PHÊ BÌNH
Tôi từng thấy một tấm bảng trên bàn làm việc của một nhà điều hành ghi rằng: “Muốn tránh phê
bình: Đừng nói gì. Đừng làm gì. Đừng là gì cả.”
Dĩ nhiên, ai không nói gì và không làm gì thì, theo định nghĩa, không phải là người lãnh đạo. Trở
thành nhà lãnh đạo đồng nghĩa với việc trở thành mục tiêu của phê bình.
Theodore Roosevelt hiểu rằng chính người lãnh đạo trong chiến trường, chứ không phải kẻ chỉ trích, mới là người thực sự tác động đến biến cố và thay đổi dòng chảy của lịch sử. Trong một bài diễn văn tại Paris, một năm sau khi rời Nhà Trắng, Roosevelt đã nói:
“Không phải kẻ phê bình mới đáng kể; không phải kẻ chỉ ra chỗ người mạnh mẽ vấp ngã, hay nơi người hành động có thể làm tốt hơn. Công trạng thuộc về người đang ở trong chiến trường, với gương mặt nhuốm bụi, mồ hôi và máu, người đã nỗ lực dũng cảm... người biết đến những nhiệt huyết lớn lao, những cống hiến sâu xa, người dấn thân cho một sự nghiệp xứng đáng; người, trong trường hợp tốt nhất, biết đến vinh quang của thành tựu cao cả, và trong trường hợp tệ nhất, nếu thất bại, thì ít nhất cũng đã thất bại trong khi dám liều lĩnh vĩ đại, để cho chỗ đứng của mình sẽ không bao giờ ở cùng với những tâm hồn lạnh lùng và hèn nhát, những kẻ chẳng bao giờ biết đến chiến thắng hay thất bại.”
Thế giới được thay đổi và lịch sử được viết nên bởi các nhà lãnh đạo, chứ không phải bởi những kẻ chỉ trích. Người ở trong chiến trường mới là người thực sự đáng kể.
Không ai miễn nhiễm với phê bình. Những nhà lãnh đạo được ngưỡng mộ và tôn kính nhất trong lịch sử đều từng chịu những lời phê phán gay gắt và bất công. George Washington, vị tổng thống đầu tiên (và có lẽ vĩ đại nhất) của Hoa Kỳ, thường được coi là người có danh dự và nhân cách không tì vết. Thế nhưng Thomas Paine, một nhà lập quốc khác và cũng từng là bạn của Washington, đã viết một bức thư công khai gay gắt chống lại ông, trong đó có đoạn: “Còn ngài, thưa ông, kẻ phản bội trong tình bạn riêng tư... và kẻ đạo đức giả trong đời sống công cộng, thế giới sẽ phải bối rối để quyết định liệu ông là một kẻ phản đạo hay một kẻ lừa dối; liệu ông đã từ bỏ nguyên tắc tốt, hay thực ra ông chưa bao giờ có.”
Một nhà lãnh đạo vĩ đại khác chịu đựng nhiều phê phán là Abraham Lincoln. Một trong những kẻ chỉ trích cay độc nhất của ông là luật sư Edwin Stanton. Lincoln và Stanton quen biết năm 1857, khi cả hai cùng tham gia trong một nhóm pháp lý. Không hiểu vì lý do gì, Stanton khinh ghét Lincoln và công khai nhạo báng ông, gọi ông là “một tên hề ranh mãnh hạ tiện,” “con khỉ đột nguyên thủy,” và là người mắc chứng “ngu độn đau đớn.”
Năm 1861, Lincoln trở thành tổng thống thứ mười sáu của Hoa Kỳ, và năm sau đó, ông bổ nhiệm Stanton làm bộ trưởng chiến tranh, một chức vụ then chốt trong cuộc Nội chiến. Lincoln biết Stanton ghét ông, nhưng cũng biết Stanton là người liêm chính và đáng tin cậy. Cuộc chiến đang diễn tiến tệ hại, phần lớn vì bộ máy quan liêu bất lực trong Bộ Chiến tranh, nhưng Lincoln biết Stanton sẽ làm cho Bộ này vận hành như một cỗ máy trơn tru.
Sau khi Stanton gia nhập nội các, mỗi ngày Lincoln đều đến Bộ Chiến tranh để bàn bạc với Stanton khi các bản tin từ chiến trường được truyền về qua điện tín. Dần dần, Stanton bắt đầu nhận ra sự khôn ngoan, thông minh và chân thành nơi vị tổng thống. Hai kẻ đối đầu trở thành đồng minh—và sau đó, trở thành bạn bè. Khi tin tức về sự đầu hàng của Liên minh miền Nam đến, hai người đã thực sự ôm nhau.
