banner top | SORE TODAY STRONG TOMORROW

ĐỪNG SỢ

[Sách] Phong cách lãnh đạo của Đức Giêsu - Can đảm (Trích từ phần 2 - CÁC PHẨM CHẤT CỦA NGƯỜI LÃNH ĐẠO)

 CAN ĐẢM

Ngày nay, những người theo Muhammad đã lên tới hơn một tỷ người, tức hơn 20 phần trăm dân số thế giới. Hồi giáo, tôn giáo mà ông sáng lập, là một trong những tôn giáo phát triển nhanh nhất trên trái đất.



Thế nhưng, vào thuở ban đầu, Muhammad chỉ chinh phục được rất ít người theo tôn giáo mới của mình. Hầu như không ai hiểu thông điệp của ông. Ông đã nói về phúc lành khi tìm được dù chỉ một linh hồn tin vào ông và sứ điệp của ông. Ông thậm chí còn hứa ban nhiều phúc lành gấp bội cho những người cải đạo đầu tiên vì đã theo ông.

Trải qua nhiều thế kỷ, đã có không ít nhà lãnh đạo, cả tôn giáo lẫn thế tục, dường như sẵn sàng “mua chuộc” người khác nếu họ chịu trở thành tín đồ và môn đệ. Khi nói “mua chuộc,” ý tôi là đưa ra những cám dỗ, chẳng hạn như lời hứa về phúc lành hay đặc ân, hoặc cảm giác rằng người đó có sự hiểu biết và khai sáng đặc biệt. Nhiều phong trào tôn giáo, doanh nghiệp, thậm chí cả quốc gia đã được khởi sự theo cách này. Các nhà lãnh đạo nỗ lực hết sức để có được những người cải đạo đầu tiên. Rồi, nhờ sự nhiệt thành của những người ấy, họ hy vọng xây dựng được một làn sóng hăng hái lan rộng phong trào theo cấp số nhân.

Các sách Tin Mừng ghi lại lời mời gọi đơn sơ của Chúa Giêsu: “Hãy theo Ta” (Ga 1,43). Ngài không hứa hẹn những điều lớn lao cho các môn đệ. Thực ra, Ngài thường nhấn mạnh đến giá phải trả và sự khó khăn khi làm môn đệ của Ngài. Ngài nói rằng các môn đệ phải vác thập giá của mình và tính toán cái giá của việc theo Ngài, thêm rằng: “Vậy, ai trong anh em không từ bỏ hết những gì mình có, thì không thể làm môn đệ Ta” (Lc 14,33).


Điều còn ngạc nhiên hơn nữa là Chúa Giêsu không tìm cách kết thân với những người có thế lực, những người có thể giúp Ngài quảng bá sứ vụ. Trái lại, Chúa Giêsu thậm chí còn đối xử với các thành viên thuộc tầng lớp quyền thế bằng một sự thẳng thắn gần như cứng rắn. Thánh Gioan kể lại một lần ông Nicôđêmô đến thăm Chúa Giêsu vào ban đêm. Ông là một người Pharisêu, thành viên của hàng lãnh đạo Do Thái, đại diện cho nhóm tôn giáo có tên nghĩa là “những người biệt lập.” Người Pharisêu tự cho mình đạo đức hơn hẳn người thường — và dân Do Thái thì sợ quyền lực và ảnh hưởng của họ.


Hãy tưởng tượng sẽ vinh hạnh biết bao nếu Nicôđêmô trở thành một môn đệ sớm của Chúa Giêsu. Khi ấy, Chúa có thể khoe rằng: “Ta có môn đệ ở chốn quyền quý.” Nhưng Chúa Giêsu đã không cố gắng chiêu dụ Nicôđêmô. Ngài không dành cho vị Pharisêu này sự chào đón trọng thị nào hơn người khác. Ngài không hứa hẹn, không đưa ra đặc ân, cũng không nói một lời khen hay tâng bốc.


