ƠN GỌI ĐỘC NHẤT
Nếu bạn cân nhắc việc ra tranh cử chính trị, một trong những bước đầu tiên bạn phải thực hiện là tìm hiểu xem ứng cử của bạn sẽ nhận được sự ủng hộ của công chúng đến mức nào. Cử tri có đón nhận thông điệp của bạn không? Có một lực lượng mạnh mẽ các nhà tài trợ sẵn sàng cung cấp tài chính không? Đảng chính trị của bạn có hậu thuẫn bạn bằng nguồn quỹ, phương tiện truyền thông và các cố vấn không?
Nếu bạn muốn mở một doanh nghiệp mới, những câu hỏi đầu tiên bạn cần đặt ra có thể là: Có thị trường cho sản phẩm hoặc dịch vụ của bạn không? Đối thủ cạnh tranh có mạnh và quyết liệt không? Bạn có đủ vốn để vượt qua giai đoạn khởi nghiệp không?
Nếu bạn muốn lập một giáo xứ mới, bạn cần tự hỏi: Có đủ người trong khu vực để nâng đỡ một cộng đoàn mới không? Chúng ta đang muốn tiếp cận với ai (đối tượng mục tiêu là ai)? Khu vực này có thật sự cần một giáo xứ mới hay đã có quá nhiều rồi? Sứ mạng đặc thù của giáo xứ này sẽ là gì? Trong thời kỳ khởi đầu, giáo xứ sẽ được tài trợ và nâng đỡ ra sao?
Khi tôi quyết định viết cuốn sách này, tôi cũng phải trả lời hai câu hỏi (không chỉ cho bản thân tôi, mà vì tôi biết một nhà xuất bản nghiêm túc chắc chắn sẽ hỏi): Thứ nhất, độc giả mục tiêu của cuốn sách là ai? Thứ hai, có đủ người trong nhóm độc giả ấy để khiến cuốn sách này xứng đáng với công sức và nguồn lực của nhà xuất bản không?
Trước khi một nhà lãnh đạo bắt đầu bất cứ công việc nào mới, người ấy cần đặt ra những câu hỏi then chốt, thực hiện nghiên cứu cần thiết, và đối diện với các câu trả lời một cách chân thật, không ảo tưởng. Đức Giêsu đã diễn tả nguyên tắc này trong Luca 14: “Ai trong anh em muốn xây một cây tháp, lại không ngồi xuống trước tiên mà tính toán phí tổn, xem có đủ để hoàn tất không?” (c.28). Dù Đức Giêsu đang nói về cái giá của việc môn đệ hoá, chứ không phải chi phí để khởi sự kinh doanh hay thành lập giáo xứ, nhưng nguyên tắc ấy vẫn áp dụng.
Tuy nhiên, ngay cả khi bạn đã làm hết mọi nghiên cứu, thực hiện mọi phân tích, và xem xét hết các dữ kiện, thì công việc ấy vẫn có thể thất bại. Cuộc tranh cử chính trị có thể kết thúc trong thất bại. Doanh nghiệp khởi nghiệp có thể dẫn đến phá sản. Giáo xứ mới có thể phải đóng cửa. Cuốn sách có thể chẳng tìm được độc giả.
Vậy bạn phải làm gì khi sự nâng đỡ mà bạn hy vọng lại không có? Bạn sẽ làm gì nếu những kế hoạch tốt đẹp nhất của bạn đổ vỡ và bạn thấy mình là một nhà lãnh đạo... không có người theo?
Một Nhà Lãnh Đạo Không Có Người Theo?
Trong những ngày đầu của sứ vụ tại thế, không ai có thể hình dung rằng một nhà giảng thuyết đơn độc người Galilê ấy lại đang khởi sự một phong trào thiêng liêng toàn cầu, trải dài suốt ít nhất hai ngàn năm lịch sử. Thực tế, các chuyên gia marketing và những chiến lược gia truyền thông có lẽ đã kết luận rằng Ngài đã làm tất cả... sai lầm.