Ngày 14 tháng 4 năm 1865, khi Lincoln gục ngã dưới viên đạn của kẻ ám sát, Stanton đau đớn tột cùng. Robert Todd Lincoln, con trai trưởng của Lincoln, lúc ấy 21 tuổi, nhớ lại rằng nhiều ngày sau khi cha mình qua đời, mỗi sáng Stanton đều đến phòng ông, ngồi bên cạnh, lặng lẽ khóc mà không nói một lời.
Mọi nhà lãnh đạo đều phải chịu phê bình. Đôi khi, như trường hợp của Abraham Lincoln, một nhà lãnh đạo có thể biến kẻ chỉ trích thành bạn hữu. Nhưng đáng tiếc là điều đó không phải lúc nào cũng có thể xảy ra.
Những Kẻ Chỉ Trích Đức Giêsu
Đức Giêsu cũng luôn phải đối diện với những kẻ chỉ trích trong suốt sứ vụ công khai. Họ ghét Người vì nhiều lý do: ghen tị trước sự nổi tiếng, tức giận vì quyền năng Người chữa lành bệnh tật và mở mắt cho kẻ mù. Trong sự cay độc, họ nói: “Ông bị quỷ ám” (x. Ga 7,20). Ngày nay, những kẻ phê bình tục hóa có lẽ sẽ nói: “Ông bị điên và cần bị nhốt lại.”
Những kẻ chống đối Đức Giêsu không có lý do chính đáng để ghét Người. Tất cả đều xuất phát từ sự bất công, ích kỷ và tội lỗi. Họ ghét Người vì những việc lành Người làm và sứ điệp công chính Người loan báo. Chính Đức Giêsu đã nói:
“Ai ghét Thầy là ghét Cha Thầy. Nếu Thầy đã không làm giữa họ những việc không ai đã từng làm, thì họ đã chẳng mắc tội; nhưng nay họ đã thấy, và đã ghét cả Thầy lẫn Cha Thầy. Nhưng lời đã chép trong Lề Luật của họ phải được ứng nghiệm rằng: ‘Họ đã ghét Thầy vô cớ’” (Ga 15,23-25).
Tôi vẫn luôn tự hỏi: làm sao con người có thể chứng kiến những bằng chứng từ đời sống Đức Giêsu, quyền năng chữa lành, lòng thương xót đối với kẻ đau khổ, mà vẫn chống đối Người? Nhưng họ đã làm thế. Khi Đức Giêsu chữa lành người bại liệt bên hồ Bết-da-tha, các lãnh đạo tôn giáo không hề vui mừng. Thay vào đó, họ công kích Người vì chữa bệnh trong ngày Sabát. Thực tế, đó là một trong nhiều lần họ mưu toan giết Người (x. Ga 5,1-16).
Trong một ngày Sabát khác, Đức Giêsu chữa một người mù từ thuở mới sinh. Một số người Pharisêu lẩm bẩm: “Người này không thể là người của Thiên Chúa, vì ông không giữ ngày Sabát.” Họ than phiền rằng Đức Giêsu không tuân thủ những luật lệ vụ hình của họ. Nhưng một số người Pharisêu khác tự hỏi: “Một người tội lỗi làm sao có thể làm được những dấu lạ như thế?” Thế là giữa họ nảy sinh sự chia rẽ và tranh cãi.
Cuối cùng, lòng hận thù đã lấn át lý trí. Các lãnh đạo tôn giáo bắt Đức Giêsu và dẫn Người đến tổng trấn Philatô. Khi Philatô hỏi Người bị tố cáo điều gì, họ trả lời: “Nếu ông này không làm điều ác, thì chúng tôi đã chẳng nộp ông cho ngài” (Ga 18,30).
Thật lạ lùng khi kẻ thù của Đức Giêsu lại chẳng nêu ra được tội cụ thể nào! Và Philatô rõ ràng nhận thấy rằng họ đang vu cáo Người, nên đã đáp lại: “Các ngươi hãy đem ông ta đi mà xử theo luật các ngươi.” Philatô biết họ đang toan tính buộc người Rôma làm công việc nhơ bẩn thay cho họ, và ông không muốn nhúng tay.
Nhưng các lãnh đạo tôn giáo nghĩ rằng họ có quyền đòi hỏi điều họ muốn. Họ là giới quý tộc văn hóa tại Israel, và nếu họ nói Đức Giêsu đáng bị kết án, thì Philatô phải nghe theo. Họ quyền thế và ảnh hưởng đến nỗi chính Philatô—đại diện cho ách thống trị tàn bạo của Rôma—cũng phải e dè. Và rồi, ông đã chiều theo họ.