Thay vào đó, Chúa Giêsu lắng nghe những lời lẽ trau chuốt của Nicôđêmô: “Thưa Thầy, chúng tôi biết Thầy là một vị Tôn Sư đến từ Thiên Chúa, vì chẳng ai có thể làm những dấu lạ Thầy làm nếu Thiên Chúa không ở cùng Người” (Ga 3,2). Chúa Giêsu không nói: “Cám ơn ông vì những lời tốt đẹp ấy.” Ngài không hề công nhận lời khen của Nicôđêmô, nhưng đáp lại bằng một sứ điệp gây chấn động và khó hiểu: “Thật, thật, Ta bảo ngươi: nếu ai không được sinh lại, thì không thể thấy Nước Thiên Chúa” (Ga 3,3).

Cụm từ “được sinh lại” thì nay quen thuộc trong các giới Tin Lành, nhưng khi Chúa Giêsu nói những lời ấy với Nicôđêmô, chúng gây một hiệu ứng chói tai. Được sinh lại ư? Làm sao một người có thể sinh ra lần thứ hai? Đây không phải là những lời mà Nicôđêmô muốn nghe. Thực ra, ông hầu như không hiểu được chúng. Chắc chắn, vị Pharisêu kiêu hãnh này mong Chúa Giêsu sẽ biết ơn vì lời tâng bốc của mình. Nhưng thay vì vậy, Chúa Giêsu đáp lại bằng một câu đố: “Các ngươi phải được sinh lại” (Ga 3,7).

Rõ ràng là Chúa Giêsu chưa từng đọc cuốn Đắc nhân tâm (How to Win Friends and Influence People). Dale Carnegie hẳn sẽ nói với Chúa Giêsu rằng Ngài đang vi phạm những quy tắc bán hàng thành công khi đối diện Nicôđêmô bằng một đòi hỏi thiêng liêng khó hiểu. Và Chúa Giêsu hẳn sẽ đáp: “Nhưng Ta đâu có bán gì. Ta đang rao giảng chân lý: Các ngươi phải được sinh ra một lần nữa lại.”


Không Thỏa Hiệp

Theo tiêu chuẩn của nghệ thuật bán hàng hiện đại, Chúa Giêsu đã phạm phải một trong những sai lầm tệ hại nhất trong cuộc trò chuyện đêm khuya với Nicôđêmô. Mọi khóa học bán hàng mà tôi từng biết đều khuyên người bán phải ngay lập tức tìm cách lấy thiện cảm của khách hàng tiềm năng. Người bán hàng được dạy phải biết dùng lời tâng bốc và khen ngợi, phải thân thiện, dễ mến và luôn giữ nụ cười. Trên hết, một người bán hàng không bao giờ được phép nêu quan điểm gây tranh cãi, nhưng phải giữ cho bầu khí nhẹ nhàng, dễ chịu. Nếu có những xác tín mạnh mẽ, hãy giữ kín trong lòng. Thế mà Chúa Giêsu đã phá vỡ tất cả những quy tắc ấy.

Trái lại, Nicôđêmô dường như rất thông thạo các kỹ thuật của nghệ thuật bán hàng. Ông đến gặp Chúa Giêsu với những lời tâng bốc có tính trịch thượng. Nhiều người, vì khao khát được giới tinh hoa xã hội chấp nhận, hẳn sẽ dễ dàng bị mê hoặc bởi lời nịnh nọt của một người Pharisêu như thế. Bạn hoặc tôi có lẽ sẽ nghĩ: “Ông ta nói những lời tốt đẹp thế này về mình! Mình chắc chắn không muốn nói điều gì làm ông phật ý. Có lẽ mình nên dịu giọng lại và giữ lấy cảm tình của ông.”

Nhưng Chúa Giêsu không hề làm nhạt đi sứ điệp của Ngài. Ngài công bố sứ điệp một cách mạnh mẽ, dứt khoát, không hề thỏa hiệp, bất kể khi nói với kẻ bị gạt ra bên lề xã hội hay với một thành viên thuộc giới tinh hoa Pharisêu. Chúa Giêsu không thiên vị ai. Khi đối diện với Nicôđêmô như thế, Ngài đã biểu lộ lòng can đảm gần như táo bạo. Chúa Giêsu không phải là một người bán hàng (điều này không có nghĩa hạ thấp những người bán hàng giỏi và chuyên cần), nhưng Ngài chính là mẫu gương tuyệt hảo của nhà lãnh đạo đích thực.

