VÀ TRẢ LỜI
Hỏi: Giá trị của việc hiện diện trực tiếp trong tâm thức của người thầy là gì?
Trả lời: Bên trong hào quang của bạn có rất nhiều điều bạn đã học được trong thế giới này, hầu hết là phi ngôn ngữ, mà bạn không thể chia sẻ. Bạn không có đủ thời gian để ngồi xuống và mô tả cho mọi người tất cả những gì bạn từng biết về cuộc sống theo lối tuyến tính. Toàn bộ cuộc đời bạn và tất cả trí tuệ tập thể và trải nghiệm tồn tại như một trường năng lượng. Khi bạn chia sẻ con người mà bạn đã trở thành với người khác—chỉ đơn giản bằng cách ở bên cạnh họ—họ sẽ tiếp nhận trường năng lượng của tất cả những kiến thức đó.
Đó là cách mà đạo sư tâm linh truyền đạt trạng thái Chứng ngộ thông qua trường năng lượng. Hào quang của đạo sư cao cấp, đã chứng ngộ chứa đựng trí tuệ tập thể xuyên qua mọi thời đại. Thời gian trên trần thế là không thể nào đủ để diễn giải hết những điều này trong những bài giảng theo lối tuyến tính. Bạn có thể rút ra một số nguyên tắc từ đó, nhưng các nguyên tắc đó chỉ là những nguyên tắc cơ bản. Bất cứ điều gì đang nói với bạn ngay trong lúc này là sự tích lũy ảnh hưởng của các đạo sư từ thời Đức Phật. Vậy nên trường năng lượng của Đức Phật đang hiện hữu ở đây, ngay trong lúc này (được hiệu chỉnh là đúng). Điều đang nói với bạn ngay trong lúc này được tiếp thêm sức mạnh bởi tất cả các đạo sư vĩ đại đã từng sống. Mỗi đạo sư vĩ đại từng sống đều để lại sức mạnh của trường năng lượng đó trong tâm thức tập thể của nhân loại. Đó là lý do vì sao nhân loại tiến bộ. Nếu không, nếu mỗi thế hệ phải bắt đầu lại từ đầu, nhân loại sẽ không có được vị trí như ngày hôm nay.
Hỏi: Nghĩa vụ với sư phụ?
Trả lời: Hoàn toàn không cần gì hết. Sự quan tâm của người nghe là quá đủ. Nghĩa vụ duy nhất bạn nên chấp nhận là nghĩa vụ với chính bản thân mình, đó là vận dụng những trí tuệ đã học và thực hành chúng để siêu việt bản ngã. Tôn trọng sư phụ, nhưng chỉ tôn kính Thiên Chúa.
Hỏi: Làm thế nào để mô tả hoặc gọi tên giáo lý và con đường mà ông đại diện?
Trả lời: Đó là con đường của nhà huyền môn và đại diện cho “bất nhị sùng kinh”.
Hỏi: Chúng ta có thể dùng thuật ngữ đó để chỉ những giáo lý này không?
Trả lời: Vâng, nói thế là đúng. Đó là con đường của sự thật triệt để.
Hỏi: Liệu có thể có những bước nhảy vọt lớn trong tâm thức?
Trả lời: Những bước nhảy vọt lớn trong tâm thức là kết quả của việc phó thác cho Thiên Chúa. Thể hiện trong xã hội của chúng ta ở những người đã “chạm đáy”. Thái độ ngang bướng/kiêu ngạo được buông bỏ và chuyển hóa xảy ra. Ngược đời là, từ vực sâu của địa ngục, người ta lại thấy thiên đường rất gần. Chúng ta thấy điều này trong cái gọi là cải đạo, tù nhân biến thành một người hiền lành, yêu thương và gần như thánh thiện. Tù nhân thường trải qua những giai đoạn nhận thức lớn lao và trở nên hoàn toàn trái ngược với con người trước đây của mình. Mặc khải đột ngột này cũng xảy ra đồng thời với những trải nghiệm cận tử. Do đó, có thể đột nhiên siêu việt nhiều tầng tâm thức. Nhưng trước đó thường có những khoảng thời gian dài đau khổ nội tâm. Cải đạo thực sự được chứng thực bằng một bước nhảy vọt lớn trong tầng tâm thức được hiệu chỉnh.
Khi những người có khuynh hướng tâm linh tiếp xúc với thông tin được cung cấp ở đây, tâm thức của họ được nâng lên một cách rõ rệt. Sau mỗi bài giảng, tầng tâm thức được hiệu chỉnh của cử toạ gia tăng, trung bình, từ 10 đến 40 điểm. Có thể khác nhau ở từng cá nhân, từ thấp nhất là bốn điểm đến cao nhất là hàng trăm điểm. Trong nhóm, có sự khác biệt lớn, đấy là do “sự chín muồi mang tính nghiệp báo”. Vì hầu hết mọi người chỉ tăng khoảng năm điểm trong suốt cuộc đời, nên những con số này là rất đáng kể.
Hỏi: Người tìm kiếm “cao cấp” là gì?
Trả lời: Người tìm kiếm cao cấp hơn đã nghe nói rằng không có “ở ngoài kia” hay “ở trong này” và do đó chịu trách nhiệm cho tất cả những việc xảy ra. Có nhận thức từng bước một rằng tất cả những gì dường như xảy ra thực sự đại diện cho những gì đang được giữ trong những gì trước đây được coi là “bên trong”. Do đó, khuynh hướng phóng chiếu bị xóa bỏ. Vị thế “nạn nhân vô tội”, với tất cả sự “vô tội” giả tạo của nó, bị vạch trần.
Do đó, nghịch cảnh được coi là kết quả của những gì trước đây đã bị phủ nhận và kìm nén vào vô thức. Bằng cách nhìn vào bên trong, bạn tìm thấy nguồn gốc của nghịch cảnh, để có thể giải quyết nó. Niềm tin là yếu tố quyết định những gì bạn trải nghiệm. Không có “nguyên nhân” bên ngoài. Bạn khám phá ra những lợi ích bí mật có được từ những sự phóng chiếu bí mật trong vô thức. Có thể khám phá các chương trình tiềm ẩn bằng cách đơn giản là lập danh sách những bất bình và khổ đau của bạn và sau đó chỉ quay chúng đúng một trăm tám mươi độ thành ngược lại.
Cảm thấy “mọi người ghét mình” thực chất bắt nguồn từ những hận thù ẩn sâu trong chính bạn. Cảm giác “mọi người chẳng quan tâm gì đến mình” bắt nguồn từ thói ái kỷ, khi bạn quá mải mê với hạnh phúc và lợi ích cá nhân thay vì nghĩ cho người khác. Ý nghĩ “mình không được yêu thương” bắt nguồn từ việc bạn đã không trao cho người khác tình yêu. Cảm thấy “mọi người thô lỗ với mình” bắt nguồn từ sự việc bạn chưa chân thành và lịch thiệp với người khác. Còn cảm giác “người khác ghen tị với mình” bắt nguốn từ thái độ đố kỵ với người khác. Vì vậy, khi bạn dám chịu trách nhiệm với tư cách là tác giả tạo ra thế giới của riêng mình, bạn sẽ tiến gần hơn đến cội nguồn của mọi vấn đề — nơi mà bạn thực sự có khả năng để xoay chuyển và sửa chữa nó.
Bằng cách yêu thương người khác, bạn sẽ khám phá ra rằng mình lúc nào cũng tràn ngập yêu thương. Khi bạn hết lòng ủng hộ đời sống mà không mong cầu lợi ích, cuộc đời sẽ đáp lại. Khi bạn không coi lợi ích như là động cơ, cuộc sống sẽ đáp lại bằng sự hào phóng mà bạn không ngờ tới. Khi nhìn theo cách này, những điều kỳ diệu bắt đầu xuất hiện trong cuộc sống của bạn. Hài hòa hiển lộ như những khám phá bất ngờ, trùng hợp ngẫu nhiên và vận may, và cuối cùng là nhận ra rằng đây chính là những gợn sóng quay trở lại với bạn từ trung tâm của tâm thức.
Hỏi: Sẽ xảy ra chuyện gì, nếu một người tự cho mình đang sống ở tầng tâm thức vượt xa con người mà người đó đang là?
Trả lời: Bên cạnh sự tự phụ của bản ngã/tâm trí rằng nó “biết” điều gì đó bởi vì nó đã nghe nói về điều đó (đọc một cuốn sách về golf không làm cho người ta trở thành một tay chơi golf chuyên nghiệp), còn có sai lầm khi lẫn lộn các tầng sự thật. Đôi khi những đệ tử tâm linh tưởng tượng ra hình ảnh về những trạng thái cao hơn trông như thế nào, và sau đó bản ngã cố gắng tạo ra hoặc thực hiện nó. Rất khác với việc thực sự “trở thành” nó.
Những thực tại rõ ràng của một tầng tâm thức cụ thể không nhất thiết là những thực tại của một tầng khác, như được chỉ ra bởi các ký hiệu bằng số của các tầng tâm thức được hiệu chỉnh. Ví dụ, một người nào đó có thể trích dẫn câu nói nổi tiếng của Ramana Maharshi: “Cố gắng cứu thế giới là vô ích, vì thế giới mà người đó nhìn thấy thậm chí không tồn tại.” Đó là sự thật và là thực tại được trải nghiệm ở tầng tâm thức 720, nhưng đó không phải là thực tại được trải nghiệm ở các tầng tâm thức thấp hơn. Tốt nhất là chỉ cần “là con người mà bạn đang là” và trung thực với thực tại có giá trị và đúng, có thể trải nghiệm được ở tầng phát triển của bạn.
Mỗi tầng cũng có những khả năng tương ứng cũng như những hạn chế riêng, khá khác nhau. Ví dụ, có lẽ Ramana Maharshi có thể an toàn đi bộ qua đường cao tốc đông đúc với đôi mắt nhắm chặt, nhưng người bình thường khó có thể trải nghiệm chuyện đó, người bình thường có lẽ không thể bắt chước hành vi như thế mà không bị xe cán!
Hỏi: Công việc tâm linh có ích cho thế giới không?
Trả lời: Nỗ lực phát triển tâm linh là món quà lớn nhất mà bạn có thể trao tặng cho thế gian. Nó thực sự nâng cao toàn thể nhân loại từ bên trong, vì nó là bản chất của chính sức mạnh đích thực. Sức mạnh đích thực tỏa ra và được chia sẻ, trong khi bạo lực thì bị giới hạn, tự hủy hoại và phù du. Mỗi ý nghĩ, lời nói hay hành động thiện lành và đầy yêu thương đều tác động tới toàn thể một cách vô hình và tinh tế. Mỗi tha thứ đều mang lại lợi ích cho tất thảy mọi người. Vũ trụ ghi nhận mọi hành động và đáp lại với sự tử tế tương xứng. Mọi hành động tử tế đều tồn tại mãi mãi.
Hỏi: Có đúng không khi nói rằng “sự hiện hữu” của chúng ta có sức tác động lớn hơn mọi hành động của chúng ta?
Trả lời: Lời khuyên mang tính đạo đức và việc tìm kiếm “công lý” mang lại điều ngược lại như là phản lực, trong khi yêu thương tỏa ra sức mạnh không có đối lập. Với thái độ khiêm nhường, ta sẵn sàng ngừng tìm cách kiểm soát hoặc thay đổi người khác, hoàn cảnh sống hay sự kiện một cách giả tạo là “vì lợi ích của họ”. Để trở thành một người tìm kiếm tâm linh tận tâm, bạn nhất thiết phải từ bỏ mong muốn được là “người đúng” hoặc có giá trị tưởng tượng đối với xã hội. Trên thực tế, bản ngã hay hệ thống niềm tin của bất kỳ người nào cũng không có giá trị gì đối với xã hội. Thế giới không tốt cũng không xấu, không có khiếm khuyết, cũng không cần giúp đỡ hay sửa đổi, vì vẻ ngoài của nó chỉ là sự phản chiếu của tâm trí mỗi người. Không có thế giới nào như thế hết.
Nhận thức về thực tại và sự thật tuyệt đối là món quà lớn nhất mà người ta có thể tặng cho thế gian và toàn thể loài người. Do đó, công việc tâm linh, về bản chất, là phụng sự vô vị kỷ và phó thác cho Ý chí của Thiên Chúa. Khi sự tỉnh thức của bạn tăng lên, sức mạnh của trường tâm thức đó sẽ gia tăng theo hàm số mũ (trên thang đo logarit). Tự thân sự kiện đó tạo ra nhiều thành quả hơn mọi nỗ lực hay mưu cầu nhằm xoa dịu khổ đau của thế giới này. Mọi nỗ lực như vậy đều vô ích, bởi chúng nhất thiết bị dẫn dắt sai lạc bởi những tạo tác và vọng tưởng của chính bản ngã.
Sức mạnh tâm linh và chính trực nội tâm của mỗi người đều giúp nâng cao mực nước biển và do đó nâng tất cả những con tàu lên. Bởi vì mọi thứ đều được kết nối với nhau, con người mà bạn trở thành sẽ tự động nâng cao tất cả đời sống.
Nếu bạn tự coi mình là một món quà đầy lòng biết ơn của Thiên Chúa dành cho thế gian, thì bạn là món quà của Chúa dành cho thế gian. Nếu bạn tự coi mình là một con sâu khốn nạn, thì bạn là một con sâu khốn nạn, bởi vì bạn trở thành con người mà bạn nói là bạn sẽ trở thành. Mọi người cần phải thừa nhận chiều kích vô biên của bản chất của họ vì lợi ích của thế giới. Trong phó thác, chúng ta chìa tay ra với Thiên Chúa và thừa nhận Thần tính bên trong chúng ta. Cái ở trong chúng ta là Cội nguồn của sự cứu rỗi của toàn thể nhân loại, vì điều đó “chúng con tạ ơn Thiên Chúa. Amen.”
Hỏi: Những lời cầu nguyện nào là có ích?
Trả lời: Hãy cầu xin được làm tôi tớ của Chúa, được là một phương tiện của Tình yêu Thần thánh, một kênh truyền đạt ý muốn của Thiên Chúa. Hãy cầu xin sự hướng dẫn và trợ giúp thiêng liêng, và phó thác mọi ý chí cá nhân qua lòng sùng kính. Hãy hiến dâng cuộc đời mình cho việc phụng sự Thiên Chúa. Hãy chọn tình yêu và hòa bình trên hết mọi lựa chọn khác. Hãy cam kết với mục tiêu yêu thương vô điều kiện và tâm từ bi đối với sự sống trong mọi biểu hiện của nó, và phó thác mọi phán xét cho Chúa.
[i] Saddle pattern – Mô thức yên ngựa là một dạng cân bằng mong manh — có vẻ ổn định ở một chiều, nhưng lại tiềm ẩn xu hướng phân rã ở chiều khác; do đó chỉ cần một nhiễu động nhỏ cũng đủ làm hệ đổi trạng thái..
KẾT LUẬN
Bản chất của Con đường
· Cốt lõi của tất cả những giáo lý và đạo sư tâm linh vĩ đại có thể được tóm tắt trong một vài câu nói đơn giản. (Về mặt thực tiễn, tất cả đều quy về lời khuyên: Tránh những điều làm cho ta yếu đi và theo đuổi những điều làm cho ta mạnh lên trong kiểm tra cơ thể động học!).
· Hãy là người dễ tính, nhân hậu, tha thứ, từ bi và yêu thương vô điều kiện đối với sự sống trong mọi biểu hiện của nó mà không có ngoại lệ, kể cả với chính mình.
· Tập trung vào phụng sự vô tư vô ngã và ban phát tình yêu, sự quan tâm và tôn trọng đối với tất cả chúng sinh.
· Tránh những thứ tiêu cực và ham muốn thế tục cùng tham đắm hưởng lạc và của cải.
· Từ bỏ ý kiến chủ quan, phán xét đúng sai, sự phù phiếm của việc cho rằng mình là người “đúng”, và cái bẫy chính nghĩa.
· Tìm cách hiểu hơn là lên án.
· Tôn kính những bậc thầy của những nguyên tắc cơ bản này và không cần quan tâm tới tất cả những người khác.
· Áp dụng những nguyên tắc này đối với quan điểm vế chính mình cũng như về người khác.
· Tin tưởng vào tình yêu, lòng thương xót, trí tuệ vô biên và sự từ bi của Thần tính, Đấng nhìn thấy mọi lỗi lầm, hạn chế và yếu đuối của con người.
· Tránh những mô tả tiêu cực về Thiên Chúa—ghen tị, tức giận, phá hoại, thiên vị, ưu ái, thù hận, bất an, dễ bị tổn thương, ràng buộc bởi hợp đồng, v.v. —như là sai lầm khi nhân cách hóa Ngài. Hiểu rằng lên án và sợ phán xét bắt nguồn từ bản ngã. Đặt đức tin và niềm tin vào tình yêu của Thiên Chúa, Đấng tha thứ tất cả.
· Nhận ra rằng, giống như mặt trời, tình yêu của Thiên Chúa chiếu sáng bình đẳng cho tất cả mọi người, mọi vật.
NHỮNG CÔNG CỤ ĐƠN GIẢN NHƯNG CÓ GIÁ TRỊ TO LỚN
CHO HÀNH TRÌNH TÂM LINH
Bạn có thể chọn một công cụ chính, cộng thêm một vài công cụ khác, nhưng không cần nhiều. Những công cụ đơn giản, được áp dụng nhất quán, sẽ dẫn tới mặc khải về những sự thật tâm linh mà không cần phải được tiếp thu bằng trí tuệ, bởi vì chúng tự hiện ra một cách rõ ràng. Ngoài ra, chúng chỉ hiện ra khi hoàn cảnh thích hợp và có ích, và bởi vì chúng không phải là thủ đắc của tâm trí, chúng không trở thành sự phù phiếm tâm linh. Sau đây là một số công cụ cơ bản đã được kiểm chứng và mang lại kết quả to lớn qua rất nhiều thời đại:
1. Tử tế với mọi thứ và mọi người, kể cả với chính mình, mọi lúc, không có ngoại lệ.
2. Tôn kính mọi sự sống, trong mọi biểu hiện của nó, dù là gì, ngay cả khi bạn không hiểu nó.
3. Không giả định bất kỳ kiến thức đáng tin cậy nào về bất cứ điều gì. Hãy cầu xin Thiên Chúa mặc khải ý nghĩa.
4. Có ý định nhìn thấy vẻ đẹp tiềm ẩn của tất cả những gì đang tồn tại—rồi nó sẽ tự mặc khải.
5. Tha thứ cho mọi thứ bạn chứng kiến và trải nghiệm, bất kể đó gì. Nhớ rằng Chúa Christ, Đức Phật và Krishna đều nói rằng mọi lỗi lầm đều do vô minh. Socrates nói rằng tất cả mọi người chỉ có thể lựa chọn những gì họ tin là tốt.
6. Tiếp cận mọi khía cạnh của cuộc sống với thái độ khiêm nhường, và sẵn sàng từ bỏ mọi lập trường và lập luận hoặc lợi ích về mặt tinh thần/cảm xúc.
7. Sẵn sàng từ bỏ mọi tri giác về lợi lộc, ham muốn hoặc lợi nhuận và do đó phục vụ đời sống một cách vô tư vô ngã trong mọi biểu hiện của nó.
8. Biến cuộc đời mình thành một lời cầu nguyện sống động bằng ý định, hòa hợp, khiêm nhường và phó thác. Thực tại tâm linh đích thực thực chất là một cách sống trên thế gian này.
9. Bằng cách xác minh, xác nhận các tầng tâm thức và sự thật tâm linh của tất cả các đạo sư, giáo lý, nhóm tâm linh và tài liệu mà bạn dự định hòa hợp hoặc trở thành đệ tử.
10. Chấp nhận rằng bằng tuyên bố tâm linh, cam kết và phó thác, Cái Biết sẽ nảy sinh, nó cung cấp sự hỗ trợ, thông tin và tất cả những gì cần thiết cho toàn bộ hành trình.
Công cụ mạnh mẽ nhất nằm trong phạm vi ý chí chính là sùng kính. Vì vậy, không chỉ sự thật tâm linh mà cả mức độ sùng kính của bạn đối với nó mới tạo ra quyền năng chuyển hóa. Một tác phẩm kinh điển chứng minh hiệu quả của giản dị và sùng kính là cuốn The Practice of the Presence of God (1692) có điểm hiệu chỉnh 575 và nhấn mạnh tầm quan trọng của kiên định.
Chính động cơ tạo nên giá trị tâm linh. Dâng hiến hành động của bạn như là phụng sự của tình yêu thương đối với cuộc sống là thánh hóa chúng và chuyển hoá chúng từ những động cơ ích kỷ thành những món quà vị tha. Ngay cả nhiệm vụ nhỏ nhất cũng có thể được xem là phục vụ lợi ích chung, và nếu nhìn nhận theo cách đó, mọi nỗ lực đều trở thành cao quý.