Thứ nhất, Đức Giêsu đã nhắm sai “đối tượng mục tiêu.” Đáng lẽ Ngài nên rao giảng cho tầng lớp thượng lưu trong xã hội Do Thái, nơi tập trung ảnh hưởng, quyền lực và tiền bạc. Thay vào đó, Ngài lại dành thời gian và sức lực để giảng cho người nghèo, người bệnh, những người thu thuế bị khinh bỉ, những kẻ quá khích chính trị — những con người bị coi là “cặn bã xã hội.”
Thứ hai, Đức Giêsu lại còn làm mất lòng những kẻ giàu có và quyền thế. Không chỉ dừng lại ở việc rao giảng cho người nghèo, Ngài còn chủ động khơi dậy xung đột với tầng lớp lãnh đạo xã hội. Các nhóm Pharisêu, Sađucêô và tư tế có thể đã trở thành những người bảo trợ đầy thế lực cho sứ vụ của Ngài, nếu như Ngài chỉ cần khéo léo đến gần họ, tâng bốc họ, và tìm cách lôi kéo họ như bạn bè, đồng minh.
Thứ ba, Đức Giêsu là một “người bán hàng” tồi. Người bán hàng giỏi thì biết nhấn mạnh lợi ích của sản phẩm, vượt qua phản đối, đưa thêm khuyến mãi và chốt giao dịch. Nhưng Đức Giêsu lại có xu hướng nhấn mạnh đến cái giá phải trả, khơi dậy sự phản đối, và nhắc nhở người ta về những hy sinh của việc theo Ngài. Ngài đã nói: “Ai không vác thập giá mình mà đi theo Ta, thì không thể làm môn đệ Ta được” (Lc 14,27). Và: “Nếu mắt phải của ngươi làm cớ cho ngươi sa ngã, hãy móc nó mà ném đi” (Mt 5,29). Và: “Hãy đi, bán tất cả những gì ngươi có mà cho người nghèo” (Mc 10,21). Bất kỳ nhân viên bán hàng nào cũng sẽ bảo rằng với “lời chào hàng” như vậy, Đức Giêsu sẽ chẳng bao giờ thành công.
Thứ tư, Đức Giêsu không biết thoả hiệp. Ngài dường như không hiểu “luật chơi.” Người ta phải biết nhân nhượng đôi chút để đạt được mục tiêu. “Ngươi giúp ta, ta giúp ngươi.” Nhưng Đức Giêsu thì hoàn toàn bất di bất dịch.
Đôi lúc, có vẻ như Đức Giêsu chẳng hề quan tâm liệu ai có ủng hộ sứ vụ của Ngài hay không. Gần cuối chương 6 Tin Mừng Gioan, khi giảng trong hội đường tại Caphácnaum, Đức Giêsu nói về việc Ngài là Bánh Hằng Sống từ trời xuống. Ngài còn tuyên bố: “Ai ăn thịt Ta và uống máu Ta thì có sự sống đời đời” (Ga 6,54a). Nghe thế, nhiều môn đệ cảm thấy vấp phạm. Họ nói: “Lời này chướng tai quá! Ai mà nghe nổi?” (Ga 6,60). Và từ lúc ấy, nhiều môn đệ đã bỏ đi, không còn theo Ngài nữa.
Sau khi những người khác rút lui, Đức Giêsu quay sang Nhóm Mười Hai và hỏi: “Cả anh em nữa, anh em cũng muốn bỏ đi sao?” (Ga 6,67). Simon Phêrô đáp: “Lạy Thầy, chúng con sẽ đi theo ai? Thầy mới có những lời ban sự sống đời đời. Chính Thầy là Đấng Thánh của Thiên Chúa” (Ga 6,68-69).
Nhóm Mười Hai còn lại. Nhưng giả như họ cũng bỏ đi thì sao? Giả như Đức Giêsu chỉ còn lại một mình, một vị lãnh đạo không có bất kỳ môn đệ nào? Tôi tin rằng, dù buồn lòng, Ngài vẫn sẽ tiếp tục sứ vụ. Ngài đã đến trong sự vâng phục để cứu độ nhân loại, bất kể có hay không sự nâng đỡ của loài người. Ngài sẽ hoàn tất công việc mà Ngài đã đến để thực hiện.