Chúa Giêsu đã có một cuộc gặp gỡ trí tuệ thẳng thắn, chân thành nhưng cũng kiên nhẫn với Nicôđêmô, người Pharisêu. Ngài quan tâm đủ đến ông và vận mệnh đời đời của ông để nói lên sự thật không thỏa hiệp.

Tôi từng xem một cuộc trò chuyện được truyền hình giữa một nhà lãnh đạo Kitô giáo nổi tiếng và một người theo thuyết nhân bản công khai. Thật buồn khi thấy nhà lãnh đạo Kitô giáo ấy cố gắng tìm cách được khán giả chấp nhận bằng cách làm nhạt đi những tuyên bố của Đức Giêsu Kitô. Càng bị khán giả chế giễu, ông ta càng thỏa hiệp với Tin Mừng.

Là những nhà lãnh đạo, chúng ta phải chấp nhận rằng sẽ thường xuyên có lúc bị gọi để bảo vệ những lập trường không được ưa thích — và chúng ta phải có can đảm bảo vệ quan điểm của mình một cách dứt khoát, không thỏa hiệp, nếu không thì chúng ta sẽ thôi không còn là lãnh đạo nữa. Quyền lãnh đạo đích thực được đánh dấu bằng sự dũng cảm, can đảm và xác tín. Điều này đúng cho cả lãnh đạo trong lãnh vực tôn giáo lẫn thế tục.

Khi chúng ta dũng cảm đứng vững, chúng ta trở nên đồng hình đồng dạng với Đức Kitô trong nhân cách, sự chính trực và các giá trị. Chúng ta phải mạnh mẽ đứng lên bảo vệ những nguyên tắc luân lý của mình. Chắc chắn, đôi khi chúng ta sẽ phải trả giá. Có thể chúng ta sẽ bị công kích trực diện hoặc trên truyền thông. Nhưng nếu bạn thiếu can đảm và sự mạnh mẽ để đứng lên bảo vệ các nguyên tắc của mình, thì bạn không nên làm lãnh đạo.

Chúa Giêsu không bao giờ coi Tin Mừng như một sản phẩm để đóng gói và đem đi bán. Đức Kitô không bao giờ dùng lời quảng cáo thổi phồng, không bao giờ làm nhạt đi chân lý, và không bao giờ thỏa hiệp trong tình yêu vô điều kiện của Ngài. Ngài luôn luôn nói sự thật trong tình yêu.

Một Lập Trường Can Đảm cho Sự Chính Trực

Người bạn của tôi, Barbara, đã làm việc hai mươi năm với tư cách là nhân viên đặt chỗ cho một hãng hàng không lớn. Cô làm việc một cách hiệu quả và nhã nhặn, nhưng lại gặp rắc rối với các giám sát viên của mình chỉ vì có quá nhiều sự chính trực. Các cấp trên đã nói với cô rằng cô đang đặt công việc của mình vào tình thế nguy hiểm chỉ vì quá thành thật.

Barbara đã làm sai điều gì? Cô đã cung cấp cho khách hàng thông tin chính xác và đầy đủ về dịch vụ cũng như giá cả. Nếu một khách hàng tiềm năng cần bay vào một khung giờ nhất định mà hãng hàng không của cô không có chuyến nào vào giờ đó, cô sẽ cho họ thông tin về các chuyến bay của hãng cạnh tranh.

Barbara hiểu rằng công việc của cô là đặt chỗ và kiếm tiền cho hãng, nhưng cô cũng hiểu rằng công việc ấy bao gồm cả sự hài lòng của khách hàng. Nhiều lần, cấp trên đã khiển trách cô vì gửi khách hàng sang đối thủ cạnh tranh. Nhưng cô đã can đảm kiên trì làm điều mà cô tin là đúng. Cuối cùng, các cấp trên phát hiện rằng sự chính trực của Barbara thực ra đang đem lại lợi nhuận cho hãng.