Kẻ thù của Đức Giêsu còn tiếp tục mưu toan tiêu diệt Kitô giáo nhiều năm sau cái chết và sự phục sinh của Người. Về cuối sách Công vụ, Giáo Hội sơ khai đã được thiết lập khắp miền Palestine, Tiểu Á, Hy Lạp và Macedonia. Thánh Phaolô, khi đến Rôma, đã gặp các lãnh đạo Do Thái tại đó để trình bày về Đức Giêsu.
Họ đồng ý lắng nghe, nhưng một số đã tỏ ra hoài nghi, nói: “Về phe này [Kitô giáo], chúng tôi biết rằng khắp nơi người ta đều chống đối.” (Cv 28,22). Thế là Phaolô giảng giải về Đức Giêsu dựa trên các ngôn sứ Cựu Ước, từ sáng đến tối. Sau cùng, có người tin, nhưng có kẻ vẫn ngoan cố không tin.
Tôi nghĩ rằng những kẻ không tin ấy chính là những người đã có sẵn định kiến từ trước. Họ giống như những kẻ đã từng lôi Đức Giêsu ra trước mặt Philatô. Họ đã ghét Người vô cớ.
Hầu hết những ai ở trong vị trí lãnh đạo lâu dài đều sẽ gặp những kẻ ghét mình vô cớ. Hầu hết các nhà lãnh đạo đều sẽ phải chịu những lời phê bình xuất phát từ ghen tị, đố kỵ và ác tâm. Học cách đối diện với những lời phê bình bất công chính là một trong những bài học quan trọng nhất mà một nhà lãnh đạo cần học.
Làm Thế Nào Để Đối Diện Với Chỉ Trích
Khi đọc lại tường thuật về đời sống của Chúa Giêsu, ta nhận thấy Người không bao giờ tỏ ra ngạc nhiên hay quá bận tâm trước những lời chỉ trích. Người không hề trở nên phòng thủ. Người không phàn nàn về sự bất công mà Người phải gánh chịu. Người cũng không tỏ ra sợ hãi trước những kẻ chống đối mình. Có lẽ bởi vì Người thấu hiểu sự gian ác trong lòng người, nên Người đơn giản chấp nhận những lời chỉ trích bất công như một thực tại tất yếu của đời sống.
Tôi phải thú nhận rằng bản thân mình chưa bao giờ quen với việc bị chỉ trích. Và tôi đoán rằng bạn cũng vậy. Trong tất cả các loại chỉ trích, đau đớn nhất chính là khi ta bị anh chị em Kitô hữu khác chỉ trích.
Một người bạn của tôi, một giáo dân Kitô hữu, đã từng dạy một lớp giáo lý người lớn đông đảo về sách Sáng Thế. Khi giải thích Sáng Thế 2:15, “Đức Chúa là Thiên Chúa đem con người đặt vào vườn Êđen, để con người canh tác và gìn giữ đất đai,” ông đã nói rằng Thiên Chúa đã ban cho nhân loại trách nhiệm làm quản lý tốt đối với trái đất, và chúng ta phải chăm sóc môi trường một cách nghiêm túc.
Một số người trong lớp cho rằng ông đã đem chính trị vào trong việc học Kinh Thánh, và họ tỏ ra bất bình. Đáng tiếc thay, những người ấy không nêu thẳng vấn đề ngay trong lớp, cũng không trực tiếp đối thoại với thầy. Thay vào đó, họ đâm sau lưng bằng cách phàn nàn và nói xấu.
Khi biết được những gì đã xảy ra, người bạn này nói với tôi: “Tôi có thể chấp nhận khi người ngoài Giáo Hội chỉ trích tôi. Nhưng thật đau lòng khi anh chị em trong Chúa Kitô lại làm thế— và còn đau hơn khi tôi phải nghe những lời ấy từ kẻ thứ ba.”
Vì Chúa Giêsu vừa là Thiên Chúa vừa là con người, và hoàn toàn vô tội, nên tất cả những lời chỉ trích Người phải chịu đều là bất công. Nhưng bạn và tôi, vốn yếu đuối và tội lỗi, chắc chắn sẽ nhận nhiều chỉ trích đúng đắn, mang tính xây dựng, và cần thiết để chúng ta được sửa dạy. Nhà đồng sáng lập đội Orlando Magic, Pat Williams, đã nhận xét: “Những nhà lãnh đạo khôn ngoan khao khát những lời phê bình xây dựng hơn là lời khen ngợi, vì phê bình thì dạy dỗ, còn khen ngợi thì không.”