Mọi người đều có cơ hội đóng góp vào sự hài hòa và vẻ đẹp bằng sự tử tế đối với người khác và từ đó hỗ trợ tinh thần nhân loại. Những gì được ban tặng một cách tự do cho đời sống sẽ quay trở lại với chúng ta bởi vì chúng ta cũng là một phần của đời sống đó. Giống như những gợn sóng trên mặt nước, mọi món quà đều trở lại với người tặng. Những gì chúng ta khẳng định ở người khác, thực chất là chúng ta cũng khẳng định ở chính mình.
Thăng tiến về mặt tâm linh là mang lại giá trị cho tất cả mọi người. Chính nhờ vào tâm thức tập thể, mỗi người thăng tiến đều góp phần nâng cao tầng tâm thức cho toàn thể nhân loại. Khi tầng tâm thức được nâng cao, các sự kiện như chiến tranh, đau khổ, vô minh, tàn bạo và bệnh tật sẽ giảm đi. Khi tự mình thăng tiến là bạn đang giúp đỡ mọi người và mọi thứ. Hãy trân trọng rằng mỗi bước tiến đều mang lại lợi ích cho tất cả mọi người. Trong một vũ trụ toàn ảnh, thành tựu của mỗi cá nhân đều đóng góp vào sự tiến bộ và hạnh phúc của toàn thể.
HƯỚNG DẪN DÀNH CHO ĐỘC GIẢ
Câu hỏi của các nhóm
LỜI GIỚI THIỆU
1. Susan nói rằng Bản đồ giúp chúng ta phát tâm từ bi đối với những người (trong đó có chính chúng ta) đang đau khổ vì những trạng thái tiêu cực. Bạn có thể đưa ra một ví dụ từ cuộc sống của mình?
2. Susan cũng nói rằng Bản đồ mang lại hy vọng cho những người đang tuyệt vọng. Đúng với bạn đến mức nào?
3. Còn điều gì khác trong Lời giới thiệu gây được ấn tượng đối với bạn?
DẪN NHẬP
1. Bạn đã học được điều gì về cuộc đời của Tiến sĩ Hawkins mà bạn cảm thấy hứng thú hoặc xúc động? Fran chia sẻ rằng việc tiếp xúc với Bản đồ Tâm thức là một bước ngoặt trong cuộc đời bà. Bạn có thể đồng cảm với điều đó không?
2. Fran nói rằng Bản đồ cung cấp hình ảnh trực quan tuyến tính, nhưng bản thân hành trình lại không phải là một quá trình tuyến tính. Bạn đã nhận thấy điều đó như thế nào trong cuộc sống của chính mình?
3. Còn điều gì khác trong phần Dẫn nhập gây được ấn tượng đối với bạn?
CHƯƠNG 1
1. Trên Bản đồ Tâm thức, Tình yêu mạnh hơn hẳn Sợ hãi, được minh họa trong đoạn văn ngắn mở đầu Phần I. Bạn đã từng trải nghiệm điều này chưa?
2. Tiến sĩ Hawkins nói rằng Bản đồ đảo ngược sự hiểu biết của thế giới về nguyên nhân và kết quả. Ông giới thiệu hình ảnh trực quan đột phá của mình để cho thấy các hiện tượng thực sự xảy ra như thế nào: một “mô thức hút” (ABC) là nguồn gốc của bất kỳ sự kiện nào có thể quan sát được (A→ B →C). Bạn sẽ áp dụng điều này vào cuộc sống của mình như thế nào?
3. Khi bạn nhìn vào các cột quan điểm về Thiên Chúa và quan điểm về cuộc sống trên Bản đồ, điều gì gây ấn tượng nhất đối với bạn? Bạn có thể chia sẻ điều gì về sự phát triển trong quan điểm của chính mình? Những quan điểm tiêu cực còn sót lại nào mà bạn muốn loại bỏ?
4. Tiến sĩ Hawkins nói, “Bản đồ không biểu thị ‘tốt hơn’, đó là sự phóng chiếu của bản ngã.” Điều này tạo ho bạn cảm giác gì?
5. Còn điều gì khác trong chương này gây được ấn tượng với bạn?
CHƯƠNG 2
1. Việc tiếp xúc với các Tầng Tâm thức ảnh hưởng đến bạn như thế nào?
2. Can đảm là yếu tố quan trọng để chúng ta nói lên sự thật về chính mình: ở đây nảy sinh sẵn sàng ngừng đổ lỗi và chấp nhận trách nhiệm về hành động, cảm xúc và niềm tin của chính mình. Trải nghiệm của bạn về điều này như thế nào?
3. Tầng tiêu cực nào (dưới 200) đôi khi làm bạn vấp ngã? (Nhớ rằng ngay cả khi chúng ta có thể có điểm hiệu chỉnh ở tầng tích cực, chúng ta vẫn đang nỗ lực buông bỏ những năng lượng thấp hơn.)
4. Mặc dù Tiến sĩ Hawkins nói rằng rất hiếm người có điểm hiệu chỉnh ở tầng Tình yêu (500) và cao hơn, ông cũng nói rằng nhiều người “thoáng thấy” những trạng thái đó. Khoảnh khắc nào trong cuộc đời bạn đã “thoáng thấy” miền Tình yêu, Niềm vui hoặc An bình?
5. Điều gì khác trong chương này gây được ấn tượng với bạn?
CHƯƠNG 3
1. Hãy cho một ví dụ từ chính cuộc sống của bạn về “sở hữu - hành động - hiện hữu”?
2. “Bản ngã không phải là kẻ thù.” Tiến sĩ Hawkins giải thích điều này như thế nào? Bạn sẽ ra sao nếu áp dụng sự thật này một cách vô điều kiện vào cuộc sống của mình?
3. “Không có lý do gì để thiếu kiên nhẫn với quá trình tiến hóa tâm thức. Cách tốt nhất để đóng góp là công việc thầm lặng, siêng năng trong việc trở thành một người yêu thương, tử tế và tự chịu trách nhiệm hơn từ bên trong.” Trái ngược với quan điểm phổ biến, Tiến sĩ Hawkins nói rằng chúng ta đóng góp nhiều hơn cho xã hội bằng công việc nội tâm hơn là bằng hoạt động bên ngoài. Như Gandhi đã nói, “Hãy là sự thay đổi mà bạn muốn thấy trên thế giới.” Công việc nội tâm của bạn hiện nay là gì? Bạn muốn đóng góp thay đổi nội tâm nào cho thế giới?
4. Tiến sĩ Hawkins nói rằng cuộc sống xuất hiện một cách hoàn hảo theo Ý Chí Thiêng Liêng, vốn là từ bi và công bằng. Chúng ta có thể hỏi, “Vậy tại sao những điều xấu lại xảy ra với người tốt?” Ông trả lời, “‘Tốt’ và ‘xấu’ là do tri giác của bạn. Thực tế, nghịch cảnh có thể được coi là một món quà.” (Thật vậy, các nghiên cứu gần đây cho thấy những người từng trải qua nghịch cảnh có tỷ lệ hài lòng với cuộc sống, hạnh phúc và khả năng phục hồi cao hơn.) Trải nghiệm của bạn về “món quà” của nghịch cảnh là gì?
5. Còn điều gì khác trong chương này gây được ấn tượng với bạn?
CHƯƠNG 4
1. Tiến sĩ Hawkins nói: “Tin tốt là chỉ cần bạn hoà hợp với một sự thật đầy sức mạnh cũng có thể tạo ra sự khác biệt lớn trong cuộc sống của bạn. Về sức khỏe, sự thật mạnh mẽ này là sự chuyển từ “Tôi là một cơ thể” sang “Tôi có một cơ thể”. Có lĩnh vực nào trong cuộc sống của bạn mà bạn muốn thực hiện sự chuyển đổi này không? Ví dụ: ngoại hình, tình dục, lão hóa, hình ảnh về chính mình, thể thao, thực phẩm và/hoặc bất kỳ lĩnh vực nào khác.
2. “‘Những gì được lưu giữ trong tâm trí có xu hướng hiển lộ ra bên ngoài’ – bao gồm cả những niềm tin vô thức.” Tiến sĩ Hawkins nói rằng đây là “sự thật cốt lõi” và “quy luật của tâm thức” giúp gỡ bỏ phóng chiếu sợ hãi của chúng ta ra thế giới bên ngoài. Khi chúng ta buông bỏ niềm tin rằng điều gì đó “ở ngoài kia” sẽ làm hại chúng ta, phản ứng của cơ thể sẽ trở nên rõ ràng hơn. Những ví dụ về “niềm tin vô thức” đã từng tác động đến cuộc sống của bạn hoặc gia đình bạn là gì? Hiện tại có điều gì đang xảy ra với cơ thể bạn mà có thể đang yêu cầu bạn khám phá ra một niềm tin vô thức không?
3. Hãy thử “Các bước tự chữa lành”. Kết quả ra sao?
4. Để giải phóng chính mình khỏi những niềm tin vô thức, Tiến sĩ Hawkins khuyên nên sử dụng cụm từ “Tôi là một thực thể vô biên, không bị lệ thuộc vào _______,” và điền vào chỗ trống bằng bất kỳ bệnh tật hoặc chất nào mà tâm trí đã lập trình mà chúng ta coi là nguy hiểm. Bạn muốn điền những gì vào chỗ trống đó?
5. Còn điều gì khác trong chương này gây được ấn tượng với bạn?
CHƯƠNG 5
1. Đọc lại câu chuyện ở đầu Phần II, về nữ nhạc sĩ đã chuyển từ suy nghĩ “Tôi không thể” sang can đảm và sẵn sàng chia sẻ tài năng âm nhạc của mình với người khác. Và đọc lại câu chuyện về người đàn ông đã dấn thân vào việc làm nhà búp bê và đem bán. Điều gì hiện lên trong tâm trí bạn khi bạn suy ngẫm lại những câu chuyện này sau khi đọc xong chương này? Có điều gì bạn yêu thích nhưng chưa thể hiện hết? “Bước” nào bạn có thể thực hiện để đạt được thành công trong lĩnh vực đó của cuộc đời?
2. Bạn đã thành công với những bước nào? Hãy mô tả trải nghiệm của bạn, vì nó mang lại sức mạnh và hy vọng cho người khác.
3. Bạn đã mắc sai lầm ở những bước nào? Mô tả trải nghiệm của bạn để người khác có thể học hỏi từ những sai lầm của bạn.
4. Kinh nghiệm của bạn khi thực hiện hai “phương pháp thành công” là gì?
5. Điều gì khác trong chương này gây được ấn tượng với bạn?
CHƯƠNG 6
1. Quá trình hồi phục là: khi chúng ta buông bỏ những năng lượng tiêu cực (dưới 200 trên Bản đồ), hạnh phúc, sáng tạo, niềm vui và tình yêu bẩm sinh của chúng ta sẽ tỏa sáng. Trải nghiệm của bạn với quá trình này như thế nào?
2. Hiện tại bạn đang nghiện chất gì, thói quen bên trong hay thói quen bên ngoài nào? Bạn có thể thực hiện bước nào để giải thoát chính mình?
3. Bước 5 trong AA—chia sẻ với người khác “bản chất chính xác của những sai lầm của chúng ta”—là một bước ngoặt. Tiến sĩ Hawkins nói, “Chia sẻ nó sẽ thay đổi trường năng lượng bằng cách loại bỏ điện tích tiêu cực khỏi nó.” “Bí mật” không còn khả năng “ăn mòn và phá hủy” nữa. Kinh nghiệm của bạn với điều này như thế nào? Hiện tại có điều gì bạn đang giữ kín trong lòng không? Bạn có sẵn sàng chia sẻ nó với người khác (người đỡ đầu, bạn bè, cố vấn, mục sư)? Nếu có, kết quả ra sao?
4. Tiến sĩ Hawkins nói, “Cách thoát khỏi vực sâu là quan tâm đến người khác. Chúng ta sẽ vươn lên cao hơn với mỗi hành động yêu thương, mỗi ý định yêu thương và sẵn sàng tha thứ cho mình và người khác.” Điều này đã đúng với bạn đến mức nào? Lần tới khi bạn “ở trong vực sâu”, điều gì sẽ xảy ra khi bạn thử phương pháp của ông để đối xử tử tế với người khác?
5. Còn điều gì khác trong chương này gây được ấn tượng với bạn?
CHƯƠNG 7
1. Điều gì hiện lên trong tâm trí khi đọc câu chuyện mở đầu Phần III—về người đàn ông đã buông bỏ suy nghĩ “Tôi không thể nhảy” và vươn lên đỉnh Bản đồ? Bạn đang “mắc kẹt” và kháng cự ở đâu trong cuộc sống? “Phần thưởng” khi ở lại đó là gì? (Hãy nhớ rằng Tiến sĩ Hawkins đã tóm tắt hành trình giải phóng thành: “Điều duy nhất bạn cần biết về bất kỳ rào cản nào là phần thưởng cho bản ngã là gì. Người trải nghiệm nhận được gì từ lập trường đó, tiêu cực đó, nơi ‘mắc kẹt’ đó?”)
2. Lưu ý rằng, kết quả của việc buông bỏ một suy nghĩ “Tôi không thể”, toàn bộ cuộc đời của người đàn ông này đã thay đổi. “Động lực” từ sự buông bỏ duy nhất đó đã “loại bỏ vô số rào cản và giới hạn”. Bạn đã từng trải nghiệm điều gì tương tự chưa, khi việc buông bỏ một rào cản duy nhất đã giải phóng bạn khỏi nhiều rào cản khác?
3. Theo Tiến sĩ Hawkins, sự khác biệt giữa ý chí cá nhân và ý chí tâm linh là gì? Bạn có ví dụ nào từ cuộc sống của chính mình để minh họa sự khác biệt đó?
4. Khi đọc qua danh sách “Những thứ hấp dẫn và ác cảm”, điều gì nổi bật nhất và có thể áp dụng cho bạn ngay trong lúc này?
5. Còn điều gì khác trong chương này gây được ấn tượng với bạn?
CHƯƠNG 8
1. Áp dụng phần “Đặc điểm của các đạo sư và giáo lý chính trực” vào hành trình của chính bạn. Có bất kỳ “dấu hiệu cảnh báo” nào đối với nhóm mà bạn đang tham gia hoặc giáo lý mà bạn đang theo dõi?
2. Tiến sĩ Hawkins nói, “Vấn đề chính ban đầu là thiếu tỉnh thức về sự khác biệt giữa thực tại tâm linh đích thực và các lĩnh vực huyền bí, siêu nhiên hoặc thần bí… Ngược đời là hấp dẫn hướng đến những người tìm kiếm ngây thơ chưa làm chủ được chiều không gian này, chứ đừng nói đến những chiều không gian vọng tưởng khác.” Kinh nghiệm của bạn trong việc phân biệt thực tại tâm linh đích thực với những thực tại “vọng tưởng” là gì? Những dấu hiệu cần tìm kiếm trong mỗi loại là gì?
3. Điều gì hiện lên trong bạn khi bạn đọc những mô tả của Tiến sĩ Hawkins về các trạng thái Chứng ngộ, Kiến chân tính và Tình yêu vô biên? Bạn nhận được sự khích lệ nào từ những chia sẻ của ông?
4. Tiến sĩ Hawkins nói, “Không phải tâm trí là trở ngại cho sự Chứng ngộ; mà chính là sự đồng nhất của bạn với hoạt động của tâm trí như là ‘tôi’.” Áp dụng điều này cho chính mình: Bạn nhận thức được bằng những cách nào rằng bạn đồng nhất với hoạt động của tâm trí như là “tôi”?
5. Còn điều gì khác trong chương này gây được ấn tượng với bạn?
CHƯƠNG 9
1. Tiến sĩ Hawkins nói, “Do đó, công việc tâm linh chủ yếu là buông bỏ những điều được cho là đã biết để hướng tới những điều chưa biết.” Điều này áp dụng như thế nào với bạn ngay trong lúc này?
2. Đọc chậm rãi phần “Những phẩm chất và thái độ quý giá nhất dành cho người tìm kiếm tâm linh,” có thể dành cả một ngày để suy ngẫm về từng phẩm chất một. Có phẩm chất nào đặc biệt khó để bạn thấu hiểu và nội tâm hóa không?
3. “Sẵn sàng là nền tảng của mọi tiến bộ tâm linh cũng như thành công trong cuộc sống,” Tiến sĩ Hawkins nói. Trong các nhóm 12 bước, khi cảm thấy có rất nhiều kháng cự, chúng ta được khuyến khích: “Vậy thì, ít nhất bạn có thể cầu nguyện để có được sẵn sàng!” Điều gì trong cuộc sống của bạn đang chờ đợi bạn sẵn sàng?
4. Trong phần “Những phẩm chất và thái độ quý giá nhất dành cho người tìm kiếm tâm linh,” phẩm chất hoặc thái độ nào bạn cảm thấy mình được kêu gọi trau dồi nhất?
5. Còn điều gì khác trong chương này gây được ấn tượng với bạn?
KẾT LUẬN
1. Trong số những lời dạy và giáo lý cốt lõi của các đạo sư tâm linh vĩ đại, lời dạy nào thực sự chạm đến trái tim bạn ngay trong lúc này?
2. Trong số những “Công cụ đơn giản nhưng có giá trị lớn”, công cụ nào thu hút bạn nhất hiện nay? Tìm cách áp dụng nó vào thực tiễn một cách liên tục, không có ngoại lệ, và chia sẻ trải nghiệm của bạn.
3. Còn điều gì khác trong phần Kết luận gây được ấn tượng với bạn?
PHỤ LỤC A
Hiệu chỉnh tâm thức
LỊCH SỬ VÀ PHƯƠNG PHÁP LUẬN
Nền tảng của cuốn sách này là công trình nghiên cứu được tiến hành trong suốt hơn 20 năm, bao gồm hàng triệu lần hiệu chỉnh trên hàng nghìn đối tượng kiểm tra thuộc mọi lứa tuổi và tính cách, và từ tất cả các tầng lớp xã hội. Theo thiết kế, về phương pháp, nghiên cứu này mang tính lâm sàng và do đó rất có ý nghĩa thực tiễn. Vì phương pháp kiểm tra này có giá trị khi áp dụng cho tất cả các hình thức biểu hiện của con người, những lần hiệu chỉnh đã được thực hiện thành công cho các lĩnh vực văn học, kiến trúc, nghệ thuật, khoa học, các sự kiện trên thế giới và sự phức tạp trong mối quan hệ của con người. Không gian kiểm tra để xác định dữ liệu là toàn bộ trải nghiệm của con người trong suốt mọi thời đại.
Về mặt tâm thần, các đối tượng kiểm tra trải dài từ những người mà thế giới gọi là “bình thường” đến những bệnh nhân tâm thần rất nặng. Các đối tượng được kiểm tra là những người sống ở Canada, Hoa Kỳ, Mexico và khắp Nam Mỹ và Bắc Âu. Họ thuộc mọi quốc tịch, nguồn gốc dân tộc và tôn giáo, từ trẻ em đến người già trên 90 tuổi, và bao gồm một phổ khá rộng về sức khỏe thể chất và tinh thần. Các đối tượng được kiểm tra riêng lẻ và theo nhóm do nhiều người kiểm tra và nhóm người kiểm tra khác nhau tiến hành. Nói chung, kết quả thu được là giống hệt nhau và có thể lặp lại được, đáp ứng yêu cầu cơ bản của phương pháp khoa học: khả năng lặp lại một cách hoàn hảo về mặt thí nghiệm.
Các đối tượng được chọn một cách ngẫu nhiên và được kiểm tra trong nhiều bối cảnh vật chất và hành vi khác nhau: trên đỉnh núi và trên bãi biển, tại các bữa tiệc và trong quá trình làm việc hàng ngày, trong những khoảnh khắc vui vẻ và những khoảnh khắc buồn bã. Không có hoàn cảnh nào vừa nói tạo được ảnh hưởng đến kết quả kiểm tra, vốn được phát hiện là nhất quán trên toàn cầu không phụ thuộc vào các yếu tố bên ngoài, ngoại trừ phương pháp luận của quy trình kiểm tra. Do tầm quan trọng của yếu tố này, phương pháp kiểm tra sẽ được mô tả chi tiết ngay bên dưới.
KỸ THUẬT KIỀM TRA
Cần hai người. Một người là đối tượng kiểm tra, giơ một cánh tay theo chiều ngang, song song với mặt đất. Người thứ hai dùng hai ngón tay ấn xuống cổ tay của cánh tay đang đưa ra và nói, “Chống lại.” Đối tượng sau đó chống lại áp lực hướng xuống bằng toàn bộ sức lực của mình. Chỉ đơn giản thế thôi.