NGUYÊN TẮC HƯỚNG DẪN CHO NHỮNG NHÀ LÃNH ĐẠO TRONG CÔ ĐƠN
Một vài năm trước, có một người Kitô hữu nảy ra một ý tưởng mà ông nghĩ rằng đó là sự kết hợp hoàn hảo giữa chủ nghĩa tư bản và việc loan báo Tin Mừng. Ông sẽ giúp những Kitô hữu khác kiếm tiền trong khi cùng lúc loan truyền Tin Mừng. Kế hoạch của ông là tạo ra một loạt sản phẩm có in Lời Kinh Thánh và những câu nói truyền cảm hứng. Ông liên hệ với bạn bè và người quen, mời họ góp vốn vào dự án, mỗi người một ngàn đô la.
Khi giải thích ý tưởng cho những nhà đầu tư tiềm năng, ông đưa ra các biểu đồ và thống kê, chứng minh rằng các nhà đầu tư có thể kỳ vọng ít nhất 18% lợi nhuận trong hai năm đầu. Ông dự tính sẽ bán thêm cổ phần và phân phối sản phẩm trên khắp Hoa Kỳ, Canada, và thậm chí cả ở hải ngoại. Hầu như ngay lập tức, ông đã tập hợp được năm mươi nhà đầu tư nhiệt thành.
Một ngày nọ, ông nhận được thông báo từ Ủy ban Chứng khoán và Giao dịch, cho biết ông đã vi phạm pháp luật trong cách phát hành cổ phiếu. Nhưng ông bỏ qua cảnh báo ấy và tiếp tục bán cổ phần. Ông nói: “Chính phủ chỉ đang cố cản trở Tin Mừng.”
Vài tuần sau, các thông báo từ chính phủ trở nên nghiêm khắc và đe dọa hơn. Cuối cùng, ông bị truy tố vì vi phạm luật liên bang. Kết quả là công việc kinh doanh bị đóng cửa và các nhà đầu tư mất trắng toàn bộ số vốn đã bỏ ra.
Ông nói: “Ngay khi bạn cố gắng làm một điều gì lớn lao cho Chúa, thì Satan sẽ chống lại bạn.” Nhưng tôi nghĩ đúng hơn là ông ta đã tự chuốc lấy rắc rối vì coi thường luật pháp. Ông có sự nâng đỡ nhiệt tình của năm mươi người, nhưng ông đã phung phí tất cả vì không chịu tuân theo luật lệ.
Khi Đức Giêsu mất đi sự ủng hộ của nhiều người theo (ngoại trừ Nhóm Mười Hai), Ngài không làm điều gì sai. Họ bỏ đi vì cuối cùng đã nhận ra những gì Ngài thật sự muốn nói với họ — và họ không thể chấp nhận sự thật ấy. Nhiều người trong số những môn đệ đầu tiên đã gán cho Ngài những hy vọng và ước mơ chính trị – xã hội của riêng họ. Họ nghĩ Ngài đến như một nhà cách mạng, một đấng giải phóng sẽ đánh bại ách thống trị Rôma và khôi phục vinh quang cho Israel.
Càng ngày, khi Đức Giêsu dạy rõ hơn về bản chất thiêng liêng của Nước Trời và sứ mạng Đấng Mêsia, thì người ta càng vỡ mộng và thất vọng. Họ nhận ra Ngài không phải là vị vua như họ mong đợi — và cũng không phải vị vua mà họ muốn có. Họ không bỏ đi vì Ngài thiếu chiến lược marketing, hay vì Ngài không biết cách “bán” sứ điệp. Họ bỏ đi vì sự thật quá khó để chấp nhận.
Khi bạn và tôi tìm cách sống theo phong cách lãnh đạo của Đức Giêsu, sẽ có những lúc chúng ta nói sự thật, và sự thật ấy sẽ khiến ta mất người theo. Sự thật có thể khiến ta mất doanh thu, lợi nhuận. Sự thật thậm chí có thể khiến ta mất vị trí lãnh đạo. Nếu chúng ta phải trả giá vì nói sự thật, thì cũng đành vậy. Bởi chúng ta chỉ đang bước theo Thầy Chí Thánh, Đấng đã trả giá tột cùng trên thập giá.