Khách hàng, vốn ấn tượng trước sự tận tâm và lòng chân thành mới mẻ của Barbara, đã viết thư cảm ơn hãng vì hành động của một nhân viên đặt chỗ duy nhất này. Một khách hàng viết: “Tôi đi lại rất nhiều nhưng chưa bao giờ thấy ai chủ động gợi ý một hãng khác trừ khi tôi phải hỏi. Cô ấy đã tự nguyện cung cấp thông tin đó. Tôi muốn quý vị biết rằng từ nay về sau, hãng của quý vị sẽ là hãng hàng không duy nhất tôi chọn.”


Công ty ấy lẽ ra khôn ngoan nếu biến tấm gương của Barbara thành chính sách chung. Thật đáng tiếc, họ đã không khuyến khích các nhân viên khác noi theo. Nhưng họ vẫn cho phép cô làm việc theo cách của mình, bởi vì rõ ràng điều đó mang lại kết quả.

Dù sự thành thật và chính trực có đem lại lợi ích hay không, thì những nhà lãnh đạo đích thực vẫn cần phải đứng vững trên sự thật và các giá trị của mình. Như một nhà lãnh đạo đã nói: “Nếu tôi thỏa hiệp chỉ một nguyên tắc với một khách hàng, thì tôi sẽ vạch ranh giới ở đâu?”


Không có một câu Kinh Thánh nào Đức Giêsu truyền cho các môn đệ phải can đảm và đứng vững cho các giá trị cùng nguyên tắc của mình. Ngài không cần phải ban hành mệnh lệnh như thế. Chính gương mẫu của Ngài đã nói lên tất cả.

Trong Tin Mừng Gioan chương 2, Vị Lãnh Đạo vĩ đại nhất từng sống đã mạnh mẽ đứng lên chống lại các nhà lãnh đạo tôn giáo đương thời, bởi vì họ đã biến Nhà của Thiên Chúa thành chợ búa. Ngài đã bện một chiếc roi, đi qua sân Đền Thờ, quất vào những kẻ đổi tiền và buôn bán, lật đổ bàn ghế của họ. Khi làm như thế, Ngài đã khiển trách họ vì những hành vi gian ác.

Nhiều năm trước, tôi đã giảng dạy về đoạn Kinh Thánh này trong một lớp học Giáo lý Trưởng thành. Một doanh nhân trẻ thành đạt trong lớp nói: “Tôi luôn nghĩ việc thanh tẩy Đền Thờ thật là ngu xuẩn và vô ích. Sau cùng, chỉ ngày hôm sau, những người buôn bán lại dựng bàn ghế và tiếp tục kinh doanh.”

Trước khi tôi kịp đáp, một người nội trợ trong lớp đã nói: “Đôi khi chúng ta phải chọn hành động mang tính biểu tượng. Chúa Giêsu không thể thanh tẩy Đền Thờ mỗi ngày. Ngài cũng không có ý định làm vậy. Nhưng Ngài đã dùng hành động ấy như một diễn đàn để gửi sứ điệp đến toàn dân Israel. Chỉ bằng một hành vi đầy ý nghĩa, Ngài đã cho dân chúng thấy điều gì đúng và điều gì sai.”

Tôi không thể đưa ra câu trả lời nào hay hơn thế. Ngày nay, chúng ta cần nhiều người sẵn sàng làm điều đúng, nói điều đúng, và gửi sứ điệp đến nền văn hóa của chúng ta, cho dù điều đó có vẻ chẳng đem lại kết quả thực tiễn nào. Chúng ta cần những nhà lãnh đạo dũng cảm công bố sự thật trong tình yêu cho thế hệ mình.

Thiên Chúa không sai chúng ta ra thế gian để thành công. Ngài sai chúng ta đi để trung thành và loan báo sự thật của Ngài. Mà thành công thực sự là gì? Nếu chúng ta vâng phục các nguyên tắc Kinh Thánh, thì có thể phó thác kết quả cho Ngài. Chúng ta cần noi gương sự can đảm của Đức Kitô trong việc đối diện với tội lỗi, sự dữ và bất công trong xã hội. Còn việc thế gian đáp trả thế nào trước sứ điệp của chúng ta thì không thuộc về chúng ta. Kết quả thuộc về Thiên Chúa.