Ông còn nói thêm rằng các nhà lãnh đạo cần có một chiến lược chủ động trong việc đón nhận sự chỉ trích:
“Hãy mời gọi mọi người đến trực tiếp với bạn để nói lên bất kỳ phàn nàn nào về cung cách lãnh đạo của bạn. Khi họ biết rằng họ có thể đến gặp bạn và bày tỏ lo lắng mà không sợ bị trả thù, họ sẽ không cần phải bàn tán sau lưng bạn nữa. Thậm chí họ còn sẽ ca ngợi bạn sau lưng vì sự cởi mở và dễ gần của bạn.”
Thánh Phaolô Tông đồ hiểu rõ nhu cầu của người lãnh đạo phải biết đón nhận sự phê bình xây dựng. Trong giai đoạn đầu sứ vụ, trước khi bắt đầu ba cuộc hành trình truyền giáo, Phaolô đã lên Giêrusalem với Barnaba và Titô để gặp các vị lãnh đạo Hội Thánh, và trình bày cho họ Tin Mừng mà ngài rao giảng cho dân ngoại, “để xem tôi có phải đã chạy, hay đang chạy, vô ích chăng” (Gl 2:2). Nói cách khác, Phaolô muốn Hội Thánh tại Giêrusalem lắng nghe và đánh giá lời rao giảng của ngài, để xác tín rằng mình không loan báo một Tin Mừng sai lạc.
Phaolô đã rao giảng rằng đức tin vào Chúa Giêsu Kitô giải thoát con người khỏi ách Lề Luật Môsê. Sứ điệp này hoàn toàn mới mẻ, đầy táo bạo, và gây vấp phạm cho Do Thái giáo mang tính luật lệ. Vì thế Phaolô muốn được Hội Thánh Giêrusalem xác nhận. Khi ngài trình bày, các vị lãnh đạo đã đồng thuận và không hề chỉ trích. Tin Mừng Phaolô rao giảng, vốn đến từ chính Đức Kitô, đã vượt qua sự kiểm chứng.
Sau đó, như ngài kể lại trong thư Galát 2, Thánh Phêrô (Kêpha) đến thăm cộng đoàn Antiôkia. Có một lần, ông đã lánh xa những tín hữu gốc dân ngoại và chỉ dùng bữa với các tín hữu gốc Do Thái. Phaolô đã đối diện trực tiếp và khiển trách Phêrô, cho rằng đó là hành vi giả hình, đi ngược lại với Tin Mừng. Phêrô, một nhà lãnh đạo khôn ngoan và khiêm nhường, đã đón nhận lời phê bình xây dựng này và sửa đổi hành vi của mình.
Dẫu Phaolô sẵn sàng tiếp nhận sự phê bình xây dựng, ngài lại phó mặc cho Thiên Chúa trước những chỉ trích bất công. Trong một thư khác, ngài viết: “Về phần tôi, tôi rất ít quan tâm đến việc anh em xét đoán tôi hay tòa án loài người nào xét xử tôi. Chính tôi, tôi cũng không tự xét xử mình nữa. Lương tâm tôi không cáo giác tôi điều gì, nhưng không vì thế mà tôi được nên công chính: Đấng xét xử tôi chính là Chúa” (1 Cr 4:3-4).
Phaolô không lo làm vừa lòng người khác, nhất là kẻ thù của ngài. Ngài chỉ tập trung làm đẹp lòng Chúa. Bởi vì phán quyết của Thiên Chúa là điều duy nhất quan trọng, Phaolô có thể gạt bỏ những lời chỉ trích và ý kiến phán xét của người đời. Đối với ngài, bị người đời phê phán chỉ là “một chuyện nhỏ mọn”, vì được Thiên Chúa chấp nhận mới là tất cả.
Làm Sao Đáp Lại Những Người Chỉ Trích Và Những Lời Chỉ Trích
Mọi nhà lãnh đạo đều phải đối diện với chỉ trích. Nhiều chỉ trích trong số đó bất công, độc ác, phá hoại, và thậm chí nặc danh. Thật khó biết phải đối phó ra sao. Có nên trả lời? Phản công? Bào chữa? Hay bỏ qua? Điều đó đòi hỏi rất nhiều khôn ngoan và trưởng thành thiêng liêng để có thể đáp lại những lời chỉ trích bất công theo cách của Chúa Giêsu.
Khi bị chỉ trích vì làm điều thiện vào ngày sa-bát, Chúa Giêsu đã bình tĩnh dùng lý luận và Kinh Thánh để trả lời. Khi bị chỉ trích vì các môn đệ Người ăn mà không rửa tay theo nghi thức, Người đã thẳng thắn gọi họ là kẻ giả hình, trưng dẫn Kinh Thánh để cho thấy họ đặt truyền thống nhân loại lên trên giới răn Thiên Chúa (Mc 7:1-23). Khi họ chất vấn quyền bính của Người, Người đáp lại bằng một câu hỏi: “Phép rửa của Gioan do Trời hay do người ta?”—biết rằng họ sẽ không dám trả lời thật vì sợ dân chúng (Lc 20:1-8).