Một trong hai người có thể đưa ra tuyên bố. Trong khi đối tượng kiểm tra lưu giữ tuyên bố đó ở trong đầu, sức mạnh cánh tay của người kiểm tra ấn cánh tay của đối tượng xuống. Nếu tuyên bố bị phủ định, sai, hoặc có điểm hiệu chỉnh dưới 200 (xem Chương 3), đối tượng kiểm tra sẽ “yếu đi”. Nếu câu trả lời là có hoặc có điểm hiệu chỉnh trên 200, người đó sẽ “mạnh lên”.
Để minh họa quy trình, người ta có thể yêu cầu đối tượng giữ hình ảnh Abraham Lincoln trong đầu trong khi được kiểm tra, và sau đó, để so sánh, là hình ảnh Adolf Hitler. Hiệu ứng tương tự có thể được minh họa bằng cách giữ trong đầu hình ảnh một người được yêu thương trái ngược với một người mà người đó sợ hãi hoặc căm ghét, hoặc người mà người đó cảm thấy hối tiếc sâu sắc.
Sau khi xác định được thang điểm số (xem bên dưới), có thể tiến hành hiệu chỉnh bằng cách nói, “Mục này [chẳng hạn như cuốn sách này, tổ chức này, động cơ của người này, v.v.] có điểm hiệu chỉnh trên 100,” sau đó “trên 200,” rồi “trên 300,” cho đến khi có phản hồi tiêu cực. Sau đó, có thể tinh chỉnh hiệu chuẩn: “Trên 220? 225? 230?” và cứ thế tiếp tục. Người kiểm tra và đối tượng kiểm tra có thể đổi chỗ cho nhau, và sẽ thu được kết quả tương tự. Khi đã quen với kỹ thuật này, có thể sử dụng nó để đánh giá các công ty, phim ảnh, cá nhân hoặc các sự kiện trong lịch sử; nó cũng có thể được sử dụng để chẩn đoán các vấn đề đang diễn ra trong cuộc đời.
Người đọc sẽ nhận thấy rằng quy trình kiểm tra là sử dụng phương pháp kiểm tra cơ bắp để xác minh thật giả của một lời tuyên bố. Sẽ thu được các phản hồi không đáng tin cậy nếu câu hỏi không được đặt ra theo kiểu này. Cũng không thể thu được kết quả đáng tin cậy nếu muốn tìm hiểu về tương lai; chỉ những tuyên bố liên quan đến các điều kiện hoặc sự kiện đã từng xảy ra trong quá khứ hay hiện tại mới tạo ra câu trả lời nhất quán. Để tránh đưa vào cảm xúc tích cực hay tiêu cực, thì phải có thái độ khách quan trong suốt quá trình kiểm tra. Độ chính xác sẽ gia tăng bằng cách yêu cầu người đối tượng kiểm tra nhắm mắt lại, và không nên có nhạc hoặc bất kỳ yếu tố gây xao nhãng nào khác.
Thoạt nhìn, bài kiểm tra này dường như là đơn giản, nên người đặt câu hỏi nên kiểm tra độ chính xác của nó trước hết là để tự mình thấy hài lòng. Có thể kiểm tra câu trả lời bằng cách hỏi chéo, và bất cứ người nào đã quen với kỹ thuật này đều nghĩ ra những thủ thuật để tự mình thấy rằng nó là đáng tin. Người ta sẽ nhanh chóng nhận ra rằng tất cả các đối tướng đều có cùng một câu trả lời, và đối tượng không cần phải có bất kỳ kiếnthức nào về vấn đề được hỏi, và câu trả lời luôn không phụ thuộc vào ý kiến cá nhân của đối tượng được kiểm tra.
Chúng tôi thấy rằng sẽ có ích nếu trước khi kiểm tra người kiểm tra hỏi: “Tôi được phép hỏi câu hỏi này.” Tương tự như yêu cầu nhập liệu trên thiết bị đầu cuối máy tính, và đôi khi câu trả lời sẽ là “không”. Sự kiện này chứng tỏ rằng nên bỏ qua câu hỏi đó hoặc hỏi kỹ lý do tại sao lại trả lời “không”. Có lẽ người đặt câu hỏi đã có những đau khổ về tâm lý do câu trả lời đưa ra hoặc những hàm ý của nó vào thời điểm đó, hoặc vì những lý do không rõ khác.
Trong công trình nghiên cứu này, các đối tượng kiểm tra được yêu cầu tập trung vào một suy nghĩ, cảm xúc, thái độ, ký ức, mối quan hệ hoặc hoàn cảnh sống cụ thể. Bài kiểm tra thường được thực hiện trên các nhóm lớn; để minh họa, trước hết, chúng tôi thiết lập nến tảng bằng cách yêu cầu các đối tượng nhắm mắt lại và giữ trong tâm trí ký ức về một thời điểm họ tức giận, buồn bã, ghen tị, trầm cảm, mặc cảm tội lỗi hoặc sợ hãi; lúc đó, tất cả mọi người đều phản ứng yếu. Sau đó, chúng tôi yêu cầu họ giữ trong tâm trí một người hoặc một hoàn cảnh sống tràn đầy yêu thương, và tất cả mọi người đều phản ứng mạnh; thường thì một tiếng xì xào ngạc nhiên sẽ lan truyền trong cử toạ về ý nghĩa của những gì họ vừa khám phá được.
Minh hoạ tiếp theo là chỉ cần lưu giữ hình ảnh của một chất nào trong tâm trí cũng tạo ra phản ứng tương tự như thể chính chất đó đang tiếp xúc trực tiếp với cơ thể. Ví dụ, chúng tôi giơ một quả táo được phun thuốc trừ sâu và yêu cầu khán giả nhìn thẳng vào nó trong khi tiến hành kiểm tra; tất cả đều phản ứng yếu. Sau đó, chúng tôi giơ lên một quả táo được trồng theo lối hữu cơ, không có phân hoá học và thuốc trừ sâu, và khi khán giả tập trung vào nó, họ sẽ lập tức phản ứng mạnh. Vì không ai trong cử toạ biết quả táo nào là quả nào—và cũng không hề đoán trước được bài kiểm tra—nên độ tin cậy của phương pháp đã được chứng minh một cách thỏa đáng cho tất cả mọi người.
Muốn có kết quả đáng tin, thì cần nhớ rằng những người khác nhau xử lý trải nghiệm theo những cách khác nhau: một số người chủ yếu sử dụng cảm xúc, những người khác thiên về thính giác, và những người khác lại thiên về thị giác. Do đó, câu hỏi kiểm tra nên tránh những cách diễn đạt như: “Bạn cảm thấy thế nào?” về một người, tình huống hoặc trải nghiệm; hoặc “Nó trông như thế nào?” hoặc “Nó nghe như thế nào?” Thông thường, nếu người đó nói: “Hãy ghi nhớ tình huống [hoặc người, địa điểm, sự vật, hoặc cảm xúc],” thì các đối tượng sẽ theo bản năng để lựa chọn phương thức phù hợp của riêng họ.
Thỉnh thoảng, trong nỗ lực, thậm chí có thể là vô thức, để che giấu phản ứng của mình, các đối tượng sẽ chọn phương thức không phải là phương thức xử lý thông thường của họ và đưa ra phản ứng sai. Khi người kiểm tra nhận được phản ứng mâu thuẫn, nên diễn đạt lại câu hỏi. Ví dụ, bệnh nhân có mặc cảm tội lỗi về sự tức giận của mình đối với mẹ có thể nghĩ đến một bức ảnh của bà mẹ và có phản ứng mạnh. Tuy nhiên, nếu người kiểm tra diễn đạt lại câu hỏi bằng cách yêu cầu người này nghĩ đến thái độ hiện tại của người đó đối với mẹ, đối tượng sẽ ngay lập tức phản ứng yếu.
Các biện pháp phòng ngừa khác nhằm duy trì độ chính xác của bài kiểm tra bao gồm tháo kính, đặc biệt là kính có gọng kim loại, và mũ (chất liệu tổng hợp trên đầu khiến mọi người có phản ứng yếu). Cánh tay được kiểm tra cũng không nên đeo đồ trang sức, đặc biệt là đồng hồ đeo tay làm bằng thạch anh. Khi có phản ứng bất thường, quá trình điều tra sau đó sẽ tiết lộ nguyên nhân — ví dụ, người kiểm tra có thể đang dùng một loại nước hoa mà bệnh nhân có phản ứng bất lợi, dẫn đến phản ứng yếu giả mạo. Nếu người kiểm tra nhiều lần thất bại khi cố gắng thu thập câu trả lời chính xác, thì cần đánh giá ảnh hưởng của giọng nói của người đó lên các đối tượng kiểm tra khác; một số người kiểm tra, ít nhất là vào những thời điểm nhất định, có thể có năng lượng tiêu cực trong giọng nói, ảnh hưởng đến kết quả kiểm tra.
Một yếu tố khác cần được xem xét khi có phản ứng mâu thuãn là khung thời gian của ký ức hoặc hình ảnh liên quan. Nếu đối tượng kiểm tra đang nhớ về một người cụ thể và quan hệ của họ, thì phản ứng sẽ phụ thuộc vào khoảng thời gian mà ký ức hoặc hình ảnh đó đại diện. Nếu anh ta đang nhớ về quan hệ với anh trai mình từ thời thơ ấu, anh ta có thể có phản ứng khác so với việc anh ta đang nhớ về hình ảnh quan hệ đó trong giai đoạn hiện nay. Việc đặt câu hỏi luôn phải được thu hẹp lại theo hoàn cảnh cụ thể.
Một nguyên nhân khác dẫn đến kết quả kiểm tra mâu thuẫn là tình trạng sức khoẻ thể chất của đối tượng kiểm tra, căng thẳng, hoặc suy giảm chức năng tuyến ức, đấy là do tiếp xúc với trường năng lượng rất tiêu cực. Tuyến ức là trung tâm điều khiển hệ thống kinh mạch của cơ thể, và khi năng lượng của nó thấp, kết quả kiểm tra sẽ không thể đoán trước được. Điều này có thể dễ dàng khắc phục trong vài giây bằng một kỹ thuật đơn giản được phát hiện bởi Bác sĩ John Diamond, mà ông gọi là “đập vào tuyến ức”. Tuyến ức nằm ngay phía sau đỉnh xương ức. Nắm chặt tay, đập mạnh vào vùng này vài lần, giữ nhịp, trong khi mỉm cười và nghĩ về người mà mình yêu thương. Mỗi lần đập, hãy nói “Ha-ha-ha”. Kiểm tra lại sẽ cho thấy sự phục hồi của năng lượng tuyến ức và kết quả kiểm tra sẽ trở lại bình thường.
SỬ DỤNG QUY TRÌNH KIỂM TRA TRONG CÔG TRÌNH NGHIÊN CỨU NÀY
Kỹ thuật kiểm tra vừa được mô tả là kỹ thuật do Bác sĩ Diamond đề xuất trong Cơ thể động học Hành vi (Behavioral Kinesiology). Thay đổi duy nhất trong công trình nghiên cứu của chúng tôi là tương quan giữa các phản hồi với thang đo logarit để hiệu chỉnh sức mạnh tương đối của năng lượng từ thái độ, suy nghĩ, cảm xúc, tình huống và quan hệ khác nhau. Vì bài kiểm tra diễn ra rất nhanh, thực tế chỉ mất chưa đến 10 giây, cho nên có thể xử lý một lượng thông tin khổng lồ về nhiều vấn đề khác nhau trong thời gian cực kì ngắn.
Thang điểm bằng số được thu thập theo lối tự phát từ các đối tượng kiểm tra, dao động từ giá trị của tồn tại vật chất đơn thuần ở 1 điểm; lên đến 600 trong cõi trần thế thông thường, là đỉnh cao của tâm thức thông thường; và sau đó từ 600 trở lên đến 1.000, trong đó có các trạng thái Chứng ngộ cao cấp. Các phản hồi dưới dạng câu trả lời đơn giản có hoặc không sẽ xác định điểm hiệu chỉnh của đối tượng kiềm tra. Ví dụ, “Nếu chỉ đơn giản là được sống đã là một điểm, thì sức mạnh của Tình yêu cao hơn 200 điểm?” (đối tượng phản ứng mạnh, chứng tỏ câu trả lời là có.) “Tình yêu cao hơn 300?” (đối tượng phản ứng mạnh) “Tình yêu cao hơn 400?” (đối tượng vẫn phản ứng mạnh.) “Tình yêu là 500 hoặc hơn?” (đối tượng vẫn phản ứng mạnh) Trong trường hợp này, Tình yêu có điểm hiệu chỉnh 500, và con số này được chứng minh là có thể lặp lại, không phục thuộc vào số lượng người tham gia kiểm tra. Với những lần kiểm tra lặp đi lặp lại— cá nhân hoặc nhóm—một thang đo nhất quán đã hình thành, tương quan với kinh nghiệm, lịch sử và quan điểm chung của con người, cũng như các phát hiện của tâm lý học, xã hội học, phân tâm học, triết học, y học và Chuỗi tồn tại vĩ đại (Great Chain of Being[i]) mà mọi người đều biết. Nó cũng tương quan khá chính xác với các tầng tâm thức của triết học vĩnh hằng.
Tuy nhiên, người kiểm tra phải thận trọng, khi nhận ra rằng câu trả lời cho một số câu hỏi có thể khá khó chịu đối với đối tượng được kiểm tra. Kỹ thuật này không được sử dụng một cách thiếu trách nhiệm, và người kiểm tra phải luôn tôn trọng sự sẵn sàng tham gia của đối tượng; không bao giờ được sử dụng như kỹ thuật nhằm giải quyết xung đột. Trong các tình huống lâm sàng, không bao giờ được nêu ra câu hỏi mang tính cá nhân, trừ khi sử dụng nó cho mục đích điều trị. Có thể đặt ra một câu hỏi theo cách loại trừ mọi sự dính líu cá nhân từ phía đối tượng được kiểm tra; khi đó, người này chỉ đơn thuần đóng vai trò như một chỉ báo phục vụ cho mục đích nghiên cứu hiệu chỉnh.
Phản ứng của bài kiểm tra không phụ thuộc vào sức mạnh thể chất thực tế của đối tượng. Những vận động viên có cơ bắp cuồn cuộn thường rất ngạc nhiên khi họ trở nên yếu đi như bất kỳ người nào khác khi phản ứng với một kích thích có hại. Người kiểm tra có thể là một phụ nữ yếu ớt nặng chưa đến 45 kg, và đối tượng có thể là một cầu thủ bóng đá chuyên nghiệp nặng hơn 90 kg, nhưng kết quả kiểm tra sẽ giống nhau, vì người phụ nữ chỉ dùng hai ngón tay để hạ gục cánh tay mạnh mẽ của vận động viên.
Những hiện tượng thiếu nhất quán
Sau một thời gian, cũng những người kiểm tra đó có thể thu được kết quả khác nhau, những người kiểm tra khác nhau cũng có thể thu được điểm hiệu chỉnh khác nhau vì một số lý do: hoàn cảnh, con người, chính trị, chính sách và thái độ thay đổi theo thời gian.
Trừ khi sử dụng một thang đo cụ thể làm tham chiếu, con số thu được sẽ là tùy tiện. Tất cả các hiệu chỉnh trong cuốn sách này đều được thực hiện dựa trên Bản đồ Tâm thức. Ví dụ: “Trên thang điểm từ 1 đến 1.000, trong đó 700 đại diện cho Chứng ngộ, _______ có điểm hiệu chỉnh _______.” Nếu không chỉ định một thang đo cụ thể, người kiểm tra có thể nhận được những con số đáng kinh ngạc trên 1.000 và các con số ngày càng cao hơn trong các lần kiểm tra tiếp theo. Trên thang đo này, không một người nào từng tồn tại trên trái đất có điểm hiệu chỉnh trên 1.000, tức là điểm hiệu chỉnh của tất cả các Thánh Thấn Giáng Thế vĩ đại.
Những người khác nhau có xu hướng sử dụng các phương thức cảm giác khác nhau khi họ ghi nhớ một điều gì đó — tức là thị giác, cảm giác, thính giác hoặc cảm xúc. “Mẹ của bạn” do đó có thể là hình ảnh, cảm xúc, giọng nói của bà, v.v.; hay “Henry Ford” có thể được đánh giá như một người cha, một nhà công nghiệp, vì ảnh hưởng của ông đối với nước Mỹ, vì chủ nghĩa bài Do Thái của ông, v.v.
Người ta có thể xác định bối cảnh và bám sát một phương thức phổ biến. Cùng một nhóm sử dụng cùng một kỹ thuật sẽ thu được kết quả nhất quán của nhóm. Trình độ chuyên nghiệp phát triển là do thực hành thường xuyên.
Thái độ tốt nhất là khách quan, đưa ra một tuyên bố với tiền tố: “Nhân danh điều tốt đẹp nhất, ______________được đánh giá là đúng. Trên 100? Trên 200?” và v.v. Đặt trong bối cảnh “vì điều tốt đẹp nhất” làm tăng độ chính xác, vì nó siêu việt lợi ích và động cơ cá nhân.
Tuy nhiên, có một số người không có khả năng có thái độ khoa học, khách quan và không thể nhìn nhận vấn đề một cách khách quan, đối với họ, phương pháp cơ thể động học sẽ không chính xác. Tận tâm và ý định hướng đến sự thật phải được ưu tiên hơn là ý kiến cá nhân và việc cố gắng chứng minh ý kiến của mình là “đúng”.
HẠN CHẾ
Khoảng 10% dân số không thể sử dụng kỹ thuật kiểm tra cơ thể động học vì những lý do mà hiện nay chúng ta chưa biết. Kết quả kiểm tra chỉ chính xác nếu chính người được kiểm tra có điểm hiệu chỉnh trên 200 và mục đích sử dụng là trung thực và cũng có điểm hiệu chỉnh trên 200. Yêu cầu đặt ra là tính khách quan không thiên vị và phù hợp với sự thật chứ không phải là ý kiến chủ quan. Đôi khi, các cặp vợ chồng - cũng vì những lý do chưa rõ ràng - không thể sử dụng nhau làm đối tượng kiểm tra và có thể phải tìm người thứ ba làm đối tác kiểm tra.
Những người không đủ tiêu chuẩn tham gia
Cả thái độ hoài nghi (160 điểm) và nhạo báng đều có điểm hiệu chỉnh dưới 200 vì chúng thể hiện định kiến tiêu cực. Ngược lại, việc tìm tòi thực sự đòi hỏi một tâm hồn cởi mở và trung thực, không có thái độ kiêu căng về trí tuệ. Những công trình nghiên cứu mang tính tiêu cực về phương pháp luận của phép kiểm tra này, cũng như những người thực hiện chúng, đều có điểm hiệu chỉnh chưa tới 200 (thường ở 160).
Một người bình thường có thể ngạc nhiên nếu biết rằng, thậm chí các giáo sư nổi tiếng cũng có thể và thực sự có điểm hiệu chính dưới 200.
Do đó, các công trình nghiên cứu mang tính tiêu cực là hệ quả của thành kiến tiêu cực. Ví dụ, đề cương nghiên cứu của Francis Crick dẫn đến khám phá ra mô hình xoắn kép của DNA đạt 440 điểm. Song đề cương nghiên cứu mới đây của ông nhằm chứng minh rằng tam thức chỉ là sản phẩm của hoạt động thần kinh chỉ đạt 135 điểm.
Thất bại của các nhà nghiên cứu hoặc đề án nghiên cứu sai lầm có điểm hiệu chỉnh dưới 200 càng khẳng định sự thật của chính phương pháp luận mà họ muốn bác bỏ. Họ sẽ thu được và quả thật đã thu được kết quả tiêu cực; kết quả này, ngược lại, càng chứng minh tính chính xác của bài kiểm tra nhằm phát hiện sự khác biệt giữa thái độ chính trực không thiên vị và không chính trực.
Bất kỳ phát hiện mới nào cũng đều có thể làm đảo lộn kế hoạch của người khác và bị coi là đe dọa, phá vỡ các hệ thống niềm tin đang thịnh hành. Công trình nghiên cứu tâm thức khẳng định giá trị của Thực tại tâm linh, tất nhiên, sẽ có đối kháng, vì nó thực sự đối đầu trực diện với quyền thống trị của cốt lõi ái kỷ của chính bản ngã, vốn ngạo mạn và cố chấp ngay từ khi mới ra đời.
Bên dưới tầng tâm thức 200, khả năng nhận thức bị hạn chế, vì Tâm trí thấp hơn nắm quyền chi phối. Tâm trí thấp hơn có khả năng nhận ra sự kiện, nhưng chưa có khả năng hiểu thế nào là sự thật (nó nhầm lẫn giữa cái bên trong (res interna) với cái bên ngoài (res externa) và cũng chưa hiểu rằng sự thật có các yếu tố sinh lý đi kèm khác hẳn với giả dối. Ngoài ra, sự thật được cảm nhận bằng trực giác – bằng chứng là việc sử dụng phương pháp phân tích giọng nói, nghiên cứu ngôn ngữ cơ thể, phản ứng của đồng tử, thay đổi điện não đồ (EEG), dao động trong hơi thở và huyết áp, phản ứng gọi là Phản ứng điện da (Galvanic skin response), cảm xạ (dowsing[ii]), và thậm chí có thể dùng kỹ thuật Huna (Huna technique[iii]) để đo chiều dài hào quang phát ra từ cơ thể. Một số người sử dụng kỹ thuật rất đơn giản: Đứng như một con lắc (ngả về đằng trước khi thấy sự thật và ngả về sau khi thấy dối trá).