Can đảm trong Trận Chiến

Lãnh đạo chính là bước vào chiến trường. Cần có lòng can đảm để dấn thân vào đó và chiến đấu cho điều phải. Can đảm không có nghĩa là không biết sợ. Ngay cả những con người can đảm nhất đôi khi cũng run rẩy. Nhưng họ chấp nhận rủi ro, đối diện với nỗi sợ và vẫn làm điều đúng. Như chú Lợn Nhút Nhát (Piglet) đã từng nói với gấu Pooh: “Tớ không cố ý dũng cảm đâu. Nó chỉ xảy ra khi tớ hoảng loạn thôi.”

Một nhà lãnh đạo có thể tỏ ra tự tin bên ngoài, nhưng điều đó không có nghĩa là bên trong không có “những cánh bướm bay loạn.” Các nhà lãnh đạo thường có những giây phút nghi ngờ chính mình khi âm thầm cầu nguyện: “Lạy Chúa, con có đang làm đúng không?”

Đôi khi, làm điều đúng lại chẳng có vẻ gì là đúng. Đôi khi, làm điều đúng khiến chúng ta đau đớn. Khi phải khiển trách một cấp dưới, kỷ luật một đứa con, hoặc đối diện với người thân vì một tội lỗi hay bê bối, chúng ta thấy khổ tâm. Chúng ta biết đó là điều cần làm, nhưng lại ước gì mình không phải làm. Lãnh đạo thường bị kêu gọi làm những việc chẳng dễ chịu. Đó là lý do tại sao lãnh đạo đòi hỏi lòng can đảm.

Martin Luther, nhà cải cách bùng cháy của thế kỷ XVI, là một nhà lãnh đạo can đảm. Ông đã thách thức Giáo hội thể chế, Đức Giáo hoàng, và các nhà lãnh đạo tôn giáo cũng như chính trị. Năm 1521, ông bị triệu tập ra trước Quốc hội thành Worms (Diet of Worms) tại Đức. Dù được hứa hẹn “an toàn hộ tống,” Luther biết rằng mạng sống mình có thể tiêu tan khi ra trước nghị viện ấy. Hơn một thế kỷ trước, nhà cải cách người Séc, Gioan Hus, cũng từng được hứa hẹn an toàn khi đến Công đồng Konstanz, nhưng kẻ thù đã bắt giam ông và thiêu sống trên giàn lửa.

Các viên chức Giáo hội hứa rằng Martin Luther sẽ được tha thứ nếu ông chịu ăn năn vì những “lỗi lầm” và trở về với “đức tin chân chính.” Nhưng Luther biết lời hứa đó chẳng có nghĩa lý gì, bởi vì họ vốn không xem lời hứa với “kẻ lạc giáo” là ràng buộc. Ông cũng biết rằng hàng ngàn Kitô hữu đã bị Giáo hội tha hóa giết hại tàn nhẫn trong cuộc Tòa Thẩm Tra Tây Ban Nha khét tiếng.

Khi ra trước Quốc hội thành Worms, Luther không được phép tự bào chữa. Người ta chỉ liệt kê một danh sách “sai lầm” của ông. Luther biết rõ tòa án có thể quyết định sự sống hay cái chết của ông. Thế nhưng, ông đã mạnh mẽ tuyên bố:

“Trừ khi tôi bị thuyết phục về sai lầm bởi chính Lời Kinh Thánh hoặc bởi lý luận hiển nhiên, tôi đứng vững trong Kinh Thánh mà tôi đã kêu cầu, và lương tâm tôi bị Lời Thiên Chúa cầm giữ. Tôi không thể và sẽ không rút lại bất cứ điều gì, bởi vì hành động trái với lương tâm thì vừa không an toàn, vừa không chính đáng. Đây là lập trường của tôi. Tôi không thể làm khác. Xin Thiên Chúa giúp tôi. Amen.”