Nhưng nhiều lần, Chúa Giêsu đã chọn sự im lặng. Khi bị điệu ra trước Philatô và bị cáo buộc là “xúi dân phản loạn, cấm nộp thuế cho Xêda, và tự xưng là Kitô, Vua,” Người đã không đáp lại. Người không biện hộ. Người không trả lời những cáo buộc ấy—mà Philatô hẳn cũng biết là sai và mâu thuẫn. Như lời ngôn sứ Isaia đã tiên báo:
“Bị ngược đãi, Người cam chịu nhục, chẳng mở miệng kêu ca; như chiên bị đem đi làm thịt, như cừu câm nín khi bị xén lông, Người chẳng hề mở miệng.” (Is 53:7)
Đôi khi, câu trả lời khôn ngoan nhất trước lời buộc tội sai lạc hay chỉ trích bất công chính là sự thinh lặng. Đừng hạ thấp mình bằng cách tranh luận. Hãy coi đó là điều không xứng đáng để ta bận tâm. Nhưng vào những lúc khác, tốt nhất là cần đưa ra lập luận và bằng chứng để làm sáng tỏ sự thật. Hãy cầu nguyện, xin Chúa ban khôn ngoan, và rồi đưa ra quyết định lãnh đạo về cách đáp lại những lời chỉ trích sai lạc ấy.
Còn đối với những lúc ta nhận được chỉ trích chính đáng và mang tính xây dựng thì sao? Khi có người đủ yêu thương để sửa sai ta vì lợi ích của chính ta? Tôi xin gợi ý một tiến trình ba bước để bạn biết đón nhận và chọn lọc những lời chỉ trích, nhờ đó có thể học hỏi và trưởng thành nhờ những lời góp ý lành mạnh mà Chúa gửi đến qua tha nhân.
Bước 1: Lắng nghe
Những ai thực hành phong cách lãnh đạo của Đức Giêsu là những người biết lắng nghe. Họ sẵn sàng lắng nghe điều người khác nói, cho dù điều ấy có đau lòng. Họ lắng nghe mà không ngắt lời, không tự vệ, không nổi giận, và không phản công. Những người phê bình chúng ta có thể đang nói cho ta điều mà ta cần nghe. Ngay cả khi lời phê bình là gay gắt, chúng ta vẫn có bổn phận, với tư cách là những nhà lãnh đạo theo gương Chúa Kitô, phải giữ thái độ bình tĩnh, làm chủ bản thân, cởi mở trong tư tưởng và quảng đại trong tâm hồn.
Owen Lovejoy là một mục sư thuộc Giáo hội Congregationalist, một nhà đấu tranh bãi nô hàng đầu, người sau này trở thành dân biểu Cộng hòa của bang Illinois và là bạn thân, đồng minh của Tổng thống Abraham Lincoln. Một lần, Tổng thống Lincoln nhờ dân biểu Lovejoy chuyển một tờ ghi chú cho Bộ trưởng Chiến tranh Edwin Stanton. Lúc ấy, Stanton và Lincoln đang có quan hệ tốt đẹp. Lý do Lincoln gửi ghi chú chỉ đơn giản là để ông khỏi phải đi bộ sang Bộ Chiến tranh. Nội dung ghi chú liên quan đến một vấn đề thường nhật trong thời chiến: điều chỉnh vị trí các trung đoàn Liên bang.
Lovejoy mang ghi chú đến cho Stanton. Sau khi đọc xong, Stanton ngẩng đầu lên với vẻ khó
chịu.
“Có phải Lincoln đã đưa cho ông một lệnh như thế không?”
“Vâng, thưa ngài,” Lovejoy đáp.
“Vậy thì ông ta đúng là một kẻ ngu xuẩn.”
“Ý ngài muốn nói tổng thống là kẻ ngu xuẩn sao?”
“Đúng vậy, thưa ông, nếu quả thật ông ta đã đưa ra một lệnh như thế.”
Lovejoy quay trở lại Nhà Trắng và kể cho tổng thống biết những gì Stanton đã nói.
“Stanton có nói tôi là kẻ ngu xuẩn sao?” Lincoln hỏi.
“Vâng, thưa ngài, và ông ấy còn lặp lại nữa.”
Lincoln suy nghĩ giây lát. Rồi ông đứng lên và nói:
“Nếu Stanton đã nói tôi là kẻ ngu xuẩn, thì chắc tôi phải là vậy, bởi ông ấy hầu như lúc nào cũng
đúng, và thường nói ra đúng điều ông ấy nghĩ. Tôi sẽ đi gặp ông ấy.”