Nhìn từ bối cảnh cao hơn, những nguyên tắc giữ thế thượng phong là giả dối không thể bác bỏ được Sự thật, cũng như bóng tối không thể bác bỏ được ánh sáng. Cái phi tuyến tính không bị giới hạn của cái tuyến tính tác động. Sự thật là hệ hình khác với logic và do đó, không thể chứng minh được, vì những thứ có thể chứng minh được chỉ có điểm hiệu chỉnh trong khoảng từ 400 đến 500 mà thôi. Phương pháp luận trong nghiên cứu tâm thức đạt điểm 600, tức nằm ở vùng tiếp giáp giữa các chiều kích tuyến tính và phi tuyến tính.
PHỤ LỤC B
Danh sách hiệu chỉnh dành cho người tìm kiếm tâm linh
Ghi chú của biên tập viên: Tiến sĩ Hawkins đã hiệu chỉnh các tầng tâm thức của các đạo sư tiêu biểu, các tác phẩm viết về tâm linh, các phương pháp tu tập và trải nghiệm, coi đấy là kim chỉ nam cho những người tìm kiếm tâm linh. Để thuận tiện cho tu tập, danh sách này được in lại ở đây từ cuốn sách Siêu việt các tầng tâm thức, còn danh sách đầy đủ hơn được trình bày trong cuốn Phân biệt Thật giả và trong Book of Slides.
Quan trọng cần nhớ là điểm hiệu chỉnh không phải là đánh giá giá trị. Tầng hiệu chỉnh 970 không có nghĩa là “tốt hơn” 610. Trên thực tế, một đạo sư hoặc một tác phẩm ở tầng 605 (hoặc 310!) có khả năng hữu ích cho nhiều người hơn, đấy là nói so với một tác phẩm ở tầng 970. Tâm trí bị hạn chế nghiêm trọng bởi bản chất nhị nguyên của nó và phóng chiếu phán xét tốt hơn/tệ hơn lên một con số mà bỏ qua bối cảnh tổng thể, vốn là phi tuyến tính. Để so sánh, người ta sẽ không nói rằng độ cao cao nhất trên máy đo độ cao là “tốt hơn” so với độ cao khác. Nếu một máy bay cần hạ cánh, hoặc tránh vùng nhiễu loạn, người phi công khôn ngoan sẽ điều khiển đến độ cao cần thiết cho tình huống đó. Cũng đúng trong y học. Các bác sĩ khôn ngoan biết loại thuốc nào phù hợp (và với liều lượng phù hợp) để điều trị một căn bệnh cụ thể. Trong nhiều trường hợp, họ cẩn thận để không kê đơn phương pháp điều trị mạnh nhất, vì bệnh nhân sẽ không thể chịu đựng nổi. Cũng như vậy, mỗi trường năng lượng đều phục vụ một cách hoàn hảo trong một bối cảnh nhất định. Không có trường năng lượng “tốt” hay “xấu”; chỉ có sự khôn ngoan cần thiết để phân biệt năng lượng nào là tốt nhất cho một tình huống cụ thể. Tiến sĩ Hawkins đã từng nói với tôi, “Nhiều người không thể đón nhận tình yêu, vì vậy tốt nhất là hãy cho họ thứ khác.”
Trong khi thang đo từ 1 đến 1.000 được trình bày theo lối tuyến tính để giúp tâm trí nắm bắt sự tồn tại của các mô thức hút với sức mạnh khác nhau, thì địa hình tổng thể của Bản đồ lại là phi tuyến tính, ở chỗ mọi thứ trong đó đều có giá trị ngang nhau. Một cái cây không tốt hơn một con chim, cũng như một con chim không tốt hơn gió. Mỗi thứ đều có đóng góp cực kì quan trọng vào quá trình tiến hóa của sự sống.
Tương tự như thế, mỗi đạo sư và mỗi tác phẩm trong danh sách dưới đây đều có đóng góp của mình. Tất cả đều đạt đến mức độ hiếm hoi là từ 600 trở lên trên Bản đồ. Những tầng tâm thức này vượt ra ngoài nhị nguyên và do đó truyền tải hướng dẫn tâm linh đáng tin cậy. Việc một cuốn kinh văn nằm ở tầng 600 hoặc 700 thay vì 900 có thể cho thấy rằng các đoạn văn đã được đưa vào “kinh văn” đó, có những mô tả nhân hình về Thiên Chúa, biện minh cho bạo lực và/hoặc các thực tiễn văn hóa xã hội được thừa hưởng từ các thời kỳ lịch sử khác nhau. Một đệ tử thông thái về văn học tâm linh, chẳng hạn, biết rằng Bài giảng trên núi của Chúa Jesus Christ được đánh giá ở tầng cao hơn hẳn so với nhiều câu khác trong Tân Ước. Chúng ta có thể giả định rằng hiệu chỉnh của một tác phẩm là tổng hợp của tất cả các câu trong đó; một số câu riêng lẻ, và thậm chí có cả các chương, có thể được hiệu chỉnh dưới 200.
Một trong những vai trò quan trọng của các danh sách dưới đây là sự thật tâm linh được tìm thấy trong tất cả các tôn giáo lớn. Tuyên bố này trái ngược hoàn toàn với khẳng định của những người theo phái chính thống (điệm hiệu chỉnh 130 trở xuống) rằng chỉ có tôn giáo của họ mới là tôn giáo “đúng đắn”.
Tầng hiệu chỉnh của các đạo sư và tác phẩm trong những tầng 600
Các vị thầy |
| Kinh sách |
|
Abhinavagupta | 655 | Abhinavagupta | 655 |
Aurobindo | 605 | A Course in Miracles (bài tập) | 600 |
Karmapa | 630 | Aggadah | 645 |
Kasyapa | 695 | Sáng thế ký (Lamsa Bible) | 660 |
Magdeburg | 640 | Tin lành theo Luke | 699 |
Muktananda | 655 | Tin lành theo Thomas | 660 |
Satchidananda | 605 | Kabbalah | 605 |
Towles, J. | 640 | Đạo Đức Kinh | 610 |
Lão tử | 610 | Midrash | 665 |
Vivekananda | 610 | Mishneh | 665 |
|
| Tin lành (Kinh James) | 640 |
|
| Thánh thi (Lamsa Bible) | 650 |
|
| Vijnana Bhairava Tantra | 635 |
|
| Đạo đức kinh | 610 |
Tầng hiệu chỉnh của một số vị thầy và kinh văn ở những tầng trên 700
Các vị thầy |
| Kinh văn |
|
Bồ Đề Đạt Ma | 795 | Bodhidharma, Giáo lý Thiền | 795 |
Charya, Adi Sankara | 740 | Áng mây của kẻ ngu muội | 705 |
Moses de Leon thành Granada | 720 | Kinh kim cương | 700 |
Dogen | 740 | Bát nhã tâm kinh | 780 |
Meister Eckhart | 705 | Koran | 700 |
Mahatma Gandhi | 760 | Diệu pháp liên hoa | 780 |
Nisargadatta Maharaj | 720 | Tân ước (Bản King James, trừ phần Khải huyền) | 790 |
Ramana Maharshi | 720 | Rig Veda | 705 |
Patanjali | 715 | Yoga Sutras, Patanjali | 740 |
Plotinus[1] | 730 | Ramayana | 810 |
Shankara | 710 | Mẹ Teresa | 710 |
Thánh Teresa thành Avila | 715 |
|
|
Tầng hiệu chỉnh của các vị thầy và kinh văn ở 850+
Chí tôn ca (Bhagavad Gita) | 910 |
Thiền (Hoàng Bá[2]) | 850 |
Kinh Lamsa (Không có Khải huyền và Cựu ước, ngoại trừ Sáng thế ký, Thi thiên, Châm ngôn) | 880 |
Bản tín điều Nicea (Nicene Creed) | 895 |
Áo nghĩa thư (Upanishads) | 970 |
Kinh Vệ Đà (Vedas) | 970 |
Zohar | 905 |
THỰC HÀNH VÀ TRẢI NGHIỆM TÂM LINH
Hiệu chỉnh tâm thức tạo ra một danh sách các thực hành và trải nghiệm tâm linh tiêu biểu là chính trực và do đó là có lợi. Tất cả đều thể hiện sự tận tâm và phổ biến trong các tôn giáo chân chính. Bằng ý định, người sùng đạo thánh hóa chính mình và người khác, cũng như các nơi thờ cúng. Do ý định, tất cả các hình thức ban phước và cầu nguyện đều có điểm hiệu chỉnh trên 500, và tác động tập thể của chúng có thể ảnh hưởng vô cùng to lớn tới tầng tổng thể của tâm thức tập thể của nhân loại.
Việc hiệu chỉnh các tầng hiệu chỉnh không chỉ ra rằng một tầng nào đó “tốt hơn” tầng khác mà chỉ là khác nhau, tương tự như việc lựa chọn gậy khi chơi golf, tùy thuộc vào việc người chơi sẽ đánh bóng ngắn, đánh bóng gần lỗ hay đánh bóng xa. Do đó, hiệu quả là kết quả của ý định chứ không chỉ là một kỹ thuật đơn thuần. Nhiều đệ tử tâm linh đã khám phá những phương pháp tiếp cận khác nhau này và báo cáo về những thực tiễn và trải nghiệm có lợi. Chỉ cần đọc các danh này sách cũng đủ để đảm bảo rằng người đó đang đi đúng hướng.
Thực hành:
Phương pháp | Điểm | Phương pháp | Điểm |
Aum (thần chú) | 210 | Phép rửa tội | 500 |
Tắm trên sông Hằng | 540 | Lễ thêm sức | 500 |
Hành động chí tâm | 540 | Nghi thức dâng hương chí tâm | 540 |
Quỳ một chân | 540 | Nguyên tắc vàng | 405 |
Nhạc thánh ca Gregorian | 595 | Hajj (Hành hương tới Mecca | 390 |
Lặp đi lặp lại thần chú | 515 | Lời nguyện Chúa Jesus | 525 |
Hát xướng tâm linh theo lối đối đáp | 250 | Quỳ gối cầu nguyện | 540 |
Các nghi thức cuối cùng | 500 | Kinh lạy Cha, (bản truyền thống) | 650 |
Phát âm Om | 740 | Om Mani Padme Hum | 700 |
Om Namah Shivaya | 630 | Hành động chắp tay nguyện cầu | 540 |
Hành động tử tế | 350 | Lời nguyện Hòa bình của Thánh Phanxicô | 580 |
Lời cầu nguyện của Jabez | 310 | Đọc Kinh Mân côi | 515 |
Lặp lại 3 lần “An bình” | 650 | Phó thác ý chí (tầng sâu) của mình cho Chúa | 850 |
Phó thác thế giới cho Chúa | 535 | Xoay bánh xe Pháp | 540 |
12 bước của A.A. | 540 | Thiền Siêu việt | 295 |
Quán tưởng trị liệu | 485 | Bức tường Than khóc | 540 |
Đi trong mê cung Nhà thờ Đức Bà Chartres | 505 | Điều lưu giữ trong tâm trí có xu hướng hiển lộ | 505 |
Trải nghiệm
Phật tính 1.000
Tâm thức Chúa Kitô 1.000
Thực Tại tối thượng 1.000
Cận tử 520+
Đốn ngộ (Satori) 585
Chứng ngộ 600+
Bí thích thánh thể 700
Lễ vượt qua 495
Lễ hội thờ phụng Nữ thần Durga 480
Ramadan 495
Lễ xông hơi tâm linh 560
Nghi lễ Thanh tẩy bằng Khói 520
Người tìm kiếm tâm linh không được khám phá những trải nghiệm tâm linh có điểm hiệu chỉnh thấp hơn ngưỡng chính trục (200), ngay cả khi chỉ là do tò mò. Chỉ vì một cái gì đó được gắn nhãn “tâm linh” không có nghĩa là nó đáng tin và trên thực tế, có thể là xao nhãng nghiêm trọng. Ví dụ, “bí thuật” có điểm hiệu chỉnh 135–185, các trò chơi bói toán có điểm hiệu chỉnh 175, và khả năng giao tiếp với thế giới tâm linh có điểm 190.
Áp dụng các nguyên tắc tâm linh vào nhiều vấn đề nan giải của con người được nhiểu người thừa nhận là có hiệu quả, ngay cả khi lúc đầu không có động cơ tâm linh, chẳng hạn như người nghiện rượu tuyệt vọng, sau khi bị thẩm phán ra lệnh tham dự các cuộc họp của A.A., đã hồi phục một cách kỳ diệu và trở thành nguồn cảm hứng cho người khác bằng cách thực hành các nguyên tắc tâm linh: “truyền tải thông điệp đến người khác”—nghĩa là chia sẻ thay vì thuyết phục.
Sự chính trực về mặt tâm linh thể hiện qua hy vọng, đức tin, từ thiện và truyền cảm hứng cho người khác bằng cách nêu gương. Các tổ chức tâm linh chính trực mở rộng cửa phát triển nhờ sự cuốn hút hơn là quảng bá, và các tổ chức này không có giáo điều. Dựa vào sức mạnh của trường năng lượng được thể hiện qua kinh nghiệm nhóm, nói rằng mọi người “hiểu được bằng cách thẩm thấu” chứ không phải bằng kiến thức mang tính trí tuệ.
[1] Các tác phẩm hiện có của Plotinus, như được liệt kê trong Tuyển tập Kinh sách vĩ đại của phương Tây có điểm hiệu chỉnh 503. Còn chính Plotinus trong những năm cuối đời có điểm hiệu chỉnh 730.
[2] Giáo lý Thiền của Hoàng Bá có vấn đề ở chỗ giáo lý này mô tả Con đường Phủ định và tuyên bố sai lầm rằng Trạng thái Không (điểm hiệu chỉnh 850) là Điều kiện Tối hậu của Phật quả (điểm hiệu chỉnh 1.000). Tiếp theo những bài thuyết pháp kinh điển về Tánh Không, chính Ông đã siêu việt giới hạn này và cuối cùng đạt đến tầng tâm thức 960 trong những giai đoạn sau của cuộc đời. Do đó, chỉ phủ định cái tuyến tính chứ không phủ nhận Thực tại phi tuyến tính của Tình yêu. Chỉ phủ nhận những chấp trước cá nhân hạn chế, đó là cảm xúc có tính hạn chế. Tình yêu Thần thánh là phẩm chất phổ quát và một bối cảnh phi tuyến tính, bẩm sinh như là Ánh sáng của bối cảnh tổng thể.
[i] Great Chain of Being – Chuỗi Hữu Thể Vĩ Đại là mô hình cổ điển diễn tả trật tự phân tầng của hiện hữu, nơi mọi cấp độ đều tương thuộc và nối kết trong một chỉnh thể toàn vẹn, quy hướng về Tuyệt Đối.
[ii] Dowsing – Cảm xạ, là phương pháp dò tìm hoặc hiệu chỉnh dựa trên phản ứng vi tế của cơ thể, được sử dụng trong một số truyền thống huyền học, nhưng còn gây tranh luận trong khoa học hiện đại.
[iii] Huna technique - là hệ thống thực hành huyền học hiện đại, lấy cảm hứng từ văn hóa Hawaii, nhấn mạnh việc làm việc với các tầng tâm thức và năng lượng nội tại.
THUẬT NGỮ
Mô thức hút (Attractor pattern): Xem Trường năng lượng.
Thuyết hỗn độn (Chaos Theory): Khoa học nghiên cứu các tiến trình vận động thay vì các trạng thái cố định. Lý thuyết này bắt nguồn từ việc khám phá ra các mô thức trong điều kiện không thể đoán trước. Quan điểm mà nó đề xuất hướng tới việc nhận diện những khả thể mang tính toàn cục hơn là những biến cố cục bộ, và bao hàm một hệ thống tô-pô sử dụng các mô thức và hình dạng để hình dung cấu trúc nội tại của một hệ thống phức tạp — tuy không thể dự đoán ở cấp độ cục bộ, nhưng lại ổn định ở cấp độ toàn cục. Thuyết hỗn độn thừa nhận rằng hệ thống phức tạp có thể đồng thời tạo ra cả sự hỗn loạn và sự mạch lạc.
Cuối những năm 1800, Jules-Henri Poincaré lưu ý rằng, vật lý học Newton chính xác về mặt toán học khi chỉ nghiên cứu tương tác giữa hai vật thể, nhưng nếu thêm vào yếu tố thứ ba thì các phương trình của Newton không còn đáng tin nữa – chỉ có thể đạt mức gần đúng mà thôi. Tính phi tuyến tính này ám chỉ rằng, theo thời gian, bất cứ hệ thống nào cũng có thể – thông qua phản hồi và lặp lại – trở nên không thể đoán trước được. Năm 1963, Lorenz công bố bài báo nhan đề “Dòng chảy tất định, không theo chu kỳ” (Deterministic Nonperiodic Flow), cung cấp cho chúng ta hệ hình khoa học mới, được James Yorke gọi là “Thuyết hỗn độn” trong bài báo nổi tiếng của mình: “Period Three Implies Chaos” (Tạm dịch: Giai đoạn Ba ám chỉ sự hỗn độn). Thuyết hỗn độn bao gồm các chủ đề như nhân đôi chu kỳ (period doubling) phép lặp (iteration), hình học phân dạng (fractals) và sự phân nhánh (bifurcation), đồng thời thừa nhận rằng trong một không gian hữu hạn có thể tồn tại vô số chiều kích. Hội nghị đầu tiên về Hỗn độn được tổ chức tại Viện Hàn lâm Khoa học New York (New York Academy of Science vào năm 1977), và năm 1986, Viện này đã tổ chức hội nghị đầu tiên về Thuyết hỗn độn trong y học và sinh học.
Tâm thức (Consciousness): Tâm thức là nền tảng bất khả quy giản của tồn tại, vô hình tướng nhưng bao hàm mọi hình tướng. Nó là vô hạn, không có khởi đầu và không có kết thúc. Trường tâm thức, theo một hệ thuật ngữ khác, được gọi là Phật tính hay Tâm của Thiên Chúa (Mind of God). Có thể ví nó như một trường điện từ vô hạn và toàn năng. Mỗi vật đều có vị trí riêng của mình trong trường này, tương tự như một mạt sắt; vị trí của bạn trong trường phụ thuộc vào “điện tích” của bạn — tức là dựa trên những quyết định mà bạn đã chọn lựa. Khi bạn nói: “Tôi tha thứ cho người đó”, bạn dịch chuyển lên cao hơn trong trường này. Còn nếu bạn nói: “Tôi sẽ trả đũa kẻ xấu đó”, bạn dịch chuyển xuống thấp hơn. Rõ ràng, không thể đổ lỗi cho Thiên Chúa hay cho bất kỳ ai khác. Mời đọc thêm ghi chú i ở cuối sách.
Bối cảnh (Context): Toàn bộ trường quan sát được quy định bởi một quan điểm nào đó. Bối cảnh bao gồm bất kỳ sự kiện quan trọng nào làm rõ nghĩa cho một tuyên bố hoặc sự kiện. Dữ liệu sẽ vô nghĩa nếu không làm rõ bối cảnh của nó. “Lấy ra khỏi bối cảnh” là làm sai lệch ý nghĩa của lời tuyên bố tức là không xác định được các điều kiện kèm theo góp phần làm rõ nghĩa. (Đây là mánh khóe phổ biến trong các phiên tòa. Luật sư cố tình bóp méo lời khai của nhân chứng bằng cách lờ đi các chi tiết có thể thay đổi hàm ý của lời khai, mà chỉ yêu cầu nhân chứng trả lời “có” hoặc “không”).
Sáng tạo/Sáng thế (Creation): Một tiến trình liên tục không có khởi đầu cũng không có kết thúc, qua đó vũ trụ hiển lộ của hình tướng và vật chất được tạo ra bằng sự lặp lại, khởi đi từ ba điểm — chỉ cần như vậy là đủ, và thông qua cấu trúc phân dạng (fractal) sẽ tạo nên sự đa dạng vô hạn các hình tướng. (Điều này được minh họa qua mặt phẳng phức quen thuộc của tập hợp Benoit Mandelbrot[i].) Trong tiếng Phạn, ba phương diện của sự khởi nguyên của tất cả có thể được trải nghiệm gọi là Rajas, Tamas và Sattva. Hình tượng hóa thông qua các vị thần Ấn giáo: Brahma, Shiva và Vishnu. Trong Kitô giáo, đấy là Chúa Ba Ngôi (Holy Trinity).