Tuy nhiên, nếu với tư cách là những nhà lãnh đạo, chúng ta phải trả giá, thì hãy chắc chắn rằng đó là vì những lý do đúng đắn. Hãy chắc chắn rằng chúng ta thực sự trả giá để bảo vệ chân lý của Thiên Chúa, chứ không phải vì hành động dại dột như người đàn ông kia, kẻ đã phớt lờ cảnh báo của chính quyền. Hãy chắc chắn rằng chúng ta thực sự bị bách hại vì sự thật, chứ không phải làm ô nhục sự thật của Thiên Chúa bằng những hành động khờ khạo của mình.
Trong sự bất toàn và kiêu ngạo của con người, chúng ta thường dễ lẫn lộn kế hoạch của mình với kế hoạch của Thiên Chúa. Chúng ta dễ dàng cho rằng hễ mình chịu chống đối thì tức là đang bị bách hại vì đức tin. Nhưng khác với Đức Giêsu, chúng ta là những con người yếu đuối và lầm lỗi. Động cơ của ta, dù tốt đến đâu, vẫn thường pha trộn và thiếu trong sáng. Khi tìm cách lắng nghe tiếng Chúa, bản tính tội lỗi vẫn có thể làm méo mó sự phân định của chúng ta.
Dưới đây là vài gợi ý để giúp chúng ta học biết lắng nghe tiếng Chúa cách rõ ràng hơn:
-
Liên lỉ xét lại động cơ của mình. Chúng ta cần đối chiếu kế hoạch của mình với Lời Chúa và chắc chắn rằng ta đang vâng phục thánh ý Người. Ta phải can đảm nhìn thẳng vào lòng mình và tự hỏi: Tôi đang sống vâng phục Thiên Chúa hay chỉ nuôi dưỡng cái tôi? Tôi đang thi hành ý Chúa hay đang cố chấp theo ý riêng? Tôi có thành thật với bản thân hay đang tự lừa dối?
-
Liên lỉ tìm kiếm sự hướng dẫn nơi Thiên Chúa. Chúng ta cần cầu nguyện xin Chúa tỏ cho ta biết những lý do ẩn khuất đằng sau các việc ta làm. Hãy nhớ rằng cầu nguyện là cuộc đối thoại hai chiều với Chúa. Có lúc để nói — và có lúc để lắng nghe. Chúa phán: “Hãy lặng yên và biết rằng Ta là Thiên Chúa” (Tv 46,10a).
-
Sống trong sự nâng đỡ và kiểm chứng của cộng đoàn. Mỗi người chúng ta cần một nhóm bạn hữu Kitô hữu thân tín, thường xuyên gặp gỡ, cầu nguyện, nâng đỡ và can đảm nói sự thật cho ta, kể cả những sự thật khó nghe. Mọi nhà lãnh đạo đều cần có một vài bạn thân để chia sẻ, để được nhắc nhở và giữ cho mình sống đúng thực tế.
Bạn có những người bạn như thế trong hành trình lãnh đạo của mình không? Lãnh đạo thường là một ơn gọi cô đơn. Ai trong chúng ta cũng cần vài người bạn thân thiết để giúp mình sống trung thực, được nâng đỡ, được khích lệ, và đi đúng hướng.
KHÔNG BAO GIỜ CÔ ĐƠN Ở ĐỈNH CAO
Tôi biết một đôi vợ chồng cảm thấy Thiên Chúa kêu gọi họ làm thừa sai tại Phi châu. Quốc gia mà Chúa đặt nặng trong lòng họ lúc ấy đang trải qua giai đoạn cách mạng, bạo lực và khủng bố lan rộng. Gia đình và bạn bè ra sức khuyên họ đừng đi, nhất là vì họ có ba đứa con còn tuổi mẫu giáo. Ngay cả hội truyền giáo cũng khuyên không nên thực hiện kế hoạch.