Abraham Lincoln là một nhà lãnh đạo khôn ngoan, chân thực, người thích lắng nghe và học hỏi hơn là tự vệ. Nếu anh chị em muốn học hỏi và lớn lên từ những lời phê bình mình nhận được, thì hãy trở thành một nhà lãnh đạo biết lắng nghe.
Bước 2: Tự hỏi mình: “Điều đó có đúng không?”
Đón nhận lời phê bình là điều khó khăn. Để có thể hạ thấp sự tự vệ và lắng nghe người khác chỉ trích mình mà không ngắt lời, không tự bào chữa, quả thực cần một sự trưởng thành lớn lao. Còn khó hơn nữa khi phải suy xét cách khách quan về lời phê bình ấy và tự hỏi: “Điều đó có đúng không?”
Trong bản tính sa ngã, chúng ta thường kháng cự trước sự thật khó chịu. Vì thế, phản ứng phổ biến nhất trước phê bình là phủ nhận, thậm chí phản công. Ta không muốn nghĩ đến khả năng rằng mình đã sai. Với một số người, chỉ ý nghĩ phải thú nhận “Tôi đã sai” cũng là điều hầu như không thể chịu nổi.
Nhưng ta chỉ có thể biết một lời phê bình là chính đáng khi ta thành tâm xét lại lương tâm, cầu xin Chúa Thánh Thần mặc khải sự thật, và khẩn cầu ơn can đảm để sống theo sự thật. Khi phân định lời phê bình, thật hữu ích khi tìm đến một vài người bạn thân tín để xin họ góp ý. Hãy nói với họ:
“Tôi đã nhận được lời phê bình rằng tôi làm điều này điều kia. Tôi không nhận ra mình có làm vậy, và tôi đang trăn trở xem liệu đây có phải là một lãnh vực tôi cần thay đổi không. Anh/chị biết rõ tôi, đã quan sát đời sống tôi. Anh/chị có nghĩ lời phê bình ấy là chính đáng không?”
Nếu sau khi phân tích khách quan, chúng ta kết luận rằng lời phê bình ấy không đúng chỗ, thì bước tiếp theo là cầu xin Thiên Chúa ban ơn chịu đựng và đứng vững trước sự chỉ trích bất công. Việc ai đó chỉ trích sai lầm không làm cho người ấy trở thành kẻ thù của ta. Ngay cả bạn bè cũng có thể hiểu lầm ta.
Điều này có thể đặc biệt đau đớn khi ta cảm thấy bị phê bình bất công bởi một người bạn. Chúng ta vốn khao khát được yêu mến và chấp nhận, nhất là bởi những người thân cận. Nhưng đôi khi, chính những người ta yêu thương và tin tưởng lại khiến ta thấy bị tấn công. Tất cả những gì ta có thể làm là cầu xin sự khôn ngoan, tìm kiếm hòa bình nếu có thể (x. Rm 12,18), và nài xin Thiên Chúa ban sức mạnh để tiếp tục yêu thương và tha thứ cho người đã chỉ trích ta.
Sau cùng, thật hữu ích khi nhớ lại lời của thánh Phaolô Tông đồ:
“Chính Chúa mới là Đấng xét xử tôi” (1 Cr 4,4b). Nếu chúng ta xác tín rằng mình đã đặt Thiên Chúa lên hàng đầu trong đời sống, thì chúng ta sẽ không phải phí thời gian quý báu để tự bào chữa trước những lời phê bình của người đời.
Bước 3: Chuẩn bị cho những lời phê bình trong tương lai
Một nhà lãnh đạo luôn phải trông đợi những lời phê bình. Có những lời phê bình công bằng và chính xác, nhưng cũng có những lời không như vậy. Một nhà lãnh đạo không bao giờ được phép bị bất ngờ trước phê bình. Những nhà lãnh đạo chân thực, theo gương Chúa Kitô, luôn sẵn sàng đáp lại những người chỉ trích mình theo một cách thế thánh thiện. Nếu chúng ta bước đi mỗi ngày với sự chuẩn bị tinh thần rằng phê bình là một phần thực tế trong đời sống lãnh đạo, được củng cố bởi đức tin nơi Thiên Chúa và quyết tâm không để mình bị chùn bước hay suy sụp vì nó, thì chúng ta sẽ có thể đón nhận phê bình với sự tự tin và ân sủng.