Nhị nguyên (Duality): Thế giới hình tướng được đặc trưng bởi sự tách biệt rõ ràng giữa các đối tượng (phản ánh trong các cặp đối lập về khái niệm như “cái này/cái kia,” “ở đây/ở đó,” “lúc đó/bây giờ,” hoặc “bạn/tôi”). Tri giác hạn chế này được tạo ra bởi các giác quan, đấy là do hạn chế nằm sẵn trong một điểm nhìn cố định. Khoa học cuối cùng đã vượt qua sự phân đôi nhân tạo giữa người quan sát và đối tượng được quan sát - đặc trưng của thuyết nghị nguyên theo quan điểm của Descartes, thế kỷ XVII, và hiện nay cho rằng người quan sát và đối tượng được quan sát là một và như nhau. Vũ trụ không có trung tâm, nó liên tục mở rộng đều đặn và đồng thời từ mọi điểm. Định lý Bell[ii] đã giúp chúng ta chứng minh rằng đây là vũ trụ của các sự kiện đồng thời xảy ra chứ không phải vũ trụ của nguyên nhân và hậu quả cách nhau trong không gian và xảy ra trong khung thời gian nhân tạo theo quan điểm của Newton. Chính thời gian và không gian cũng đều chỉ là sản phẩm có thể đo lường được của trật tự ngầm ẩn cao hơn.
Bản ngã/Cái tôi (hay tự ngã - Ego or self with a small s). Bản ngã là “kẻ làm” hư ảo ẩn phía sau mọi ý nghĩ và hành động; vốn được tin là không thể thiếu cho sự sống còn. Thực chất, nó là tập hợp những khuôn mẫu tư duy cố kết, được duy trì bởi sự cộng hưởng với các trường năng lượng vô hình đang thống trị Tâm thức nhân loại. Chúng được củng cố bởi sự lặp lại và bởi sự đồng thuận của xã hội. Sự củng cố hơn nữa đến từ chính ngôn ngữ. Suy nghĩ bằng ngôn ngữ là một hình thức tự lập trình. Việc sử dụng đại từ “tôi” làm chủ ngữ, và do đó ám chỉ rằng “tôi” là nguyên nhân của mọi hành động, sai lầm nghiêm trọng nhất và tự động tạo ra nhị nguyên giữa chủ thể và đối tượng.
Xuất hiện (Emergence): Đời sống không diễn ra theo trình tự nhân quả tuyến tính; trái lại, đời sống xuất hiện một cách tự phát từ trường năng lượng và mãi mãi hòa làm một với trường năng lượng đó. Trường năng lượng này là vô hạn, mọi tồn tại mang tính hiện tượng đều phát sinh từ đó, nó chính là trường năng lượng của tâm thức, vốn từ bi và công bằng, bởi vì “Tình yêu là Luật tối thượng của Vũ trụ” (tuyên bố có điểm hiệu chỉnh 750). Trường năng lượng này và các hiện tượng là một thể thống nhất năng động, đồng thời là sáng tạo và tiến hóa. Không có xung đột giữa tiến hóa và sáng tạo, vì sáng tạo thể hiện chính nó như tiến hóa khi tiềm năng trở thành hiện thực.
Trường năng lượng (Energy field): Trong công trình nghiên cứu này, một dãy giá trị được thiết lập bởi các tham số của không gian pha của một trường hút với mô thức vận hành bên trong trường năng lượng lớn hơn của tâm thức và có thể quan sát được thông qua các tác động đặc trưng trong hành vi của con người. Sức mạnh của các trường năng lượng được hiệu chỉnh tương tự như điện áp trong hệ thống điện hoặc sức mạnh của từ trường hoặc trọng lực. Các tầng được hiệu chỉnh của Tâm thức đại diện cho những trường hút mạnh trong chính Tâm thức, chi phối sự tồn tại của nhân loại và do đó, xác định nội dung, ý nghĩa và giá trị, đồng thời đóng vai trò như những năng lượng tổ chức các mô thức hành vi phổ biến của con người. Sự phân tầng của các mô thức hút này, tương ứng với các tầng Tâm thức, cung cấp một hệ hình mới để tái định vị trải nghiệm của nhân loại trong mọi thời đại.
Chứng ngộ (Enlightenment): Trạng thái Nhận biết thay thế tâm thức thông thường ngay khi bản ngã được buông bỏ. Tự ngã được thay thế bằng Đại Ngã. Trạng thái này vượt ngoài thời gian và không gian, tĩnh lặng, và tự hiển lộ như là mặc khải. Trong trạng thái bất nhị này, chỉ còn sự chứng kiến sự sống hiển lộ trong từng khoảnh khắc, khi mọi sự phát sinh một cách tự phát chứ không phải như hệ quả của quan hệ nhân–quả. Thanh lọc tâm linh là tiến trình loại bỏ những chướng ngại che khuất ánh sáng của Tâm thức, qua đó sự hợp nhất của nó với Đại Ngã được hiển lộ. Trạng thái Chứng ngộ cho thấy rằng Cội Nguồn của hiện hữu—Ánh Sáng vốn từng được tìm kiếm ở nơi khác hay trong tương lai—đang chiếu sáng ngay chính trong khoảnh khắc này.
Đồng bộ hóa (Entrainment): Một hiện tượng được minh họa qua nguyên lý “khóa pha”. Khi nhiều đồng hồ quả lắc được đặt gần nhau, các quả lắc của chúng sẽ dần dần dao động đồng bộ với nhau. Trong sinh học con người, hiện tượng này biểu hiện khi các nhóm phụ nữ sống hoặc làm việc cùng nhau dần dần đồng bộ chu kỳ kinh nguyệt. Nó tương tự như hiện tượng cộng hưởng của âm thoa. Chính vì quá trình này mà binh lính có xu hướng phá bước (không giữ nhịp đều) khi đi qua cầu.
Sự quen thuộc và nhận diện mô thức (Familiarity and pattern recognition): Tâm trí con người nhận biết mọi sự bằng cơ chế nhận diện mô thức một cách toàn thể. Cách dễ nhất để nắm bắt một khái niệm hoàn toàn mới là thông qua quá trình làm quen. Việc học diễn ra bằng cách quay trở lại cùng một khái niệm lặp đi lặp lại cho đến khi nó trở nên hiển nhiên. Điều này giống như việc khảo sát một địa hình mới từ trên máy bay: ở lượt bay đầu tiên, mọi thứ đều xa lạ; lần thứ hai, ta bắt đầu nhận ra vài điểm tham chiếu; đến lần thứ ba, cảnh vật dần có ý nghĩa, và cuối cùng ta trở nên quen thuộc chỉ nhờ sự tiếp xúc lặp lại. Cơ chế nhận diện mô thức bẩm sinh của tâm trí sẽ đảm nhiệm phần còn lại.
Trường chi phối (Fields of dominance): Một trường chi phối được biểu lộ khi các mô thức năng lượng cao tác động và chi phối các mô thức yếu hơn. Điều này có thể được ví như một từ trường nhỏ tồn tại bên trong từ trường rộng lớn và mạnh mẽ hơn nhiều của một nam châm điện khổng lồ. Vũ trụ hiện tượng là biểu hiện của tương tác giữa vô số mô thức hút với những cường độ khác nhau. Sự phức tạp vô tận của đời sống phản ánh những dao động lan truyền không ngừng của sự tăng cường và suy giảm của các trường này, được chồng lớp bởi các dao động phụ và những tương tác đa dạng giữa chúng với nhau.
Fractal: Các mô thức fractal được đặc trưng bởi tính bất quy tắc và chiều dài vô hạn; các điểm hút lạ được cấu thành từ những đường cong fractal. Một ví dụ kinh điển hình là nỗ lực xác định chiều dài đường bờ biển nước Anh. Nếu đo bằng những thang đo ngày càng nhỏ, chiều dài tính được sẽ tăng lên không giới hạn. Fractal hàm ý một chiều dài vô hạn trong một diện tích hữu hạn.
Nguyên lý Heisenberg: Cơ học lượng tử mở ra lối thoát khỏi phạm vi tuyến tính và hạn chế của hệ hình Newton cổ điển, thông qua nguyên lý Heisenberg, vốn khẳng định rằng việc quan sát một hiện tượng đồng thời làm thay đổi nó do chính tác động của hành vi quan sát. Theo cách diễn giải này, tầng Tâm thức của người quan sát càng cao thì ảnh hưởng lên đối tượng được quan sát càng sâu sắc.
Ảnh toàn ký (Hologram): Là sự tái hiện hình ảnh ba chiều của một vật thể trong không gian, được tạo ra bằng cách chiếu tia laser sao cho một nửa chùm tia chiếu vào vật thể rồi phản xạ tới bản phim quang học, trong khi nửa còn lại chiếu trực tiếp lên bản phim đó. Hai chùm tia tạo nên một mô hình giao thoa ánh sáng trên bề mặt phim. Sau đó chiếu một tia laser qua bản phim này, hình ảnh ba chiều của vật thể sẽ được tái tạo trong không gian. Điều đáng chú ý là mỗi phần nhỏ của bản phim đều có khả năng tái hiện toàn bộ hình ảnh của vật thể. Trong một vũ trụ toàn ký, mọi sự vật đều liên kết với mọi sự vật khác.
Phép lặp (Iteration): Phép lặp là sự lặp lại. Phép lặp phi tuyến tính hiện diện trong vô số hệ thống. Chính vì sự lặp lại này mà chỉ một thay đổi cực kỳ nhỏ trong điều kiện ban đầu, theo thời gian, có thể tạo ra một mô thức hoàn toàn khác với mô thức ban đầu. Trong một phương trình tăng trưởng, kết quả của lần lặp trước trở thành đầu vào cho lần lặp tiếp theo. Ví dụ, nếu một máy tính tính đến mười sáu chữ số thập phân, thì chữ số cuối cùng thực chất là kết quả làm tròn của chữ số thứ mười bảy. Sai số vô cùng nhỏ này, khi được khuếch đại qua nhiều lần lặp, có thể dẫn đến sai lệch đáng kể so với dữ liệu gốc và khiến việc dự đoán trở nên bất khả thi. Vì vậy, chỉ một thay đổi rất nhỏ trong một mô thức tư duy lặp đi lặp lại cũng có thể tạo ra những hệ quả lớn lao.
Định luật phụ thuộc nhạy cảm vào điều kiện ban đầu (Law of sensitive dependence on initial conditions): Định luật này chỉ ra rằng một sai biệt rất nhỏ, theo thời gian, có thể dẫn đến một thay đổi sâu sắc. Giống như một con tàu chỉ lệch một độ so với phương hướng la bàn, nhưng sau một hành trình dài sẽ cách xa điểm đến hàng trăm dặm.
Não trái (Left-brain): Nói đến kiểu tư duy theo trình tự tuyến tính, thường được miêu tả là “logic” hay “lý trí”. Xử lý dữ liệu theo trình tự A → B → C. Tương tự như máy tính kỹ thuật số.
Tuyến tính (Linear): Mang tính tuần tự, diễn tiến theo một tiến trình logic như trong hệ hình vật lý Newton; vì vậy có thể giải quyết bằng toán học truyền thống, đặc biệt thông qua các phương trình vi phân..
Trường tạo hình (Morphogenetic field): Tương tự như các mô thức hút. Trong giả thuyết của nhà sinh học Rupert Sheldrake các trường tạo hình là một phần của thuyết “nhân quả hình thành” (formative causation), cho rằng các trường năng lượng của hình tướng tiến hóa và củng cố lẫn nhau theo thời gian. Khi một cá nhân đạt được đột phá trong một lĩnh vực nào đó, thành tựu ấy làm tăng khả năng để những người khác trong cùng loài đạt được điều tương tự. Ví dụ, khi Roger Bannister phá vỡ “trường M” của cột mốc chạy một dặm dưới bốn phút, chỉ trong thời gian ngắn sau đó đã có nhiều vận động viên khác đạt được thành tích tương tự.
Mạng lưới thần kinh (Neural Network ): Các mô thức liên kết và tương tác phức tạp giữa các nơron trong hệ thần kinh.
Chất dẫn truyền thần kinh (Neurotransmitters): Các chất hóa học trong não (bao gồm hormone và các phân tử tín hiệu khác) điều hòa quá trình truyền tín hiệu giữa các nơron trong toàn bộ hệ thần kinh. Những thay đổi hóa học rất nhỏ có thể dẫn đến những biến đổi lớn trong cảm xúc, suy nghĩ hoặc hành vi — cả ở mức độ chủ quan lẫn khách quan. Đây hiện là một trong những lĩnh vực trọng tâm của nghiên cứu tâm thần học hiện đại.
Phi nhị nguyên (Nonduality): Trong lịch sử, tất cả những người đạt đến tầng Tâm thức trên 600 đều mô tả cùng một thực tại mà lý thuyết khoa học tiên tiến ngày nay đang gợi mở. Khi vượt qua giới hạn của một điểm quy chiếu tri giác cố định, ảo ảnh về sự tách biệt chấm dứt — kể cả sự tách biệt trong không gian và thời gian như ta vốn hiểu. Vạn hữu tồn tại đồng thời trong vũ trụ phi hiển lộ — cuộn vào, hàm ẩn, bao hàm — và tự biểu lộ thành vũ trụ hiển lộ — mở ra, triển khai, thành hình tướng trong tri giác. Nhưng những hình tướng ấy, trong bản chất chân thực, không có sự tồn tại nội tại hay độc lập; chúng chỉ là sản phẩm của tri giác. Nói cách khác, ta chỉ đang trải nghiệm nội dung của chính tâm trí của mình. Ở tầng phi nhị nguyên, có sự quan sát nhưng không có người quan sát, vì chủ thể và đối tượng là một. “Bạn” và “tôi” tan biến vào Đại Ngã Duy Nhất, đang trải nghiệm tất cả như là thiêng liêng. Ở tầng 700, chỉ có thể nói giản dị rằng: “Tất Cả Đang Là.” Trạng thái ấy là Hiện hữu thuần túy. Tất cả là Tâm thức — vô hạn — là Thượng Đế — không phân chia, không khởi đầu, không kết thúc.
Thân xác vật lý chỉ là một biểu hiện của Đại Ngã Duy Nhất. Khi trải nghiệm chiều kích này, Đại Ngã tạm thời quên bản thể chân thực của mình, và chính sự quên ấy cho phép ảo ảnh về một thế giới ba chiều xuất hiện. Thân thể chỉ là một phương tiện giao tiếp. Đồng nhất mình với thân thể và gọi nó là “tôi” là tình trạng của người chưa chứng ngộ; từ đó họ kết luận sai lầm rằng mình là hữu hạn, sinh ra rồi sẽ chết. Chính cái chết cũng chỉ là ảo ảnh — phát sinh từ sự đồng nhất sai lầm với thân xác như là “Tôi”. Trong phi nhị nguyên, Tâm thức tự trải nghiệm chính mình — vừa hiển lộ vừa phi hiển lộ — nhưng không có “ai” đang trải nghiệm. Trong Thực tại này, điều duy nhất có khởi đầu và kết thúc chỉ là hành vi tri giác mà thôi. Trong thế giới huyễn ảo này, ta giống như kẻ ngốc tưởng rằng vạn vật bắt đầu tồn tại khi mình mở mắt ra, và chấm dứt khi mình nhắm mắt lại.
Phi tuyến tính (Nonlinear[1]): Chỉ tính chất bất quy tắc, không thể dự đoán theo thời gian; “nhiễu”, không tuần hoàn, và mang tính ngẫu biến (stochastic). Phi tuyến tính được minh họa qua các chuỗi toán học, chẳng hạn các phương trình tiến hóa ngẫu biến có dạng: dx(t)/dt = F(x(t)) + w(t), trong đó w(t) là thành phần nhiễu của quá trình ngẫu biến. Thuật ngữ này cũng dùng để chỉ toán học của các tín hiệu hỗn độn, bao gồm việc phân tích thống kê các chuỗi thời gian trong những hệ phi tuyến mang tính tất định. “Phi tuyến” hàm nghĩa khuếch tán hoặc hỗn độn; không tuân theo mô hình logic xác suất tuyến tính thông thường; và không thể giải bằng các phương trình vi phân theo nghĩa cổ điển. Đây là đối tượng nghiên cứu của Chaos Theory (Thuyết hỗn độn), một ngành đã khai mở một nền toán học mới vượt ra ngoài khuôn khổ cơ học Newton truyền thống.
Không gian pha (Phase space[2]): Một biểu diễn (bản đồ) cho phép cô đọng dữ liệu không–thời gian thành một mô thức trong nhiều chiều kích. Bản đồ Poincaré là sự biểu diễn đồ họa của một lát cắt trong không gian pha, qua đó làm lộ rõ cấu trúc điểm hút của một hệ thống động lực.
Lập trường (Positionality): Lập trường là những cấu trúc khởi động toàn bộ cơ chế tư duy và kích hoạt nội dung của nó[3]. Chúng là những “chương trình” của tâm trí, chứ không phải là Đại Ngã chân thực. Thế giới chứa vô vàn lập trường — những giả định tùy tiện và hoàn toàn sai lạc. Những lập trường nguyên sơ gồm có: (1) ý tưởng vốn có ý nghĩa và tầm quan trọng tự thân; (2) tồn tại một ranh giới phân chia giữa các mặt đối lập; (3) có giá trị của quyền tác giả — tức là tư tưởng có giá trị vì chúng là “của tôi”; (4) tư duy là cần thiết để kiểm soát, và sự sống còn phụ thuộc vào kiểm soát. Mọi lập trường đều là tự nguyện và có thể được buông bỏ vì tình yêu. Sự Hiện diện của Thiên Chúa như Tình Yêu sẽ tự mặc khải khi tính nhị nguyên của tri giác chấm dứt — hệ quả của việc buông bỏ các lập trường. Vì vậy, Tình Yêu là cánh cửa nối giữa miền tuyến tính và miền phi tuyến. Ý chí tâm linh được củng cố và kích hoạt bởi tình yêu, sùng kính, và sẵn sàng phó thác. Tình yêu không có hình tướng; chính tình yêu là năng lực khiến con người sẵn sàng, vì tình yêu ấy, mà trao lại các lập trường của mình cho Thiên Chúa. Buông bỏ tính cố chấp của ý chí — tức các lập trường — mang lại an bình trong mọi hoàn cảnh.
Não phải (Right-brain): Thường được hiểu là mang tính “chỉnh thể (holistic[4])”; cho phép các chức năng như đánh giá, trực giác, và khả năng nắm bắt ý nghĩa, tầm vóc và hàm ý suy luận. Não phải vận hành theo cách phi tuyến; hoạt động dựa trên các mô thức và mối tương quan hơn là theo chuỗi nhân–quả logic kiểu Newton. Người ta cho rằng não phải xử lý tổng thể thay vì từng phần riêng lẻ. Tương tự một máy tính analog, nó làm việc với các tiến trình và thường có thể hoạt động mà không cần quy chiếu thời gian. Tri giác của não phải có khả năng nhận ra bản chất cốt lõi trong một trường dữ liệu phức hợp — những dữ kiện vốn không dễ quy về phân tích nhận thức thuần lý — như các hiện tượng phổ quát kiểu “phải lòng” hay sáng tạo. (Các thuật ngữ “não trái” và “não phải” khởi nguồn từ quan niệm trước đây cho rằng các phong cách tri giác khác nhau được khu trú ở những vùng não nhất định. Tuy nhiên, như Karl Pribram đã chỉ ra, não bộ vận hành theo mô hình toàn ảnh (holographic) hơn là theo sự định vị giải phẫu chính xác.)
Phương pháp khoa học (Scientific): Phương pháp khảo cứu tự nhiên được thiết kế nhằm rút ra các định luật có khả năng dự đoán về các tính chất vật lý. Lý thuyết khoa học hiện đại khởi đầu vào thế kỷ XVI với tác phẩm Discourse on the Method của René Descartes, tiếp nối bởi phương pháp quy nạp của Francis Bacon, và sau đó là Philosophiæ Naturalis Principia Mathematica của Isaac Newton. John Locke là người đầu tiên sử dụng thuật ngữ “khoa học” (scientific) và cho rằng sự chắc chắn về tương tác của các hiện tượng vật lý dựa trên dữ liệu thu được qua cảm giác giác quan. Những quan niệm này hình thành nên mô hình vũ trụ cơ học và có thể dự đoán được. Tuy nhiên, quan điểm ấy bị thách thức bởi thuyết lượng tử hiện đại, vốn khẳng định rằng ở cấp độ hạ nguyên tử, các quy luật xác suất thay thế cho các định luật tất định.