Thế nhưng, họ nói với nhóm cầu nguyện nâng đỡ: “Chúng tôi có một sự xác tín sâu xa trong lòng từ Thiên Chúa, đến mức cho dù không ai ủng hộ, điều đó cũng không quan trọng. Chúng tôi biết Chúa ở cùng, và chúng tôi quyết tâm lên đường.”
Và họ đã đi. Họ đã sống nhiều năm thi hành một sứ vụ hữu hiệu cho Thiên Chúa tại đất nước đầy biến động ấy. Nếu họ nghe theo những tiếng ngăn cản từ gia đình, bạn bè, và cả hội truyền giáo, thì họ đã không bao giờ thực hiện được sứ vụ này.
Chúng ta thấy tình huống tương tự nơi thánh Phaolô. Trong cuộc hành trình truyền giáo lần thứ ba và cũng là cuối cùng, ngài ở Êphêsô gần ba năm, giảng dạy và tổ chức công cuộc truyền giáo trong vùng. Vào cuối thời gian ấy, Phaolô cảm thấy Thánh Thần thúc giục phải đi Giêrusalem, rồi từ đó đến Rôma (x. Cv 19,21). Khi bị các thợ bạc làm tượng thần ngoại giáo ở Êphêsô tấn công, ngài rời thành và đi qua Hy Lạp, Macedonia và Tiểu Á.
Dừng chân tại Milêtô (Tiểu Á), Phaolô cho mời các kỳ mục Hội Thánh Êphêsô đến gặp mình. Trong cuộc gặp ấy, Phaolô nói với họ rằng ngài sẽ đi Giêrusalem. Các kỳ mục khóc lóc, ôm lấy ngài, vì biết rằng ngài là người bị truy nã và nếu đến Giêrusalem thì chắc chắn sẽ bị bắt (x. Cv 20,17-38).
Từ Milêtô, Phaolô xuống tàu đi Xêdarê, cùng với vài chặng dừng. Tại đó, ngài và các bạn đồng hành ở lại nhà của Philipphê, nhà truyền giáo. Trong thời gian ấy, có một ngôn sứ Kitô hữu tên là Agabô đến. Ông lấy dây lưng của Phaolô, tự trói tay chân mình, rồi nói: “Đức Thánh Thần phán: người chủ của chiếc dây lưng này sẽ bị người Do Thái tại Giêrusalem trói lại và nộp vào tay dân ngoại.”
Nghe thế, các bạn hữu nài xin Phaolô đừng đi Giêrusalem. Nhưng Phaolô đáp: “Anh em làm gì mà khóc lóc, khiến lòng tôi tan nát? Tôi sẵn sàng không chỉ để bị xiềng xích, mà còn để chết tại Giêrusalem vì danh Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta.” (x. Cv 21,1-14).
Quả thật, lời tiên tri của Agabô đã ứng nghiệm. Phaolô đến Giêrusalem, bị cuốn vào xung đột dẫn đến việc bị bắt và bỏ tù. Ngài bị giam tại Xêdarê một thời gian, rồi bị giải trong xiềng xích về Rôma.
Có Kitô hữu phê bình Phaolô vì đã không nghe lời Agabô và những người bạn khuyên ngăn. Nhưng sách Công vụ Tông đồ đã ghi rõ: “Phaolô quyết theo Thánh Thần mà lên Giêrusalem, nói rằng: ‘Sau khi ở đó, tôi phải đi thăm Rôma nữa’” (Cv 19,21). Phaolô biết rõ những gì chờ đợi mình tại Giêrusalem, nhưng ngài đã vâng phục tiếng gọi của Thánh Thần.
Có những khi, một nhà lãnh đạo phải đứng một mình. Dĩ nhiên, Phaolô không hoàn toàn cô độc, vì Thần Khí Thiên Chúa luôn ở cùng ngài. Nhưng tất cả bạn hữu ngài đều phản đối kế hoạch ấy, vì lo cho mạng sống ngài — và điều đó hoàn toàn hợp lý. Tuy nhiên, đôi khi Thiên Chúa lại muốn một nhà lãnh đạo đi vào con đường nghịch với lý trí con người. Phaolô biết Thiên Chúa có ý định sai ngài đến Giêrusalem, rồi đến Rôma, để làm sứ giả của Người, kể cả trong xiềng xích.