Qua dòng lịch sử, Thiên Chúa vẫn chọn những nhà lãnh đạo dám can đảm đứng lên vì chân lý, công chính và chính trực. Ngài đã hành động qua những con người, dù run rẩy và loạng choạng, nhưng vẫn có can đảm đáp lại tiếng gọi và dấn thân vào chiến trường. Hết lần này đến lần khác, những nhà lãnh đạo Kitô hữu đã đứng lên và làm thay đổi dòng chảy lịch sử. Bạn và tôi cũng phải sẵn sàng đáp lại tiếng gọi ấy.



Can đảm nơi Công Sở

Nhiều năm trước, một người Kitô hữu ở Úc — ta hãy gọi ông là Jim — đã nhận việc trong một cơ quan nhà nước. Chỉ sau một tuần làm việc, cấp trên hỏi ông:
“Jim, anh có muốn kiếm thêm giờ làm không?”
“Chắc chắn là có chứ,”
Jim đáp.

Tối hôm đó, khi vào ca làm thêm, Jim ngạc nhiên khi thấy sếp và đồng nghiệp ngồi quanh bàn chơi bài. Ông hỏi:
“Còn công việc chúng ta phải làm thì sao?”
Người giám sát cười:

“Việc gì? ‘Làm thêm’ nghĩa là ở lại muộn, chơi bài, bấm thẻ, rồi lĩnh thêm tiền. Ngồi xuống đi, chúng tôi sẽ chia bài cho anh.”

Jim liền nói:

“Nếu chúng ta được trả tiền để làm việc, thì hãy làm việc. Bằng không thì chỉ là lừa gạt tiền thuế của dân thôi.”

Từ hôm đó, Jim bị coi là người ngoài. Ông bị giao những việc nặng nhọc và khó chịu nhất. Họ chế giễu ông bằng những biệt danh như “kẻ cuồng Kinh Thánh” hay “đồ Giêsu điên.”

Jim vẫn không thỏa hiệp đức tin và các giá trị của mình. Một thời gian sau, cấp trên cố thuyết phục ông:
“Anh là một người tốt, muốn làm điều đúng. Nhưng tất cả những gì anh nhận lại chỉ là rắc rối. Nếu anh thôi cuồng tín và hòa nhập, mọi người sẽ để yên cho anh. Chưa kể anh sẽ kiếm thêm được nhiều tiền.”

Jim đáp:

“Tôi chỉ muốn nhận tiền cho công việc lương thiện. Không có số tiền nào đủ để tôi đánh đổi xác tín Kitô hữu của mình.”

Sự bắt bớ và chế giễu ngày càng tăng, cuối cùng Jim buộc phải nghỉ việc. Nhưng trước khi rời đi, người đứng đầu cơ quan đã gọi ông vào phòng và nói:
“Tôi muốn anh biết rằng lập trường can đảm của anh cho nguyên tắc đã không bị bỏ qua. Có những người ở cấp cao nhất của cơ quan này đang nói về sự liêm chính của anh.”

Lòng can đảm đã khiến Jim trở thành một nhà lãnh đạo — và Thiên Chúa đã ban vinh dự cho ông vì sự kiên trung ấy. Thiên Chúa đã hứa rằng Ngài sẽ tôn trọng những ai tôn trọng Ngài bằng chính đời sống mình (x. 1 Sm 2,30). Điều này không có nghĩa là Thiên Chúa luôn ban thưởng vật chất. Thực ra, can đảm thường phải trả giá. Lập trường nguyên tắc và can đảm có thể khiến bạn mất sự nghiệp, thu nhập, uy tín, bạn bè, và hơn thế nữa. Nhưng một nhà lãnh đạo đích thực sẵn sàng trả giá để giữ trọn chính trực. Làm đẹp lòng Thiên Chúa phải đặt trên hết, hơn là làm đẹp lòng chính mình.