Lịch sử cho thấy khoa học không tiến bộ đơn thuần bằng cách mở rộng các lý thuyết sẵn có, mà bằng những bước nhảy do sự thay đổi hệ hình (paradigm shift). Hàm ý ở đây là khoa học chỉ phản ánh một điểm nhìn, và không tồn tại sự tách biệt tuyệt đối giữa người quan sát và cái được quan sát. Thuyết tương đối còn cho rằng vật chất và năng lượng là tương đương — tùy thuộc vào hệ quy chiếu. Mô hình toàn ảnh của David Bohm đề xuất rằng trật tự hiển lộ (explicit order) phát sinh từ trật tự hàm ẩn (implicit order). Hình tướng trở thành hệ quả của sự suy diễn; không gian và thời gian mang tính phi định xứ; không có “đây” hay “kia” — đó là tính phi định xứ của toàn thể lượng tử. Vũ trụ, theo cách mô tả này, chứa đựng vô số chiều kích và các thực tại ở cấp độ cao hơn.
Đại Ngã (Self - S chữ viết hoa): Đại Ngã vượt lên trên mọi hình tướng, nhưng đồng thời cũng nội tại trong tất cả. Ngài phi thời gian, không khởi đầu cũng không kết thúc, bất biến, vĩnh hằng và bất tử. Từ Đại Ngã phát sinh cái biết (awereness), tâm thức (consciousness) và trạng thái “ở nhà” vô hạn — cảm giác an nhiên tuyệt đối trong chính bản thể mình. Đại Ngã là chủ thể tối hậu, từ đó mọi cảm nhận về “tôi” nơi mỗi người sinh khởi.
Điểm hút lạ (Strange Attractor): Thuật ngữ do David Ruelle và Floris Takens đưa ra năm 1971, trong một lý thuyết cho rằng chỉ cần ba chuyển động độc lập là đủ để tạo nên toàn bộ sự phức tạp của các mô thức phi tuyến trong vũ trụ. Điểm hút lạ là mô thức xuất hiện trong không gian pha. Mô thức ấy được vạch nên bởi quỹ đạo của các điểm trạng thái theo thời gian trong một hệ động lực. Tâm của một trường hút tương tự như tâm của một quỹ đạo quay. Các điểm hút có cấu trúc fractal, và vì vậy có độ dài vô hạn. Hình ảnh đồ họa của các điểm hút thường được biểu diễn qua một lát cắt của bản đồ Poincaré. Cấu trúc topo của không gian pha có thể tạo nên các dạng điểm hút như hình xuyến (torus) — tương tự một chiếc bánh vòng.
Vũ trụ (Universe): Có thể xem vũ trụ của chúng ta là có vô hạn chiều kích. Vũ trụ ba chiều quen thuộc theo sự đồng thuận thông thường chỉ là một trong số đó, và thực chất chỉ là một ảo ảnh do các giác quan tạo dựng. Khoảng không giữa các thiên thể không hề trống rỗng mà tràn đầy một biển năng lượng; năng lượng tiềm tàng trong một inch vuông có thể được xem là tương đương với toàn bộ khối lượng của vũ trụ vật chất. David Bohm đề xuất mô hình về các trạng thái “cuộn lại” và “mở ra” của tồn tại, với một trật tự hiển lộ (explicit order) và một trật tự hàm ẩn (implicit order) của thực tại. Mô hình này tương đồng với các khái niệm về trạng thái hiển lộ và phi hiển lộ của thực tại đã được những người đạt tới chúng ngộ và trải nghiệm tính phi nhị nguyên mô tả trong suốt nhiều thế kỷ.
Trong mô hình nhân quả:
A → B → C là vũ trụ của hình tướng — mở ra, hiển lộ, rõ ràng và có thể phân biệt được. ABC là trạng thái cuộn lại, tiềm ẩn và phi hiển lộ; đó là nền tảng vô hình vượt ngoài biểu hiện, là ma trận vô hạn và phi hình tướng của cả hình tướng lẫn phi hình tướng — toàn năng, toàn tri và hiện diện khắp nơi.
Tài liệu tham khảo thêm
Chương 1
Power vs. Force: The Hidden Determinants of Human Behavior, Author’s Official Authoritative Edition (Hay House, 2013)
Success Is for You: Using Heart-Centered Principles for Lasting Abundance and Fulfillment (Hay House, 2016)
Healing and Recovery (Hay House, 2015)
Letting Go: The Pathway of Surrender (Hay House, 2014)
Chương 2
Power vs. Force
Letting Go
Chương 3
Transcending the Levels of Consciousness: The Stairway to Enlightenment Hay House, 2015).
Reality, Spirituality and Modern Man (Hay House, 2015)
Truth vs. Falsehood: How to Tell the Difference (Hay House, 2013)
Book of Slides: The Complete Collection Presented at the 2002–2011 lectures with Clarifications (Veritas Publishing, 2018)
Chương 4
Healing and Recovery
Transcending the Levels of Consciousness
Letting Go
Chương 5
Success Is for You
Chương 6
Healing and Recovery
Power vs. Force
Chương 7
Transcending the Levels of Consciousness
Book of Slides
Chương 8
Discovery of the Presence of God: Devotional Nonduality (Hay House, 2013)
The Eye of the I: From Which Nothing Is Hidden (Hay House, 2016)
Transcending the Levels of Consciousness
Chương 9
I: Reality and Subjectivity (Hay House, 2014)
The Eye of the I
Transcending the Levels of ConsciousnessDiscovery of the Presence of God
Book of Slides
Kết luận
Transcending the Levels of Consciousness
THÔNG TIN TIỂU SỬ VÀ
TỰ TRUYỆN
TÓM TẮT TIỂU SỬ
Sau khi phục vụ trong Hải quân Hoa Kỳ trong Thế chiến II, Bác sĩ Hawkins tốt nghiệp Trường Cao đẳng Y khoa Wisconsin vào năm 1953. Trong 25 năm tiếp theo, ông sống ở New York, những công trình tiên phong của ông trong vai trò bác sĩ tâm thần đã mang lại những đột phá lâm sàng quan trọng, đặc biệt là trong điều trị bệnh tâm thần phân liệt và nghiện rượu. Các phát hiện của ông đã được công bố rộng rãi trên các tạp chí y khoa, khoa học và phân tâm học. Với tư cách là giám đốc y tế của Trung tâm Sức khỏe Tâm thần Bắc Nassau (1956–1980) và giám đốc nghiên cứu tại Bệnh viện Brunswick (1968–1979) trên đảo Long Island, ông có phòng khám lớn nhất ở New York. Tiến sĩ Hawkins cũng từng là cố vấn tâm thần cho các tu viện Công giáo, Tin lành và Phật giáo. Năm 1973, ông là đồng tác giả cuốn Orthomolecular Psychiatry với nhà hóa học đoạt giải Nobel Linus Pauling, khởi xướng một lĩnh vực mới trong tâm thần học và dẫn đến các lần xuất hiện trên chương trình Today Show, các cuộc phỏng vấn truyền hình với Barbara Walters và chương trình The MacNeil/Lehrer NewsHour.
Bác sĩ Hawkins đã sống ba mươi năm cuối đời ở Arizona, làm việc để tìm mối liên hệ giữa hai lĩnh vực tưởng chừng như khác biệt là khoa học và tâm linh. Năm 1983, ông thành lập Viện Nghiên cứu Tâm linh (Institute for Spiritual Research), một tổ chức phi lợi nhuận chuyên nghiên cứu về tâm thức. Trong những năm 1980, các bài giảng của ông tại các sự kiện như Hội nghị Quốc gia đầu tiên về Nghiện và Tâm thức (1985) và Whole Life Expo (1986), cả hai đều diễn ra tại California, đã tái định nghĩa chứng nghiện bằng cách làm sáng tỏ động lực tâm linh tiềm ẩn hướng tới sự an bình nội tâm và cách vun đắp nó mà không cần đến chất gây nghiện. Trong những năm 1990, ông đảm nhiệm cương vị trưởng ban chuyên môn tại Trung tâm Điều trị Nội trú Mingus Mountain Estate dành cho các thiếu nữ vị thành niên ở Prescott Valley, và đồng thời làm bác sĩ tâm thần tư vấn cho nhiều cơ sở phục hồi tại Arizona.
Năm 1995, ở tuổi 68, ông được trao bằng Tiến sĩ về Y tế và Dịch vụ Nhân sinh. Cùng năm đó, cuốn sách của ông, Power vs. Force được xuất bản, được dịch ra 25 ngôn ngữ, bán được hơn một triệu bản và nhận được lời khen ngợi từ những nhân vật nổi tiếng như Mẹ Teresa và Sam Walton. Cuốn sách trình bày bản đồ tâm thức đặc trưng của ông, hiện đang được các chuyên gia y tế, giáo sư đại học, quan chức chính phủ và giám đốc điều hành doanh nghiệp trên toàn thế giới sử dụng. Nhiều cuốn sách khác đã ra đời sau đó.
Từ năm 1998 đến năm 2011, Tiến sĩ Hawkins đã đi khắp thế giới để thuyết giảng tại các hội trường lớn ở Hoa Kỳ và nước ngoài, thu hút đông đảo khán giả về khoa học tâm thức và thực tại của các trạng thái tâm linh cao cấp. Ông đã thuyết trình tại Oxford Forum và Westminster Abbey, cũng như Đại học Harvard, Đại học Buenos Aires, Đại học Notre Dame, Đại học Fordham và Institute of Noetic Sciences. Ông đã trình bày Bài giảng Landberg thường niên tại Trung tâm Khoa học Y tế Đại học California ở San Francisco. Bài giảng cuối cùng của ông, về chủ đề “Tình yêu”, diễn ra vào tháng 9 năm 2011, thu hút 1.700 người đến từ khắp nơi trên thế giới.
Tiến sĩ Hawkins đã được nhiều tổ chức vinh danh vì những đóng góp nổi bật trong lĩnh vực khoa học và nhân đạo, bao gồm: Giải thưởng Huxley vì “Đóng góp vô giá trong việc làm vơi bớt nỗi khổ của nhân loại”; Giải thưởng Ghi nhận Bác sĩ của Hiệp hội Y khoa Hoa Kỳ; danh hiệu Hội viên Trọn đời Xuất sắc 50 năm của Hiệp hội Tâm thần học Hoa Kỳ; được ghi danh vào Đại sảnh Danh vọng Y học Phân tử Chỉnh thể (Orthomolecular Medicine Hall of Fame); xuất hiện trong Who’s Who in the World; và được đề cử cho giải thưởng danh giá Templeton Prize — giải thưởng tôn vinh những tiến bộ trong khoa học và tôn giáo. Để ghi nhận những cống hiến của ông cho nhân loại, năm 1996, Tiến sĩ Hawkins được phong tước hiệp sĩ bởi Sovereign Order of the Hospitallers of St. John of Jerusalem (thành lập năm 1077), theo thẩm quyền của Tu viện (priory) thuộc Vua Valdemar Đại đế. Năm 2000, tại Seoul, Hàn Quốc, ông được trao tặng danh hiệu “Tae Ryoung Sun Kak Tosa” (Bậc Thầy Chứng Ngộ). Ông cũng từng là cố vấn cho các chính phủ nước ngoài trong lĩnh vực ngoại giao quốc tế và giữ vai trò quan trọng trong việc tháo gỡ những xung đột kéo dài vốn là mối đe dọa nghiêm trọng đối với hòa bình thế giới.
Suốt cuộc đời mình, Tiến sĩ Hawkins tham gia vào nhiều hoạt động dân sự và chuyên môn, thường giữ vai trò lãnh đạo. Là bác sĩ, ông cũng đồng sáng lập hoặc làm cố vấn y tế cho nhiều tổ chức, trong đó có Quỹ Tâm thần phân liệt New York và Long Island, Trung tâm Chữa lành Long Island, Hiệp hội các Trung tâm Sức khỏe Toàn diện New York và Học viện Tâm thần học Chỉnh thể Phân tử. Ông là đồng giám đốc của Phòng trưng bày Nghệ thuật Masters. Sinh ra với chỉ số IQ đặc biệt cao, ngay từ năm 1963, ông đã trở thành thành viên của Mensa International. Khi còn là một bác sĩ trẻ, ông rất quan tâm tới Phật giáo và gia nhập Zen Institute đầu tiên ở Hoa Kỳ. Trước khi qua đời, ông là thành viên của Nhà thờ Giám mục St. Andrews trong suốt nhiều năm. Ông là vị chủ tịch đầu tiên của Câu lạc bộ Khiêu vũ Country & Western tại Sedona và là hội viên của Hội Cựu Chiến binh từng tham chiến ở nước ngoài của Hoa Kỳ (VFW), và là hội viên của Hội Cựu Chiến binh Hoa Kỳ cùng chi hội Elks tại Sedona. Ông là một cung thủ, thợ mộc, thợ rèn, nhạc sĩ (người thổi kèn túi, nghệ sĩ vĩ cầm và nghệ sĩ piano), nhà thiết kế kiến trúc Norman Pháp thế kỷ XVI, từng đoạt giải thưởng, và là người yêu động vật.
Trên phạm vi quốc tế, Tiến sĩ Hawkins là người sáng lập tổ chức Bất Nhị Sùng Kinh (Devotional Nonduality - 2003), con đường tâm linh áp dụng những chân lý cốt lõi của các truyền thống vĩ đại trên thế giới: lòng tốt và tâm từ bi đối với mọi sự sống (trong đó có chính mình), tình yêu vô điều kiện, khiêm nhường, tìm hiểu bản chất của tồn tại, buông bỏ và Kiến Chân Tánh. Từ năm 2002, các Nhóm Nghiên cứu Hawkins đã tự xuất hiện trong nhiều thành phố trên khắp thế giới, từ Los Angeles đến Seoul, từ Cape Town đến Melbourne; các nhóm nghiên cứu và thực hành các nguyên tắc được trình bày trong các cuốn của ông, chẳng hạn như “Chúng ta thay đổi thế giới không phải bằng những điều chúng ta nói hay làm mà bằng con người mà chúng ta đã trở thành.”
TỰ TRUYỆN
Mặc dù những sự thật được trình bày trong cuốn sách này được suy luận theo lối khoa học và sắp xếp một cách khách quan, nhưng giống như mọi sự thật khác, trước hết chúng là trải nghiệm cá nhân. Một chuỗi trạng thái nhận thức mãnh liệt kéo dài suốt cả cuộc đời, bắt đầu ngay từ khi còn nhỏ, đã truyền cảm hứng và định hướng cho quá trình nhận thức chủ quan, và cuối cùng được trình bày trong loạt cuốn sách loại này.
Khi lên ba tuổi, bỗng xảy ra một sự tỉnh thức trọn vẹn về hiện hữu — một sự hiểu biết không lời nhưng hoàn toàn đầy đủ về ý nghĩa của “Ta Là”, ngay sau đó là sự nhận ra đầy kinh hãi rằng “Ta” có thể đã không hề đi vào hiện hữu. Đó là một sự thức tỉnh tức khắc từ quên lãng vào trong nhận biết hữu thức; và chính trong khoảnh khắc ấy, bản ngã cá nhân được sinh ra, cùng với nhị nguyên của “Có” và “Không” bước vào trải nghiệm chủ quan của tôi.
Suốt thời thơ ấu và đầu tuổi thiếu niên, nghịch lý của tồn tại và câu hỏi về thực tại của tự ngã vẫn là mối quan tâm lặp đi lặp lại nhiều lần. Tự ngã cá nhân đôi khi bắt đầu trượt trở lại vào Đại Ngã phi cá nhân lớn hơn, và nỗi sợ hãi ban đầu về sự không tồn tại—nỗi sợ hãi cơ bản về hư vô—lại tái diễn.
Năm 1939, khi còn là một cậu bé giao báo với tuyến đường đạp xe dài 17 dặm ở vùng nông thôn Wisconsin, vào một đêm đông tối trời, tôi bị mắc kẹt cách nhà hàng dặm trong một trận bão tuyết với nhiệt độ xuống tới -20º. Chiếc xe đạp đổ trên băng, báo chí vương vãi khắp nơi. Nước mắt tôi trào ra vì thất vọng và kiệt sức, quần áo thì cứng ngắc. Để tránh gió, tôi phá vỡ lớp băng cứng của một đống tuyết cao, rồi đào một khoảng trống và chui vào đó. Chẳng mấy chốc, run rẩy chấm dứt và thay vào đó là hơi ấm dễ chịu, rồi một trạng thái bình yên không thể diễn tả được bằng lời. Kèm theo là ánh sáng tràn ngập và sự hiện diện của tình yêu vô biên không có khởi đầu và không có kết thúc, không phân biệt với bản chất của chính tôi. Thân thể vật lý và khung cảnh chung quanh dần tan biến khi nhận biết của tôi hòa nhập vào trạng thái sáng tỏ và hiện diện khắp nơi ấy. Tâm trí trở nên lặng yên; mọi hoạt động của tâm trí chấm dứt. Hiện Diện vô hạn là tất cả những gì đang là — và có thể là — vượt ngoài mọi thời gian và mọi mô tả.
Sau khoảnh khắc vô tận đó, đột nhiên tôi nhận ra có ai đó đang lay đầu gối của mình; rồi khuôn mặt lo lắng của cha tôi hiện ra. Có một sự miễn cưỡng sâu sắc khi phải trở lại thân thể và tất cả những thứ đi kèm; nhưng vì tình yêu và nỗi thống khổ của cha tôi, Thần Linh đã nuôi dưỡng và khơi lại sự sống cho thân xác này. Có tâm từ bi trước sự sợ chết của ông, mặc dù đồng thời, chính khái niệm về chết dường như thật phi lý.
Trải nghiệm chủ quan này không được thảo luận với bất kỳ ai vì không có bối cảnh nào để mô tả nó. Ít khi được nghe về những trải nghiệm tâm linh nào khác ngoài những gì được ghi lại trong cuộc đời của các vị thánh. Nhưng sau trải nghiệm này, thực tại được chấp nhận của thế giới bắt đầu dường như chỉ là tạm thời; những giáo lý tôn giáo truyền thống mất hết ý nghĩa, và, ngược đời là, tôi trở thành một người theo thuyết bất khả tri. So với ánh sáng của Thần Tính đã soi sáng toàn bộ tồn tại, vị thần của tôn giáo truyền thống thực sự tỏa sáng mờ nhạt; do đó, tâm linh đã thế chỗ cho tôn giáo.
Trong Thế chiến II, nhiệm vụ nguy hiểm trên tàu quét mìn thường đưa tôi tới rấn gần cái chết, nhưng tôi không hề sợ chết. Dường như cái chết đã mất đi tính xác thực của nó. Sau chiến tranh, bị cuốn hút bởi sự phức tạp của tâm trí và mong muốn nghiên cứu tâm thần học, tôi đã nỗ lực học tập để tốt nghiệp trường y. Nhà phân tâm học hướng dẫn tôi, một giáo sư tại Đại học Columbia, cũng là người theo thuyết bất khả tri; cả hai chúng tôi đều có quan điểm khá bi quan về tôn giáo. Quá trình phân tích diễn ra tốt đẹp, sự nghiệp của tôi cũng vậy, và thành công đã tới.
Tuy nhiên, tôi không an phận với nghề nghiệp của mình. Tôi mắc phải một căn bệnh chết người, ngày càng nặng thêm, không có biện pháp chữa trị. Đến năm 38 tuổi, tôi ở trong tình trạng nguy kịch và biết mình sắp chết. Tôi không quan tâm đến thân xác, nhưng tinh thần tôi đang trong trạng thái đau khổ và tuyệt vọng tột cùng. Khi khoảnh khắc cuối cùng đến gần, một ý nghĩ thoáng qua trong đầu tôi, Nếu có Chúa thì sao? Vì vậy, tôi đã cầu nguyện, “Nếu có Chúa, con xin Ngài hãy giúp con ngay bây giờ.” Tôi đã phó thác trước bất kỳ Thiên Chúa nào và chìm vào quên lãng. Khi tỉnh dậy, đã xảy ra một sự chuyển hoá to lớn đến mức tôi sững sờ kinh ngạc.
Con người trước đây của tôi không còn tồn tại nữa. Không còn tự ngã cá nhân hay bản ngã, chỉ còn Sự Hiện Diện Vô Hạn với sức mạnh vô biên, đấy là tất cả những gì tồn tại. Sự Hiện Diện này đã thay thế cái mà trước đây là “tôi”, và thân thể cùng những hành động của nó được điều khiển hoàn toàn bởi Ý Chí Vô Hạn của Sự Hiện Diện. Thế giới được soi sáng bởi sự trong sáng của một Sự Hợp Nhất Vô Hạn tự thể hiện chính nó như là vạn vật được tiết lộ trong vẻ đẹp và sự hoàn hảo vô hạn của chúng.