Là những người lãnh đạo theo phong cách Đức Giêsu, đôi lúc chúng ta cũng sẽ cảm thấy được Chúa kêu gọi đi theo một hướng nào đó — một hướng đi ngược lại với những lời khuyên từ bạn bè và cố vấn Kitô hữu. Trước khi dấn thân, chúng ta cần hết sức thận trọng để bảo đảm chắc chắn rằng đó thật sự là ý Chúa. Hãy chắc rằng ta hành động vì xác tín và vâng phục, chứ không phải vì ngoan cố và ý riêng.
Nhưng một khi đã xác tín rằng Thiên Chúa kêu gọi, thì chúng ta phải bước đi, cho dù không ai đồng ý. Ta phải đứng một mình, chỉ có Thiên Chúa là chỗ dựa.
Thánh Vịnh có chép: “Dầu cha mẹ có bỏ con đi nữa, thì Đức Chúa vẫn đón nhận con” (Tv 27,10). Không có nỗi cô đơn và bị bỏ rơi nào lớn hơn thế. Trên thập giá, Đức Giêsu đã thấu hiểu hoàn toàn sự cô đơn ấy: Ngài là một nhà lãnh đạo không còn môn đệ nào, thậm chí còn bị chính Chúa Cha lìa bỏ. Nhóm Mười Hai đã bỏ rơi Ngài, và một người còn phản bội Ngài. Trước khi tắt thở, Ngài kêu lên: “Lạy Thiên Chúa của Con, sao Ngài bỏ rơi Con?” (Mc 15,34).
Nếu bạn từng cảm thấy cô đơn trong sứ vụ lãnh đạo, hãy nhớ đến Đức Giêsu trên thập giá — vị lãnh đạo cô đơn nhất, bị bỏ rơi và bị khước từ nhất trong lịch sử nhân loại. Người ta thường nói: “Trên đỉnh cao thì cô đơn.” Không ai hiểu chân lý ấy hơn Đức Giêsu. Tuy nhiên, chính Đức Giêsu cũng đã hứa: Ngài sẽ không bao giờ bỏ rơi bạn.
Vậy nên, lần tới khi bạn thấy mình cô độc, không được nâng đỡ, và sức nặng trách nhiệm lãnh đạo đang đè nặng trên vai, hãy nhớ rằng luôn có Một Đấng ở bên bạn, Đấng thấu hiểu bạn. Đức Giêsu ở cùng bạn, và bạn không bao giờ đơn độc.
Nỗi Cô Đơn của Quyền Chỉ Huy
“Quyền chỉ huy là cô đơn,” tướng Colin Powell đã viết trong My American Journey. Không ai hiểu rõ nỗi cô đơn ấy hơn Đại tướng Dwight D. Eisenhower.
Lúc 4 giờ sáng ngày 5 tháng 6 năm 1944, Eisenhower cùng các tham mưu trưởng của ông đối diện với quyết định đơn độc và trọng đại nhất trong sự nghiệp quân sự của mình: có nên phát động Chiến dịch Overlord – cuộc đổ bộ D-Day, bước khởi đầu cho việc giải phóng Tây Âu khỏi ách phát xít Đức. Một lực lượng gồm 4.400 tàu, 11.000 máy bay và gần 155.000 binh sĩ đang chờ đợi quyết định mà chỉ mình ông có quyền đưa ra—quyết định đưa họ vượt eo biển Manche tiến vào bờ biển nước Pháp. Thời tiết xấu đã buộc phải hoãn cuộc tấn công ít nhất 24 giờ, và nếu tiếp tục hoãn thì phải dời lại hai tuần nữa do chu kỳ thủy triều.