Thánh Phaolô cũng đã từng giằng co giữa việc làm đẹp lòng Thiên Chúa hay tìm kiếm sự chấp thuận của người khác. Ngài viết cho tín hữu Galát: sau khi rao giảng Tin Mừng về ơn cứu độ nhờ ân sủng qua đức tin nơi Đức Giêsu Kitô, một nhóm lạc giáo Do Thái (Judaizers) đến và rao giảng một “tin mừng khác,” đòi tín hữu phải giữ Luật Do Thái, nhất là phép cắt bì. Phaolô đã thẳng thắn nói:

“Tôi lấy làm lạ khi anh em mau chóng lìa bỏ Đấng đã kêu gọi anh em trong ân sủng của Đức Kitô mà theo một tin mừng khác” (Gl 1,6). Và Ngài nhấn mạnh: “Giờ đây, có phải tôi tìm cách lấy lòng người ta hay lấy lòng Thiên Chúa? Hay là tôi tìm cách làm đẹp lòng người ta? Nếu tôi còn muốn làm đẹp lòng người ta, thì tôi đã không phải là tôi tớ của Đức Kitô” (Gl 1,10).


Viết những lời ấy, Phaolô đã cần đến lòng can đảm. Thông điệp của Ngài gây tranh cãi, đụng chạm và chắc chắn khiến nhiều người tức giận. Có lẽ Phaolô đã mất đi những người bạn vì điều đó, nhưng Ngài nhất quyết không thỏa hiệp Tin Mừng chỉ để giữ lấy sự ưa thích của người đời.



Nicôđêmô: Phần Kế Tiếp của Câu Chuyện

Sau lần xuất hiện đầu tiên trong Gioan chương 3, khi Nicôđêmô – một người Pharisêu – đến gặp Đức Giêsu ban đêm, chúng ta lại gặp ông trong Gioan chương 7. Khi ấy, các thủ lãnh Do Thái tụ tập để kết án Đức Giêsu mà không cần xét xử. Nicôđêmô đã lên tiếng phản đối:

“Luật của chúng ta có cho phép kết án một người trước khi nghe họ và biết họ làm gì không?” (Ga 7,51).

Ngay lập tức, những nhà lãnh đạo tôn giáo chế giễu và nhục mạ ông:

“Cả ông nữa, ông cũng là người Galilê sao? Ông cứ tra cứu thì sẽ thấy không một ngôn sứ nào xuất thân từ Galilê cả” (Ga 7,52).

Sau này, khi Đức Giêsu chịu đóng đinh, Nicôđêmô lại xuất hiện, đi cùng Giuse Arimathia – vị hội viên giàu có đã xin thân xác Chúa để an táng. Họ mang theo khoảng một trăm cân hương liệu để tẩm liệm cho thi hài Đức Giêsu. Chính hành động này là lời tuyên xưng công khai rằng Nicôđêmô đã trở thành môn đệ của Đức Giêsu.

Điều đó đòi hỏi nơi ông lòng can đảm lớn lao. Bởi lẽ, các thủ lãnh tôn giáo vừa giết Đức Giêsu, và khả năng họ sẽ truy lùng những ai theo Ngài là hoàn toàn có thật. Có lẽ giây phút Nicôđêmô thực sự hoán cải đã đến ngay dưới chân thập giá, khi ông chứng kiến Đức Giêsu trút hơi thở cuối cùng. Khi ấy, ông hẳn nhớ lại lời Đức Giêsu đã nói với mình trong đêm gặp gỡ năm nào:

“Như ông Môsê đã giương cao con rắn trong sa mạc, Con Người cũng sẽ phải được giương cao như vậy, để ai tin vào Người thì được sống muôn đời” (Ga 3,14-15).

Nicôđêmô đã được biến đổi. Và sự biến đổi ấy bắt đầu từ đêm ông tìm đến Đức Giêsu, khi Thầy đã thể hiện một kiểu lãnh đạo can đảm: sẵn sàng đối diện, giải thích, và yêu thương cả những kẻ đang dò xét và nghi ngờ mình.

Chính ở đây, một nguyên tắc lãnh đạo mới được hé lộ từ đời sống Đức Giêsu:

NGUYÊN TẮC 5

Trong tư cách là người lãnh đạo phục vụ, tôi có thể mạnh dạn và can đảm trong mọi trận chiến của lãnh đạo. 

Post a Comment

0 Comments