Khi cuộc sống tiếp diễn, sự tĩnh lặng này vẫn tồn tại. Không còn ý chí cá nhân; thân thể vật lý hoạt động theo sự chỉ đạo của Ý Chí Vô Hạn, mạnh mẽ nhưng vô cùng dịu dàng của Sự Hiện Diện. Trong trạng thái đó, không cần phải suy nghĩ về bất cứ điều gì. Tất cả sự thật đều hiển nhiên và không cần thiết hay thậm chí không thể có khái niệm hóa nào. Đồng thời,về mặt thể chất, hệ thần kinh cảm thấy vô cùng quá tải, như thể nó đang phải gánh chịu năng lượng lớn hơn nhiều lần so với thiết kế của các mạch thần kinh.
Không thể hoạt động hiệu quả trong thế gian này. Tất cả những động lực thông thường cùng với mọi nỗi sợ hãi và lo lắng đều biến mất. Không còn gì để tìm kiếm, vì mọi thứ đều hoàn hảo. Danh vọng, thành công và tiền bạc đều trở nên vô nghĩa. Bạn bè thúc giục quay trở lại thực hành lâm sàng, nhưng không còn động lực thông thường nào để làm như thế nữa.
Từ đó xuất hiện khả năng nhận ra thực tại nằm bên dưới các nhân cách: cội nguồn của sự bất ổn cảm xúc nằm ở niềm tin của con người rằng họ chính là nhân cách của mình. Và vì vậy, như thể tự nhiên, một phòng khám lâm sàng được khôi phục và cuối cùng trở thành rất lớn. Mọi người đến từ khắp nơi ở Mỹ. Phòng khám có 2.000 bệnh nhân ngoại trú, cần hơn 50 nhà trị liệu và các nhân viên khác, một dãy 25 văn phòng, và các phòng thí nghiệm nghiên cứu và điện não đồ. Mỗi năm lại có thêm một nghìn bệnh nhân mới. Ngoài ra, như đã nói trước đó, còn xuất hiện trên các chương trình phát thanh và truyền hình. Năm 1973, nghiên cứu lâm sàng được ghi chép lại theo định dạng truyền thống trong cuốn sách Orthomolecular Psychiatry. Tác phẩm này đi trước thời đại 10 năm và gây được tiếng vang lớn.
Tình trạng tổng thể của hệ thần kinh dần được cải thiện, và sau đó bắt đầu xuất hiện hiện tượng khác. Có một dòng năng lượng ngọt ngào, dễ chịu liên tục chảy lên cột sống và vào não, tạo ra một cảm giác khoái lạc mãnh liệt và liên tục. Mọi thứ trong cuộc sống đều xảy ra một cách đồng bộ, tiến hoá trong sự hài hòa hoàn hảo; điều kỳ diệu trở thành phổ biến. Nguồn gốc của những thứ mà thế giới gọi là phép màu là Sự Hiện Diện, chứ không phải là tự ngã cá nhân. Cái còn lại của “tôi” cá nhân chỉ là người chứng kiếnnhững hiện tượng này. Cái “tôi” lớn hơn, sâu sắc hơn tự ngã hay suy nghĩ trước đây của tôi, quyết định tất cả những gì đã xảy ra.
Những trạng thái từng hiện diện đã được những người khác ghi nhận trong suốt chiều dài của lịch sử và dẫn đến việc nghiên cứu các giáo lý tâm linh, bao gồm cả giáo lý của Đức Phật, các giác giả, như Hoàng Bạch, và đạo sư gần đây hơn như Ramana Maharshi và Nisargadatta Maharaj. Do đó, xác nhận rằng những trải nghiệm này không phải là độc nhất vô nhị. Kinh Bhagavad Gita giờ đây đã hoàn toàn có ý nghĩa. Đôi khi, cũng đã xảy ra trạng thái mê ly tâm linh, đúng như Sri Ramakrishna và các vị thánh Kitô giáo ghi nhận.
Mọi thứ và mọi người trên thế giới đều rạng rỡ và đẹp đẽ tuyệt vời. Tất cả chúng sinh đều trở nên Tỏa sáng và thể hiện sự rạng rỡ này trong sự tĩnh lặng và huy hoàng. Rõ ràng là toàn thể nhân loại thực sự được thúc đẩy bởi tình yêu nội tâm nhưng chỉ đơn giản là họ không nhận thức được điều đó; hầu hết các cuộc đời đều được sống như thể bởi những người ngủ say, không thức tỉnh để nhận thức được con người mà họ thực sự đang là. Những người xung quanh tôi trông như đang ngủ và vô cùng đẹp đẽ. Cảm giác như đang yêu tất cả mọi người.
Cần phải ngừng thói quen thiền định một giờ vào buổi sáng và trước bữa tối vì nó sẽ làm tăng cường phúc lạc đến mức không thể hoạt động được. Một trải nghiệm tương tự như trải nghiệm đã xảy ra trong đống tuyết khi còn nhỏ tái diễn, và rời khỏi trạng thái đó và trở lại với thế gian ngày càng trở thành khó khăn hơn. Vẻ đẹp kỳ diệu của vạn vật tỏa sáng trong tất cả sự hoàn hảo của chúng, và nơi thế giới nhìn thấy sự xấu xí, thì lại là vẻ đẹp vĩnh cửu. Tình yêu tâm linh này lan vào mọi tri giác, và mọi ranh giới giữa đây và đó, hay giữa quá khứ và hiện tại, hoặc chia tách đều biến mất.
Trong những năm tháng tĩnh lặng nội tâm, sức mạnh của Sự Hiện Diện ngày càng lớn mạnh. Cuộc sống không còn mang tính cá nhân; ý chí cá nhân không còn tồn tại. Cái “Tôi” cá nhân đã trở thành công cụ của Sự Hiện Diện Vô Hạn và hành động theo ý chí của nó [Hiện Diện]. Mọi người cảm nhận được một sự an bình phi thường trong hào quang của Sự Hiện Diện đó. Người ta tìm kiếm câu trả lời, nhưng vì không còn cá nhân nào như David nữa, họ thực sự đang tìm kiếm câu trả lời từ chính Đại Ngã của mình, vốn không khác gì Đại Ngã của tôi. Từ mỗi người, cùng một Đại Ngã tỏa sáng từ đôi mắt họ.
Điều kỳ diệu đã xảy ra, vượt quá sự hiểu biết thông thường. Nhiều bệnh mãn tính mà cơ thể đã phải chịu đựng trong nhiều năm đã biến mất; thị lực tự nhiên trở lại bình thường, và không còn cần đến kính hai tròng đã đi cùng tôi suốt cuộc đời nữa.
Thỉnh thoảng, một nguồn năng lượng phúc lạc tuyệt vời, một Tình Yêu Vô Hạn, đột nhiên bắt đầu tỏa ra từ trái tim hướng về hiện trường của một tai họa nào đó. Một lần, khi đang lái xe trên đường cao tốc, nguồn năng lượng tuyệt vời này bắt đầu tỏa ra từ lồng ngực. Khi chiếc xe rẽ vào một khúc cua, đã xảy ra một vụ tai nạn ô tô; bánh xe của chiếc xe bị lật vẫn còn quay. Nguồn năng lượng được truyền đi với cường độ mạnh mẽ vào những người ngồi trong xe và sau đó tự dừng lại. Một lần khác, khi tôi đang đi bộ trên đường phố của một thành phố xa lạ, nguồn năng lượng bắt đầu chảy xuống con phố phía trước và đến hiện trường của một cuộc ẩu đả sắp xảy ra. Những người tham gia cuộc ẩu đả lùi lại và bắt đầu cười, và một lần nữa, nguồn năng lượng này dừng lại.
Những chuyển biến sâu sắc trong tri giác xuất hiện mà không hề báo trước, giữa những hoàn cảnh tưởng chừng không thể ngờ. Khi đang dùng bữa một mình tại Rothmann’s ở Long Island, Hiện Diện bỗng gia tăng cường độ, cho đến khi mọi sự và mọi người — vốn trong nhận thức thông thường dường như tách biệt — đều tan hòa vào tính phổ quát và nhất thể vượt ngoài thời gian. Trong sự Im Lặng bất động, rõ ràng là không có “sự kiện” hay “vật thể” nào và thực sự không có gì “xảy ra”, vì quá khứ, hiện tại và tương lai chỉ là những sản phẩm của tri giác, cũng như vọng tưởng về một “tôi” riêng biệt phải sinh và chết. Khi tự ngã hữu hạn, giả tạo tan biến vào Đại Ngã phổ quát của cội nguồn thực sự của nó, có một cảm giác không thể diễn tả được như thể đã trở về nhà, đến trạng thái an bình tuyệt đối và giải thoát khỏi mọi đau khổ. Chỉ có vọng tưởng về cá tính mới là nguồn gốc của mọi đau khổ. Khi người ta ngộ được rằng mình là vũ trụ, trọn vẹn và hòa làm một với Tất Cả Những Gì Tồn Tại, mãi mãi không có hồi kết, thì không còn đau khổ nào nữa.
Bệnh nhân đến từ khắp nơi trên thế giới, một số người là những người tuyệt vọng nhất. Họ đến với vẻ ngoài gớm ghiếc, quằn quại, được quấn trong những tấm ga trải giường ướt để vận chuyển từ các bệnh viện xa xôi, hy vọng được điều trị các chứng loạn thần ngày càng nặng thêm và các rối loạn tâm thần nghiêm trọng, không thể chữa khỏi. Một số người ở trong trạng thái căng trương lực bất động; nhiều người không nói suốt nhiều năm. Nhưng trong mỗi bệnh nhân, ẩn dưới vẻ ngoài tàn tật, vẫn có một bản chất rạng rỡ của tình yêu và vẻ đẹp, có lẽ bị che khuất đến mức người bình thường không thể nhìn thấy, khiến họ hoàn toàn bị bỏ rơi trong thế giới này.
Một ngày nọ, một người phụ nữ bị căng trương lực bất động, câm lặng được đưa vào bệnh viện trong một chiếc áo bó sát người. Cô ta mắc chứng rối loạn thần kinh nghiêm trọng và không thể đứng được. Cô ấy lên cơn co giật, mắt trợn ngược, quằn quại trên sàn nhà. Tóc cô rối bời; cô đã xé rách hết quần áo và phát ra những tiếng khàn khàn. Gia đình cô khá giàu có; do đó, trong nhiều năm, cô đã được vô số bác sĩ và chuyên gia nổi tiếng từ khắp nơi trên thế giới thăm khám. Mọi phương pháp điều trị đều đã được thử, và giới y khoa đã coi cô ấy là vô vọng.
Một câu hỏi ngắn, không lời xuất hiện: Chúa ơi, Ngài muốn làm gì với cô ấy? Rồi cô nhận ra rằng mình chỉ cần được yêu thương; chỉ vậy thôi. Tự ngã bên trong cô tỏa sáng qua đôi mắt, và Đại Ngã kết nối với bản chất yêu thương đó. Trong giây phút ấy, cô được chữa lành bởi chính sự công nhận về bản thân mình; những gì xảy ra với tâm trí hay cơ thể cô không còn quan trọng nữa.
Về bản chất, sự kiện này đã xảy ra với vô số bệnh nhân. Một số người hồi phục trong mắt thế gian, còn một số thì không, nhưng đối với bệnh nhân, việc hồi phục về mặt lâm sàng có xảy ra hay không không còn quan trọng nữa. Những đau đớn bên trong của họ đã chấm dứt. Khi họ cảm thấy được yêu thương và an bình trong tâm hồn, đau đớn của họ biến mất. Hiện tượng này chỉ có thể được giải thích bằng cách nói rằng Tâm Từ Bi của Hiện Diện đã đưa thực tại của từng bệnh nhân vào bối cảnh mới, để mỗi người trải nghiệm sự chữa lành ở một tầng vượt lên trên thế gian và mọi biểu hiện của nó. Sự an bình nội tại của Đại Ngã bao trùm tất cả chúng ta, vượt ngoài thời gian và căn tính.
Rõ ràng là mọi đau đớn và khổ đau chỉ phát sinh từ bản ngã, chứ không phải từ Thiên Chúa. Sự thật này được truyền đạt trong thinh lặng đến tâm trí của các bệnh nhân. Đó chính là chướng ngại tâm trí ở một bệnh nhân khác đang ở trong trạng thái căng trương lực bất động và đã không nói suốt nhiều năm. Đại Ngã đã nói với ông qua tâm trí: “Anh đang đổ lỗi cho Thiên Chúa về những gì mà bản ngã của anh đã gây ra cho chính mình”. Anh ta bật dậy khỏi sàn nhà và bắt đầu nói chuyện, trước sự kinh ngạc của người y tá chứng kiến sự việc.
Công việc ngày càng trở thành nặng nề và cuối cùng là quá sức. Bệnh nhân tồn đọng, chờ giường trống, mặc dù bệnh viện đã xây thêm một khu điều trị. Vô cùng thất vọng vì chỉ có thể làm giảm những đau khổ của con người bằng cách mỗi lần chỉ điều trị được một bệnh nhân. Nó giống như tát nước ra khỏi biển vậy. Dường như phải có một con đường nào khác để chạm đến tận gốc những nguyên nhân của nỗi bất an phổ quát — dòng chảy không dứt những đau khổ tâm linh và thống khổ trong cõi nhân sinh.
Kết quả là tôi quyết định nghiên cứu phản ứng sinh lý (kiểm tra cơ bắp) trước các kích thích khác nhau, và dẫn tới khám phá làm người ta phải kinh ngạc. Đó là “lỗ sâu” (wormhole) giữa hai vũ trụ—thế giới vật chất và thế giới của tâm trí và tâm linh—giao diện giữa các chiều không gian. Trong một thế giới đầy những người đang mê ngủ, lạc lối khỏi cội nguồn của mình, đây là công cụ để hồi phục và chứng minh cho mọi người thấy, rằng họ đã mất kết nối với thực tại cao hơn. Thế là phải kiểm tra tất cả mọi chất, mọi suy nghĩ và khái niệm có thể được đưa vào tâm trí. Các sinh viên và trợ lý nghiên cứu của tôi đã giúp đỡ để hoàn thành công việc này. Rồi có một khám phá quan trọng: trong khi tất cả các đối tượng đều phản ứng yếu trước những kích thích tiêu cực —như đèn huỳnh quang, thuốc trừ sâu và đường hoá học—thì những đệ tử tâm linh, những người đã nâng cao tầng nhận thức của mình lại không phản ứng yếu như những người bình thường. Trong tâm thức của họ, một điều gì đó quan trọng và quyết định đã thay đổi. Nó dường như xảy ra khi họ nhận ra rằng mình không phải là nạn nhân của thế gian mà chỉ bị ảnh hưởng bởi những gì tâm trí của mình tin tưởng. Có lẽ chính quá trình tiến bộ hướng tới Chứng ngộ có thể được chứng minh là làm gia tăng khả năng chống lại những thăng trầm của cuộc đời, trong đó có cả bệnh tật.
Đại Ngã có khả năng thay đổi mọi thứ trên thế giới này bằng cách hình dung ra chúng; Tình yêu đã thay đổi thế giới mỗi khi nó thay thế cho thiếu vắng tình yêu. Có thể thay đổi một cách sâu sắc toàn bộ nền văn minh bằng cách tập trung sức mạnh của tình yêu vào một điểm rất cụ thể. Bất cứ khi nào điều này xảy ra, lịch sử sẽ rẽ vào những con đường mới.
Giờ đây, dường như tuệ giác quan trọng này không chỉ có thể được truyền đạt đến thế giới mà còn có thể được chứng minh một cách rõ ràng và không thể nào bác bỏ được. Dường như bi kịch lớn lao của đời người vẫn luôn là: tâm trí con người quá dễ bị đánh lừa; và bất hòa, xung đột chính là hệ quả tất yếu của việc nhân loại không thể phân biệt được thật giả. Thế nhưng, ở đây lại xuất hiện một lời giải cho nan đề căn bản ấy — một cách tái định vị và đặt lại toàn bộ bối cảnh của chính bản chất của Tâm thức, và giải thích những điều mà trước đây chỉ có thể suy đoán.
Đã đến lúc rời bỏ cuộc sống ở New York, với căn hộ trong thành phố và ngôi nhà ở Long Island, để theo đuổi điều gì đó quan trọng hơn. Cần phải hoàn thiện chính mình như một công cụ. Điều này đòi hỏi phải rời bỏ thế gian và mọi thứ trong đó, thay thế bằng cuộc sống ẩn dật ở một thị trấn nhỏ, và bảy năm tiếp theo được dành cho thiền định và nghiên cứu.
Những trạng thái phúc lạc mãnh liệt trở lại mà không cần tìm kiếm, và cuối cùng, cần phải học cách hiện diện trong Sự Hiện Diện Thiêng Liêng mà vẫn hoạt động được trong thế giới này. Tâm trí không còn quan tâm tới những sự kiện đang xảy ra trên thế giới rộng lớn ở ngoài kia. Muốn nghiên cứu và viết lách, cần phải tạm dừng mọi hoạt động tâm linh và tập trung vào thế giới hình tướng. Đọc báo và xem truyền hình giúp cập nhật tin tức về những nhân vật quan trọng, các sự kiện chính và bản chất của cuộc đối thoại xã hội trong giai đoạn hiện nay.
Những trải nghiệm chủ quan về sự thật, vốn là lĩnh vực của các nhà huyền môn, những người tác động đến toàn nhân loại bằng cách truyền năng lượng tâm linh vào tâm thức tập thể, mà phần lớn nhân loại không thể hiểu được và do đó có ý nghĩa hạn chế, trừ những người tìm kiếm tâm linh. Điều này dẫn đến nỗ lực trở thành người bình thường, vì chỉ cần sống bình thường cũng đã là một biểu hiện của Thần tính; sự thật về tự ngã thực sự của mỗi người có thể được khám phá bằng cách sống cuộc đời bình thường. Tất cả những việc cần làm là sống với thái độ quan tâm và tử tể. Cùng với thời gian, phần còn lại sẽ tự bộc lộ. Cái bình thường và Thiên Chúa không tách rời nhau.
Và thế là, sau một hành trình dài vòng quanh của linh hồn, có một sự quay trở lại với công việc hệ trọng nhất: nỗ lực đưa Sự Hiện Diện ấy đến gần hơn - dù chỉ một chút thôi - sự hiểu biết của càng nhiều người càng tốt.
Sự Hiện Diện tĩnh lặng và truyền tải trạng thái an bình, đó là không gian mà trong đó và nhờ đó tất cả mọi thứ tồn tại và có sự hiện hữu và trải nghiệm chính mình. Nó vô cùng dịu dàng nhưng lại vững chắc như đá tảng. Với Nó, mọi sợ hãi đều biến mất. Niềm vui tâm linh xảy ra ở tầng tĩnh lặng của mê ly không thể nào giải thích được. Vì trải nghiệm về thời gian dừng lại, nên không có lo lắng hay hối tiếc, không có đau đớn hay dự đoán; cội nguồn của niềm vui là bất tận và luôn có đó. Không có khởi đầu hay kết thúc, nên không có mất mát, buồn phiền hay ham muốn. Không cần phải làm gì; mọi thứ đã hoàn hảo và trọn vẹn.
Khi thời gian dừng lại, mọi vấn đề đều tan biến; chúng chỉ là những tạo tác của một điểm nhìn tri giác mà thôi. Khi Sự Hiện Diện ngự trị, không còn bất kỳ sự đồng nhất nào với thân thể hay tâm trí. Khi tâm trí hoàn toàn lặng yên, ngay cả ý niệm “Tôi Là” cũng biến mất, và Nhận Biết Thuần Khiết tự tỏa sáng, soi chiếu bản thể vốn đang là, đã từng là và sẽ mãi mãi là — vượt ngoài mọi thế giới và mọi vũ trụ, vượt ngoài thời gian, nên không có khởi đầu cũng chẳng có kết thúc.
Mọi người tự hỏi, Làm sao đạt được trạng thái nhận thức này? nhưng ít người làm theo các bước, bởi vì chúng quá đơn giản. Trước kết, khát vọng đạt được trạng thái đó phải rất mãnh liệt. Rồi bắt đầu quá trình rèn luyện để hành động với tâm tha thứ và dịu dàng liên tục và phổ quát, không có ngoại lệ. Phải có tâm từ bi đối với mọi thứ, kể cả chính mình và những suy nghĩ của chính mình. Tiếp theo là sẵn sàng tạm gác những ham muốn và từ bỏ ý chí cá nhân trong mọi khoảnh khắc. Khi mỗi suy nghĩ, cảm xúc, ham muốn hay hành động được phó thác cho Thiên Chúa, tâm trí dần trở nên tĩnh lặng. Ban đầu, nó giải phóng toàn bộ những câu chuyện và đoạn văn, sau đó là những ý tưởng và khái niệm. Khi buông bỏ ý muốn chiếm hữu những ý nghĩ này, chúng không còn phát triển đến mức tinh vi như trước, mà bắt đầu tan rã ngay khi còn đang trong giai đoạn hình thành. Cuối cùng, thậm chí có thể trao trả chính năng lượng đứng đằng sau ý nghĩ — trước cả khi nó kịp trở thành một ý nghĩ.