Thành công của Chiến dịch Overlord hoàn toàn phụ thuộc vào thời tiết. Một khoảng ngưng ngắn trong cơn bão có thể giúp phe Đồng Minh bất ngờ tấn công quân Đức Quốc xã. Nhưng dự báo thời tiết khi ấy còn nhiều bất trắc, và một sai lầm có thể dẫn đến thảm họa.
Đô đốc người Anh, Bertram Ramsay, nhắc Eisenhower rằng các đoàn tàu đã ra khơi trong sóng dữ. Quyết định tiến hay thoái phải được truyền đạt cho hạm đội trong vòng 30 phút. Trong khi bão gió gào thét bên ngoài, Eisenhower lần lượt hỏi ý kiến các tướng lĩnh: tiến hay dừng? Kết quả chia đều.
Quyết định cuối cùng hoàn toàn thuộc về Eisenhower. Trung tướng Walter Bedell Smith, có mặt trong căn phòng ấy, sau này kể lại khoảnh khắc căng thẳng khi Eisenhower ngồi lặng yên, chìm trong suy tư ít nhất năm phút. Smith nói:
“Tôi chưa bao giờ nhận ra trước đó nỗi cô đơn và sự cách biệt của một vị chỉ huy vào giây phút phải đưa ra một quyết định hệ trọng như thế, với ý thức trọn vẹn rằng thành bại đều đặt trên chính phán đoán của ông.”
Cuối cùng, Eisenhower lên tiếng: “Được rồi, chúng ta sẽ tiến hành.”
Chỉ với ba từ, ông khởi động cuộc hành quân quân sự lớn nhất từng được thực hiện. Đó là lúc công cuộc giải phóng châu Âu bắt đầu.
Trước đó trong ngày, Eisenhower đã viết tay một mẩu ghi chú trên tờ giấy trắng, gấp lại và để vào ví—một thông điệp ông hy vọng không bao giờ phải công bố. Nó phản ánh sự cô đơn vốn gắn liền với bất kỳ vị trí lãnh đạo nào. Ông viết:
“Cuộc đổ bộ của chúng ta tại khu vực Cherbourg-Havre đã thất bại trong việc giành một chỗ
đứng vững chắc và tôi đã rút quân. Quyết định tấn công vào thời điểm và địa điểm này được dựa
trên những thông tin tốt nhất hiện có. Quân đội, không quân và hải quân đã làm tất cả những gì
Lòng Can Đảm và Tinh Thần Hy Sinh có thể làm. Nếu có bất kỳ trách nhiệm hay lỗi lầm nào gắn
với nỗ lực này, thì nó hoàn toàn thuộc về tôi.”
—Ngày 5 tháng 6.
Mẩu ghi chú đó là một bản thú nhận thất bại—và may mắn thay, nó không bao giờ phải được công bố. Dù cuộc tấn công D-Day đã phải trả giá bằng nhiều sinh mạng, nhưng nó đã thành công, mở ra bước ngoặt quyết định cho việc kết thúc Thế chiến II.
Lãnh đạo là một ơn gọi đầy cô đơn. Các nhà lãnh đạo thường bị buộc phải đưa ra những quyết định khó khăn, nơi mà trách nhiệm hay lỗi lầm hoàn toàn đặt trên vai họ. Chúng ta có thể tập hợp quanh mình những người cộng tác, những người cầu nguyện, khuyên nhủ và nâng đỡ ta trong những thời khắc quyết định. Nhưng cuối cùng, nhà lãnh đạo vẫn phải tự mình chọn lựa.
Nếu mọi người đều quay lưng, nếu không ai đứng bên cạnh chúng ta, thì chúng ta vẫn còn một người bạn trung tín. Đức Giêsu, Vị Thầy, đã đi qua con đường lãnh đạo đầy cô đơn ấy. Người biết rõ lối đi, và Người sẽ chẳng bao giờ bỏ rơi hay ruồng bỏ chúng ta.
Đó là lý do vì sao nguyên tắc lãnh đạo tiếp theo là:
NGUYÊN TẮC 13
Chỉ cần một nhà lãnh đạo đích thực cộng với Chúa Giêsu là đã thành một đa số vững mạnh

%20(1).png)
.png)



0 Comments