Tôi biết có một phụ nữ trong giới kinh doanh đã tự trang bị cho mình cách đối diện với phê bình. Bà giữ một lời kinh được in sẵn đặt trên bàn làm việc, bên cạnh điện thoại và máy vi tính, để bất cứ khi nào nhận được một cú điện thoại giận dữ hay một email chỉ trích, bà đều có thể đọc lời kinh này:
“Lạy Chúa Giêsu, Chúa đã cảm nghiệm sự thù ghét của tội nhân, và Chúa đã yêu thương họ. Xin giúp con yêu thương những người chỉ trích con bằng tình yêu vô điều kiện của Chúa.”
Thiểu số ồn ào
Người ta dễ quên rằng những kẻ chỉ trích gay gắt nhất của ta thường chỉ là một thiểu số rất nhỏ trong cộng đoàn mà ta phục vụ. Các nhà phê bình thường lớn tiếng và khăng khăng đến độ tiếng nói của họ lấn át mọi sự khích lệ và xác nhận mà ta nhận được từ đại đa số những người mà ta có ảnh hưởng.
Tôi đã nghe về một giáo xứ đã tồn tại gần một thế kỷ nhưng không hề có sự tăng trưởng đáng kể nào trong suốt thời gian ấy. Rồi một cha xứ mới đến và bắt đầu thực hiện những thay đổi. Những thay đổi này đã mang lại sự phát triển mạnh mẽ cho giáo xứ, đến mức phải bổ sung thêm một thánh lễ Chúa nhật buổi sáng và xây thêm các phòng học giáo lý.
Giữa bầu khí hứng khởi và những đổi thay ấy, các nhà phê bình và phản đối bắt đầu xuất hiện.
Họ không đến trực tiếp với cha xứ để đưa ra phê bình, nhưng cha thường nghe thấy lời chỉ trích
khi có người đến và nói:
“Người ta đang bàn tán rằng...” Giáo xứ đang lớn mạnh và phát triển, nhưng vị cha xứ trở nên
chán nản khi liên tục nghe những lời xì xào than phiền.
Theo thời gian, những lời phàn nàn ngày càng nhiều, ngày càng cay độc, và ngày càng mang tính hủy hoại cá nhân. Sự chán nản và hoài nghi bản thân của cha ngày một lớn. Cha mất ngủ. Cha đi tới đi lui trong phòng làm việc, nghĩ ngợi xem có nên từ nhiệm không. Cha không còn tập trung được vào những điều tốt đẹp mình đang làm. Sự chỉ trích chiếm hết tâm trí cha. Cha bắt đầu nghĩ rằng toàn thể giáo xứ đang chống lại mình.
Một ngày kia, cha quỳ xuống trong đau khổ và cầu nguyện xin sự sáng suốt và hiểu biết. Cha xin Thiên Chúa mặc khải cho mình sự thật để biết phải làm gì. Sau này, cha thuật lại điều đã xảy ra:
“Gần như ngay lập tức, tôi nhận ra rằng những lời phàn nàn đã lấp đầy tâm trí tôi chỉ xuất phát từ bốn gia đình—cái cơ cấu quyền lực đã thống trị giáo xứ từ trước khi tôi đến làm cha xứ. Trong một khoảnh khắc, tôi hiểu rằng họ không muốn bất kỳ sự thay đổi nào, vì bất kỳ lý do nào. Tôi cũng nhận ra rằng bốn gia đình ấy chỉ đại diện cho một thiểu số rất nhỏ trong toàn giáo xứ.”
Từ giây phút ấy, cha có thể gạt bỏ những lời phàn nàn và chỉ trích đến với mình, để tập trung vào sứ vụ đầy hứng khởi đang diễn ra trong giáo xứ. Sau cùng, cha đã có thể lắng nghe những lời khích lệ từ đa số giáo dân. Khi cầu xin Thiên Chúa mặc khải sự thật, cha mới hiểu ra rằng mình chẳng có gì phải sợ hãi trước một thiểu số ồn ào.
Trong khi điều quan trọng là phải lắng nghe tiếng nói của những người phê bình ta, để chúng ta có thể học hỏi và lớn lên từ những phê bình chính đáng, thì chúng ta cũng cần có một cái nhìn thánh thiện và quân bình. Chúng ta phải phân biệt được đâu là thiểu số ồn ào và đâu là đa số thinh lặng—và cần nhớ rằng điều quan trọng chính là đa số.
Đức Giêsu có cái nhìn ấy. Ngài không ảo tưởng về những kẻ chỉ trích và bách hại mình, nhưng
Ngài không để một thiểu số ồn ào làm Ngài chệch hướng khỏi sứ mạng. Như Tin Mừng Mác-cô
thuật lại:
“Và đám đông dân chúng lắng nghe Người cách hân hoan” (Mc 12,37). Những kẻ chống đối
Đức Giêsu chỉ là một thiểu số ồn ào chống lại sự thay đổi. Đức Giêsu đe dọa quyền lực mục nát
của họ, và sự được dân chúng yêu mến khiến họ ghen tị và mưu toan sát hại Ngài.