Nhiệm vụ là giữ sự định tâm liên tục và không lay chuyển, không cho phép dù chỉ một khoảnh khắc xao lãng khỏi thiền định — ngay cả khi đang thực hiện những sinh hoạt thường ngày. Ban đầu điều này dường như rất khó khăn, nhưng theo thời gian, nó trở nên quen thuộc, tự động, đòi hỏi ngày càng ít nỗ lực hơn, cho đến khi hoàn toàn không cần nỗ lực nữa. Quá trình ấy giống như một tên lửa rời khỏi Trái Đất. Lúc đầu, nó cần một năng lượng khổng lồ; rồi nhu cầu ấy giảm dần khi thoát khỏi trường hấp dẫn của Trái Đất; và cuối cùng, nó chuyển động trong không gian bằng chính quán tính của mình.
Đột nhiên, không hề báo trước, xảy ra dịch chuyển trong nhận thức và Sự Hiện Diện có đó, không thể nhầm lẫn và bao trùm tất cả. Có một vài khoảnh khắc lo lắng khi tự ngã chết đi, và rồi sự tuyệt đối của Hiện Diện đã truyền cảm hứng cho một tia kinh ngạc. Bước đột phá này thật ngoạn mục, mãnh liệt hơn bất cứ điều gì từng xảy ra trước đây. Nó không có gì tương đồng trong trảinghiệm thông thường. Cú sốc sâu sắc được xoa dịu bởi tình yêu thương đồng hành với Sự Hiện Diện. Nếu không có sự hỗ trợ và bảo vệ của tình yêu đó, người ta sẽ bị tiêu hủy.
Tiếp theo là khoảnh khắc kinh hoàng vì bản ngã bám víu vào sự tồn tại của nó, sợ rằng nó sẽ trở thành hư không. Thay vào đó, khi nó chết đi, nó được thay thế bởi Đại Ngã như là Mọi Vật, Cái Toàn Thể mà trong đó vạn vật đều được biết và hiển nhiên trong sự biểu hiện hoàn hảo của bản chất riêng của nó. Với tính phi định xứ, nhận thức được rằng người đó là tất cả những gì đã từng tồn tại hoặc có thể tồn tại. Người đó là toàn thể và viên mãn, vượt ngoài mọi căn tính, vượt ngoài mọi giới tính, vượt cả chính tính người. Người đó không bao giờ cần phải sợ hãi đau khổ và cái chết nữa. Những gì xảy ra với cơ thể từ thời điểm này trở đi là không quan trọng. Ở những tầng nhận thức tâm linh nhất định, các bệnh tật của cơ thể sẽ tự lành hoặc tự biến mất. Nhưng ở trạng thái tuyệt đối, những suy nghĩ như vậy là không liên quan. Cơ thể sẽ trải qua quá trình được tiên liệu của nó và sau đó trở về nơi nó đã đến. Đó là vấn đề không quan trọng; người đó không bị ảnh hưởng. Cơ thể xuất hiện như là “nó” chứ không còn là “tôi”, như một vật thể khác, giống như đồ đạc trong phòng. Có vẻ buồn cười khi mọi người vẫn coi cơ thể như thể nó là cá nhân “bạn”, nhưng không có cách nào giải thích trạng thái nhận thức này cho người không nhận thức được. Tốt nhất là cứ tiếp tục công việc của mình và để cho Thiên Chúa xử lý những điều chỉnh xã hội.
Tuy nhiên, khi đạt đến trạng thái phúc lạc, rất khó che giấu trạng thái mê ly đó. Thế giới có thể bị choáng ngợp, và mọi người có thể đến từ khắp nơi để được ở trong hào quang đi kèm với nó. Những người tìm kiếm tâm linh và những người tò mò về tâm linh, cũng như những người bệnh nặng đang tìm kiếm phép màu có thể bị cuốn hút vào đó. Người đó có thể trở thành một thỏi nam châm và nguồn vui cho họ. Thông thường, ở giai đoạn này, người ta mong muốn chia sẻ trạng thái này với người khác và sử dụng nó vì lợi ích của tất cả mọi người.
Ban đầu, trạng thái mê ly đi kèm với tình trạng này không hoàn toàn ổn định; cũng có những khoảnh khắc đau đớn tột cùng. Khoảng khắc dữ dội nhất xảy ra khi trạng thái dao động và đột ngột chấm dứt mà không có lý do rõ ràng. Đấy là thời gian mang đến những giai đoạn tuyệt vọng tột cùng và nỗi sợ hãi rằng mình đã bị Sự Hiện Diện bỏ rơi. Những lần rớt xuống này làm cho con đường trở thành gian nan, và phải có ý chí mạnh mẽ thì mới vượt qua những lần rớt xuống này. Cuối cùng, rõ ràng là người đó phải vượt qua tầng này hoặc liên tục chịu đựng những “sự sa sút từ ân phước” đầy đau đớn. Vậy nên, vinh quang của mê ly cũng phải được buông bỏ khi người đó bước vào nhiệm vụ gian khổ là vượt qua nhị nguyên cho đến khi vượt lên trên mọi đối lập và những lực kéo mang tính xung đột của chúng. Nhưng từ sẵn sàng bỏ xiềng xích sắt của bản ngã là một chuyện, từ bỏ xiềng xích vàng của niềm vui ngây ngất lại là chuyện hoàn toàn khác. Cảm giác như thể người đó đang từ bỏ Thiên Chúa, và sợ hãi mới trỗi dậy, chưa từng lường trước được. Đây là nỗi kinh hoàng cuối cùng của sự cô đơn tuyệt đối.
Đối với bản ngã, nỗi sợ về không tồn tại thật đáng sợ, và nó liên tục lùi bước mỗi khi dường như nó đang đến gần. Mục đích của những đau khổ và những đêm tối của tâm hồn khi đó trở nên rõ ràng. Không thể chịu đựng được đến nỗi đau tột cùng của chúng thúc đẩy người đó nỗ lực hết sức để vượt qua chúng. Khi sự dao động giữa thiên đường và địa ngục trở thành không thể chịu đựng được, thì khát vọng tồn tại phải được từ bỏ. Chỉ khi làm được việc này, thì cuối cùng người đó mới có thể vượt qua được sự đối lập giữa Toàn thể và hư vô, vượt qua sự tồn tại và không tồn tại. Đỉnh điểm của công việc nội tâm này là giai đoạn khó khăn nhất, bước ngoặt cuối cùng, nơi người đó nhận thức rõ ràng rằng vọng tưởng về sự tồn tại mà mình vượt qua là không thể đảo ngược được. Không có đường quay lại từ bước này, và bóng ma của sự không thể đảo ngược này khiến rào cản cuối cùng này dường như là sự lựa chọn khó khăn nhất.
Nhưng, trên thực tế, trong sự diệt vong cuối cùng của tự ngã, sự tan biến của sự đối lập duy nhất còn lại giữa tồn tại và không tồn tại—chính là bản sắc—tan biến trong Thần tính Vũ trụ, và không còn ý thức cá nhân nào để lựa chọn. Bước cuối cùng, do đó, được thực hiện bởi Thiên Chúa.
—David R. Hawkins
Vinh danh Thiên Chúa trên các tầng trời!
VỀ TÁC GIẢ
Tiến sĩ David Ramon Hawkins (1927–2012) là một vị thầy tâm linh, tác giả và diễn giả nổi tiếng quốc tế về các trạng thái tâm linh cao cấp, về nghiên cứu Tâm thức, và về sự chứng ngộ Sự Hiện Diện của Thiên Chúa như là Đại Ngã.
Các tác phẩm đã xuất bản của ông cũng như các bài giảng được ghi lại đã được nhiều người công nhận là độc nhất vô nhị, theo nghĩa, nhận thức mang tính tâm linh trong một người có kiến thức khoa học và lâm sàng, rồi sau đó có thể diễn đạt bằng ngôn từ và giải thích hiện tượng bất thường này một cách rõ ràng và có thể hiểu được.
Quá trình chuyển đổi từ trạng thái bản ngã bình thường của tâm trí sang trạng thái giải thoát bởi Sự Hiện Diện được trình bày trong bộ ba tác phẩm Power vs. Force (1995, xem lại 2012, tái bản 2013) được Mẹ Teresa ca ngợi; The Eye of the I From Which Nothing Is Hidden (2001) và I: Reality and Subjectivity (2003), đã được dịch sang phần lớn các ngôn ngữ chính trên thế giới. Tác phẩm Truth vs. Falsehood: How to Tell the Difference (2005), Transcending the Levels of Consciousness Stairway to Enlightenment (2006)và Discovery of the Presence of God: Devotional Nonduality (2007) tiếp tục khảo sát những biểu hiện và hạn chế cố hữu của bản ngã cũng như cách siêu việt chúng. Letting Go: The Pathway of Surrender (2012) tiết lộ phương pháp loại bỏ những trở ngại đối với trải nghiệm Đại Ngã cao hơn. Success Is for You: Using Heart-Centered Principles for Lasting Abundance and Fulfillment (2016) cung cấp phương pháp chính xác để đạt được thành công trong kinh doanh và các lĩnh vực khác của đời sống.
Bộ ba tác phẩm đầu tiên có xuất xứ từ công trình nghiên cứu về Bản chất của tâm thức và luận án tiến sĩ, nhan đề , Qualitative and Quantitative Analysis and Calibration of the Levels of Human Consciousness (1995), các công trình này thiết lập mối tương liên giữa những lĩnh vực dường như khác hẳn nhau: khoa học và tâm linh. Đó là nhờ khám phá được kỹ thuật quan trọng mà lần đầu tiên trong lịch sử loài người đã chứng tỏ là phương tiện phân biệt sự thật với dối trá.
Tầm quan trọng của công trình đã được công nhận bằng bài điểm sách dài và với những đánh giá rất thuận lợi trên tờ Brain/Mind Bulletin và các buổi thuyết trình sau đó như Hội nghị về Khoa học và Tâm thức Quốc tế (International Conference on Science and Consciousness).
Phản hồi trước nhận xét của ông rằng trong nhiều thời đại, do không có người giải thích mà nhiều sự thật tâm linh đã bị hiểu lầm, tiến sĩ Hawkins đã tổ chức những buổi hội thảo hằng tháng để trình bày những giải thích chi tiết, nhưng quá dài, không thể viết thành sách. Các băng ghi âm với phần cuối là những câu hỏi và trả lời, càng làm rõ thêm vấn đề được trình bày. Cuốn The Book of Slides: The Complete Collection Presented at the 2002–2011 Lectures with Clarifications (2018) là bản tóm tắt các slide bài giảng của ông.
Mục đích tổng thể của công trình trọn đời này là đưa trải nghiệm của con người vào bối cảnh mới, bằng những thuật ngữ tiến hóa của tâm hức và hợp nhất sự hiểu biết của cả tâm trí và linh hồn như những biểu hiện của Thần tính bẩm sinh, vốn là nền tảng và cội nguồn bất tận của đời sống và Hiện hữu. Cống hiến của ông được thể hiện bằng tuyên bố “Vinh danh Thiên Chúa trên các tầng trời!”, được viết ngay trên trang đầu và trang cuối các tác phẩm của ông.
[1] Ghi chú: “Phi tuyến” (nonlinear) là thuật ngữ toán–vật lý, chỉ các hệ thống vận hành không theo quan hệ nhân–quả tuyến tính và có thể biểu lộ tính hỗn độn (xem Chaos Theory). Trong khi đó, “phi nhị nguyên” (nonduality, xem bên trên) là thuật ngữ tâm linh, chỉ trạng thái vượt lên trên sự phân chia chủ thể–đối tượng. Hai khái niệm này thuộc hai bình diện hoàn toàn khác nhau, dù cùng hàm ý vượt khỏi mô hình tư duy nhị phân thông thường - ND.
[2] Ghi chú: Không gian pha là không gian toán học trong đó mỗi điểm biểu thị toàn bộ trạng thái của một hệ thống động lực tại một thời điểm. Bản đồ Poincaré, do Henri Poincaré đề xuất, giúp nhận diện cấu trúc điểm hút (attractor) bằng cách quan sát một lát cắt của chuyển động trong không gian đa chiều - ND.
[3] Ghi chú: Chẳng hạn, một người lớn tuổi nghĩ rằng người trẻ phải kính trọng mình. Sự tôn trọng tự thân là điều đẹp; nhưng khi ta cần nó để cảm thấy mình có giá trị, và khổ tâm nếu không được đáp ứng, thì đó là một lập trường của bản ngã. Khi tình yêu thay thế nhu cầu được xác nhận, lập trường ấy tự nhiên tan biến, và sự tôn trọng — nếu có — trở thành điều đến từ tự do chứ không từ đòi hỏi - ND.
[4] Holistic (chỉnh thể): Cách nhìn xem một hiện tượng như một chỉnh thể thống nhất, trong đó các phần chỉ có ý nghĩa khi đặt trong mối tương quan với toàn bộ. Khác với cách tiếp cận phân tích vốn tách rời từng phần để nghiên cứu riêng lẻ - ND.
[i] Mandelbrot set là một tập hợp các điểm trên mặt phẳng phức, được định nghĩa bởi một quy luật lặp (iteration) rất đơn giản nhưng tạo ra cấu trúc hình học fractal cực kỳ phức tạp. Tên gọi đến từ nhà toán học Benoit Mandelbrot.
[ii] Định lý Bell của John Stewart Bell (1964) cho thấy rằng nếu ta giả định các thuộc tính của hạt tồn tại sẵn và không chịu ảnh hưởng tức thời từ xa, thì các kết quả đo phải tuân theo những giới hạn toán học nhất định (bất đẳng thức Bell). Tuy nhiên, cơ học lượng tử tiên đoán — và thí nghiệm xác nhận — sự vi phạm các giới hạn này. Điều đó hàm ý rằng ở cấp độ vi mô, thực tại không thể được mô tả đầy đủ bằng quan niệm cổ điển về tính cục bộ và hiện thực độc lập.
Chú thích cuối cùng:
Trong thuật ngữ của David R. Hawkins:
I. Tầng Thực Tại Tối Hậu (siêu hình) có nhiều cách gọi khác nhau để chỉ cùng một Thực Tại duy nhất. Bốn thuật ngữ sau đây không chỉ bốn thực thể khác nhau, mà là bốn lăng kính mô tả:
Khác biệt vi tế trong sắc thái:
· The Absolute → nhấn mạnh tính vô điều kiện.
· The Supreme → nhấn mạnh tính tối cao.
· Godhead → nhấn mạnh bản thể trước mọi phân biệt.
· The Divine → nhấn mạnh phẩm tính thiêng liêng nội tại.
Tất cả đều quy chiếu về một Thực Tại duy nhất, vượt ngoài ngôn từ và khái niệm.
II. TẦNG THẦN HỌC (Ngôi vị – tương quan)
Ở tầng này, Thực Tại Tối Hậu được hiểu không chỉ như Bản thể siêu hình, mà như Đấng có thể bước vào tương quan.
Lưu ý vi tế: God → danh xưng cá vị cụ thể. Deity → bản tính thần linh (tính chất), không nhất thiết là một Ngôi vị xác định.
3. Lord – Chúa. Cách gọi mang sắc thái phụng vụ, tôn kính, hoặc tương quan cá nhân sâu sắc. Thường được dùng trong cầu nguyện hoặc phụng vụ.
Khác biệt vi tế: God → danh xưng thần học. Lord → danh xưng tương quan và thờ phượng.
“Lord” nhấn mạnh sự quy phục, tín thác, và mối dây cá nhân giữa người cầu nguyện và Đấng được gọi.
Ghi chú quan trọng
Ba thuật ngữ này không chỉ ba thực thể khác nhau, mà là ba cách nói về cùng một Thực Tại khi được hiểu trong bình diện tương quan.
Nếu Tầng I nói về Bản thể, thì Tầng II nói về mối quan hệ.
III. TẦNG TRẢI NGHIỆM NỘI TÂM
(Huyền nhiệm – trực chứng)
Ở tầng này, Thực Tại không còn được bàn luận như khái niệm siêu hình hay ngôi vị thần học, mà được trực tiếp trải nghiệm trong nội tâm.
1. Presence – Sự Hiện diện
Cảm nhận trực tiếp về Thực Tại đang hiện hữu. Không phải một khái niệm, không phải một “đấng” ở xa, mà là tính đang-là sống động ngay trong trải nghiệm.
Khác biệt vi tế: The Absolute → mô tả siêu hình. Presence → trải nghiệm trực tiếp.
Trong ngôn ngữ của David R. Hawkins, “the Presence of God” chỉ trạng thái thần nghiệm, nơi tâm trí lặng yên và Thực Tại được biết trực tiếp, không qua trung gian tư tưởng.
2. Self (viết hoa) – Đại Ngã. Bản thể chân thật, nền tảng bất sinh bất diệt, đồng nhất với Thiên Chúa trong trải nghiệm hợp nhất. Không phải một “cái tôi cao hơn”, mà là chính Bản thể thuần khiết vượt ngoài phân tách chủ thể – đối tượng.
3. ego / self (viết thường) – bản ngã/cái tôi/tự ngã. Cấu trúc nhận thức cá nhân dựa trên cảm thức phân tách. Bao gồm ký ức, đồng nhất hóa, câu chuyện về “tôi”. Đây là trung tâm của nhị nguyên và tìm kiếm.
5. Christ Consciousness – Tâm thức Kitô. Trạng thái hợp nhất trong Tình Yêu vô điều kiện. Không giới hạn vào nhân vật lịch sử Jesus Christ,mà chỉ mức độ tâm thức hợp nhất vượt ngoài bản ngã.
Phân định ba thuật ngữ thường bị chồng lấn Being – Pure Awareness – Consciousness
I. Being – Hữu thể / Tính Là. Being không phải “một cái gì đó đang tồn tại”. Nó là tính đang-là tự thân. Không nội dung. Không chủ thể. Không đối tượng. Chỉ đơn giản là: Là. Trong truyền thống thần bí Kitô giáo, điều này gần với mặc khải “I AM” trong Book of Exodus.
Trong siêu hình học cổ điển, Being tương ứng với ipsum esse — Hữu thể tự thân. Being không phải một trải nghiệm. Nó là nền của mọi trải nghiệm. Nó không sinh, không diệt, không tăng, không giảm.
II. Pure Awareness – Nhận biết thuần khiết. Nếu Being là “Là”, thì Pure Awareness là “Biết”. Đây là ánh sáng biết không nội dung. Không phải suy nghĩ.
Không phải phản xạ tâm lý. Không phải một “người quan sát” cá nhân.
Nó có tính sáng, nhưng chưa có đối tượng xác định. Chưa có “tôi” và “cái được biết” như hai thực thể tách biệt. Trong Thiền tông, khi nói đến “tánh biết”, thường chỉ tầng này.
III. Consciousness – Tâm thức. Consciousness là toàn bộ trường trải nghiệm có thể được biết. Nó bao gồm: Cảm giác; Tư tưởng; Hình ảnh; Ký ức; Cảm xúc; Cảm nhận về “tôi”.
Khác với Pure Awareness (không nội dung), Consciousness luôn có khả năng mang nội dung.
Hai cách dùng dễ gây nhầm: consciousness (thường)→ tâm thức cá nhân
Trong hệ thống của David R. Hawkins, “Consciousness” thường được dùng theo nghĩa thứ hai, bao gồm cả trường phổ quát lẫn các mức độ biểu hiện cá nhân. Vì vậy rất dễ nhầm lẫn giữa Consciousness và Pure Awareness.
Vị trí tương quan trong hệ thống của Hawkins: Being → Tính Là thuần túy; Pure Awareness → Ánh sáng biết không nội dung; Consciousness → Sự hiển lộ có nội dung trong ánh sáng đó.
Tâm thức là nơi xuất hiện: “Tôi”; “Thế giới”; “Thiên Chúa”; “Tìm kiếm”; “Chứng ngộ”; Tất cả đều diễn ra trong Tâm thức. Tâm thức có thể: Co lại thành bản ngã; Mở rộng thành hợp nhất; Tan vào im lặng. Nhưng Being không biến đổi.
IV. Kiến chân tính nằm ở đâu? Không phải ở Consciousness — vì nó còn vận động.
Không hẳn ở Pure Awareness — vì đó vẫn còn được diễn tả như “biết”. Kiến chân tính là sự nhận ra rằng: Being, Awareness và toàn bộ nội dung của Consciousness chưa từng tách rời. Không có một “ai đó” đứng ngoài để đạt tới nó. Không có một tiến trình nâng cấp bản thể. Chỉ là sự sáng tỏ rằng nền tảng chưa từng bị che khuất. Kiến chân tính là nhận ra rằng cái mình tưởng là “tôi” chưa từng là trung tâm thực sự; và cái luôn hiện hữu – không sinh, không diệt – chính là nền tảng của mọi trải nghiệm (Đại Ngã).

%20(4).png)
.png)



0 Comments