Khi chúng ta, với tư cách là những nhà lãnh đạo, đối diện với phê bình, điều quan trọng là phải tự hỏi mình vài câu để khỏi bị rơi vào xáo trộn tình cảm chỉ vì một thiểu số nhỏ nhưng ồn ào:
-
Nguồn gốc của lời phê bình này là gì?
-
Có phải tất cả đều chống lại tôi? Hay chỉ một vài kẻ bất mãn?
-
Trong lời phê bình này có sự thật nào không—dù chỉ là một chút?
Tôi cần học được gì (nếu có) từ lời phê bình này?
Một trong những vai trò then chốt của nhà lãnh đạo là trở thành tác nhân của sự thay đổi. Trong bất kỳ tổ chức, nhóm, hay giáo xứ nào, cũng sẽ có những người chống lại thay đổi. Vậy nên nếu một nhà lãnh đạo tìm cách đem đến điều gì mới—một tầm nhìn mới, một mục tiêu mới, những quy tắc mới, hay một phương pháp mới—thì tất yếu sẽ gặp phải sự chống đối từ những thành phần bảo thủ. Họ sẽ chỉ trích—có khi trực tiếp đối diện, nhưng thường là sau lưng.
Với tư cách là lãnh đạo của tất cả mọi người trong cộng đoàn, anh chị em có bổn phận quan tâm đến cả những người phê bình cũng như những người ủng hộ. Hãy cố gắng đưa họ vào trong tầm nhìn lạc quan của mình về tương lai. Hãy làm những gì có thể để xua tan nỗi sợ hãi và dè dặt của họ. Nếu có thể, hãy tìm cách lôi kéo họ tham gia vào những ý tưởng, chương trình, và kế hoạch mới cho tương lai. Có thể anh chị em sẽ làm giảm bớt được phần nào lời phê bình.
Nhưng sau cùng, một nhà lãnh đạo thì phải lãnh đạo. Khi chúng ta bước theo phong cách lãnh đạo của Đức Giêsu, ta thấy rằng nhà lãnh đạo phải tiếp tục tiến bước, cho dù phải đối diện với hàng loạt phê bình và chống đối. Đức Giêsu đã phải đối mặt với sự thù ghét khốc liệt đến mức muốn giết hại trong hành trình lãnh đạo của Ngài, nhưng Ngài không để bất cứ điều gì ngăn cản Ngài hoàn tất cách khải hoàn sứ mạng được trao phó.
Có lần, khi tôi đang gặp phải sự chống đối trong vai trò lãnh đạo, một người bạn đã nói với tôi:
“Có lẽ anh nên cảm thấy vui khi người ta chỉ trích anh.”
“Vui ư?” Tôi không hiểu điều đó có nghĩa gì, nên hỏi anh ta tại sao tôi lại phải vui khi bị chỉ
trích.
“Anh nhớ lời Chúa Giêsu nói chứ,” anh trả lời.
“‘Phúc cho anh em khi vì Thầy mà người ta sỉ vả, bách hại và vu khống đủ điều xấu xa. Anh em
hãy vui mừng hớn hở, vì phần thưởng dành cho anh em ở trên trời thật lớn lao; vì các ngôn sứ đi
trước anh em cũng đã bị bách hại như thế’” (Mt 5,11-12).
Đó là một trong những lời khuyên lãnh đạo tốt nhất mà tôi từng nhận được.
Ngay trước khi Đức Giêsu bước lên thập giá, Ngài đã nói với các môn đệ rằng:
“Anh em hãy nhớ lời Thầy đã nói với anh em: Tôi tớ không trọng hơn chủ. Nếu họ đã bắt bớ
Thầy, họ cũng sẽ bắt bớ anh em. Nếu họ đã tuân giữ lời Thầy, họ cũng sẽ tuân giữ lời anh em”
(Ga 15,20).
Đây là lời khuyên lãnh đạo khôn ngoan phát xuất từ chính miệng của Thầy Chí Thánh.
Khi anh chị em bước theo phong cách lãnh đạo của Đức Giêsu, hãy chuẩn bị đón nhận những lời chỉ trích và sự chống đối, giống như chính Ngài đã từng chịu. Khi bị phê bình, hãy lắng nghe. Nếu lời ấy đúng, hãy học hỏi từ đó. Còn nếu bất công, hãy nhớ nguyên tắc lãnh đạo này:
NGUYÊN TẮC 15
Chỉ có một nhà lãnh đạo duy nhất là hoàn hảo, nhưng Người cũng đã bị chỉ trích.

%20(1).png)
.png)



0 Comments